Nhân vật

Tổ sư Minh Đăng Quang chiếc bóng bên trời trăng khuyết

nguoiphattu.com - Cho đến tận hôm nay. Tròn sau mươi năm. Kể từ buổi chiều ngày 30 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1954), tại Tịnh xá Ngọc Quang (Sa Đéc), dưới tán cây bả đậu, Tổ Sư Minh Đăng Quang nói lời từ tạ chúng đệ tử để vào “núi lửa” tỉnh tu; ngày Vị Tôn Sư khả kính của Phật giáo Khất Sĩ nói riêng và vị danh tăng của Phật giáo Việt nam nói chung, đã hoàn toàn vắng bóng tôn nhan, để lại con lộ hóa đạo thênh thang cùng với sự phát triển hanh thông theo ước nguyện của người mà chúng đệ tử luôn hảnh diện và luôn đau đáu dõi trông hướng trời vô định, vẫn đinh ninh một ngày nào đó vị Tổ sư sẽ về lại với mình.

Tổ sư Minh Đăng Quang sinh ra (năm Quý Hợi 1923) và lớn lên trong giai đoạn đất nước nói chung và Nam Kỳ Lục Tỉnh nói riêng, công cuộc chiếm cứ, thực hiện  kế sách  bảo hộ lâu dài của thực dân Pháp đã  đi vào  thế ổn định, và đang tự tin cho bước  phát triển tiếp theo tưởng chừng mạnh mẻ ấy. Bởi lẽ trước đó  hai năm ( năm Canh Thân 1920) quan toàn quyền Maurice Long  đã thành lập Hội Đồng Thuộc Địa Nam Kỳ, còn được gọi là Hội Đồng Quản Hạt (Conseil Colonial) mà cũng là nơi  tranh nhau quyền  lợi giữa các nhóm  làm ăn người Hoa, người Pháp cũng như  các  ông tư sản của chính vùng đất Nam Kỳ. Thật ra, trên bình diện  chung, thời điểm này được xem là giai đoạn chuẩn bị  tuột dốc, để  không lâu sau đó, cao trào tự chủ, độc lập dân tộc khắp nơi trên  thế giới đã thổi làn gió tích cực đến nhiều giới  sĩ phu, nông dân yêu nước Việt nam mạnh mẻ và rất quyết liệt, lám lung lay chế độ thực dân mà  Pháp  đã  dày công  củng cố nhiều mặt và nuôi giấc mộng  chiếm ngự lâu dài.

 
 Chư tôn đức tham dự Hội thảo: Hệ Phái Khất Sĩ Quá Trình Hình Thành Phát Triển Và Hội Nhập.

Đọc lại những trang sử ố vàng  theo thời gian trong giai đoạn  này, chúng ta không khó khăn lằm bắt gặp hình ảnh Phật giáo nằm  khép sâu trong mớ tro bụi  ấy rất cũ kỷ, rất cổ xưa và nói chính xác hơn không có sự sống. Phải đợi gần mười năm sau đó nữa, chư tôn đức tài ba mới dấy động thành công phong trào chấn hưng Phật giáo khằp  ba kỳ  rực rở. Điều rất dễ nhận ra lý do tại sao  là : khi đất nước  nguy vong , đạo pháp cũng không an ổn, có những tăng ni Phật tử, phải “cởi  áo cà sa khoát chiến bào” lên đường  cùng đoàn quân chống ngoại xâm; Và tất nhiên chúng ta không thể quên còn có lý do to lớn nhất: thực dân Pháp đã thành công  trong việc  đẩy lùi  Phật giáo vào chôn thâm sâu cô tịch, biến giới tăng sĩ thành những ông thầy chùa làng ít học và phật tử có chăng chỉ là thành phần  có việc ma chay phài tống táng, mới đến chùa cúng bái. Những dòng chữ lịch sử u buồn này được  nhà viết sử Vân Thanh mô tả như sau “Phật giáo thời bấy giờ cùng chung số phận ấy, mất chủ quyền dân tộc, giáo quyền đạo Phật bị chà đạp trắng trợn hơn bao giờ hết (các sư phài nộp thuế thân, phải đi lính cho  thực dânPhápchẵng được tự do truyền đạo như bên Thiên Chúa..v…vv..)Tình trạng khồn đốn của Phật giáo buổi này chẵng khác nào đóng cửa để chờ chết vì chẵng còn hệ thống(đoàn thể)tổi chức như trước kia, nguyên do thực dân Pháp cố tình cắt đứt sự tổ hợp của Phật giáo buổi này, chúng sợ dân ta trá hình là Phật giáo để rồi chống đối chúng, nên mọi hình thức của Phật giáo bị lám tê liệt cả.Trong tăng giới thời này chẵng biết làm gì hơn trước sự dòm ngó theo dõi của thực dân, nên sự sống hết sức rời rạc vô tổ chứcv”(trích trang 189-190, LKPGS, giấy phép số 929/72/PTUVK SALP/TP 27.6.1974 ). Đó cũng được coi  là hình ảnh tiêu biều nhất thời mất nước của Phật giáo trong mọi thời kỳ.

                      Đời gặp thuở can qua chinh chiến

                      Sống những ngày nguy biến kinh tâm

                     Kéo dài thê thảm nhiều năm

                     Đầy trời sát khí cõi âm hiện hình!

                     Kẻ thác đi hồn linh tức tưởi

                     Người sống còn rũ rượi sầu thương

                     Kể đâu hết khúc đoạn trường

                    Bàn tay ác liệt vô thường gây nên?

                                             (Trích Kinh Nguyện Hòa Bình VII)

Chiến tranh, loạn lạc, đói kém là một trong những động tố xô đẩy  tinh thần con người ta  ngả nghiêng lắm bận, nhưng cũng như tâm tư  ông  Tộc Đầu Sư (đạo Cao Đài) Nguyễn Văn Ngợi (1900-1988) ở miệt Tam Bình,Vĩnh Long, cùng  quê hương chào đời của Tổ Sư Minh Đăng Quang; tăng ni Phật tử thời bấy giờ cũng cùng chung tâm nguyên thiết tha:

                        Chẵng bỏ lời thế nơi Phật cảnh

                        Không quên tiếng nguyện chốn non xanh.

Có thể nói, ở Lục Tỉnh Nam Kỳ thời bấy giờ, ngoại trừ các tín ngưỡng  mang  tính chất thuần túy tôn giào, còn lại không ít các tổ chức chính trị của nhiều xu hướng, thành phần khác nhau, đua nhau ra đời nhưng  trước tiên đều trang bị vỏ bọc hình thái một tín ngưỡng; đặc biệt càng huyển bí càng dễ thu phục quần chúng, vì rất phù hợp với đa số  người  bình dân và  bộ phận sống trong sự u uất, bế tắt trước nạn đao binh  do thực dân Pháp gây ra; từ đó, dần dà biến thành lực lượng  hậu thuẩn cho quan điểm đấu tranh của mình.

Với Phật giáo, tinh thần nhập thế rầt rỏ ràng, nếu không thể chuyên tâm tu hạnh thì dũng cảm  lên đường gia nhập hàng ngũ chống giặc, không hề phạm phải một giới luật chi. Vì thế trong chiều dài lịch sử hòa mình cùng dân tộc, Phật giáo vẫn đứng trụ vững ở một nơi cao nhất trong lòng dân tộc, chưa hề có một tỷ vết hoen ố trong tinh thần chống ngoại xâm.

Những Bửu Sơn Kỳ Hương ( Phật Thầy Tây An Đoàn Minh Huyên (1807- 1856); TứÂn Hiếu Nghĩa ( Bồn sư Ngô Lợi (?-1880). Trong  giới cư sỉ thì có các tổ chức như Tịnh Độ Cư Sỉ Phật Hội ( cư sỉ Nguyễn văn Bồng (1886-1958); Ngũ Minh Chi Đạo (Đạo Minh Sư do các cư sỉ Minh Sư, Minh Lý, Minh Đường, Minh Thiện, Minh Tấn) .v…v…Đó là những chứng minh tinh thần Phật giáo biết phân thân đi vào  từng  ngỏ vắng trần đời để trụ vững và tồn tại.

Còn có  Phật giáo Hòa Hảo là một  tôn giáo chính đáng dựa vào  nền tảng Phật Đà nhưng có một  lối tư duy độc lập, rẻ hướng song hành cùng  các tông phái, tồ chức Phật giáo thời bấy giờ trên con đường phát triển và hóa đạo. Và Phật giáo Hòa Hảo từ nền tảng khế lý, khế cơ của mỉnh đã tỏ ra rất phù hợp với đa số cư dân Nam Kỳ Lục Tỉnh, gặt hái được những thành tựu đáng kể.

 
 Tác giả và bài tham luận trong Hội thảo. 

Khi đức Huỳnh Phú Sổ khai sáng nền đạo Phật giáo Hòa Hảo, (năm Kỷ Mão 1939), thì  Tổ Sư Minh Đăng Quang trong độ tuổi trăng tròn và đang nuôi chí xuất trần nơi xứ Cao Miên (Campuchea).

                     Thiếu niên ngày nọ lìa nhà

                     Vượt biên giới Việt-Miên xa dặm ngàn.

                     “Lên non tìm động hoa vàng…”

                     Tầm sư học đạo chốn Nam Vang thành…

                                           (Trích Thi Hóa-nhà thơ Trụ Vũ)

Như vậy, những Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật Giáo Hòa Hảo phần nào cũng có  ý nghĩa tác động  ban đầu  trong ý chí tầm đạo của  Tổ sư Minh Đăng Quang, để  sau này, khi hình thành nên mối đạo, trở nên  một  tông phái Phật giáo bản xứ, Phật giáo Khất Sĩ  đã vận dụng thành công  tư tưởng Phật Đà trong các  nguồn  Kinh Luật Luận của cả Bắc và Nam Tông, tạo  nên  sắc thái riêng biêt mà không xa rời  ngôi nhà chung Phật học với phương châm : NỐI TRUYỀN THICH CA CHÁNH PHÁP.  

                      Từ Bi là gốc Như Lai

                      Cảm thương thân phận những ai đọa đày

                                             (Trich Thi Hóa đã dẫn)

Nếu như chúng ta trân trọng, thán phục khai sáng của đức Huỳnh Phú Sổ, đã chắt lọc khôn khéo tư tưởng Phật học, hình thành nên  lối hành đạo và hóa đạo độc lập, mang một luồng gió mới đến với  mọi người bao nhiêu thì càng thêm kính phục bấy nhiêu quá trình tu học và thành lập hệ phái Khất Sĩ của Tổ Sư Minh Đăng Quang. Sự hình thành và tồn tại, luôn phát triển của hệ phái Phật giáo đặc biệt này, đã nói lên được giá trị đích thực cũng như kết quả đúng theo tâm nguyện khi xưa kia Tổ Sư Minh Đăng Quang đã mở đường khai lối. 

Phật giáo Khất Sĩ được khai sinh trong bối cảnh đất nước đang hồi nghiêng ngửa như thế, cho nên Tổ Sư Minh Đăng Quang luôn thao thức về sự bình đẳng trong tha nhơn, sựbình an trong cưộc sống của dân tộc mình, từ đó mới có thể nghỉ đến bước phát triển tiếp theo. Vì vậy, trong bộ Chơn Lý, phần gần cuối chúng ta sẽ bắt gặp hệ tư tưởng  Hòa Bình bằng sáu phần khúc giải rất thâm sâu. Như đọạn đầu trích dẩn bài kinh Nguyện Hòa Bình VII trên. Ở đó nói lên khái niệm Hòa Bình trong phạm trù nghịch chiến tranh, tác nhân của phần lớn khổ đau mang tính chất cộng nghiệp của một dân tộc, một địa phương hay một nhóm xã hội. Những phần kế tiềp là Hòa Bình trong từng công hạnh tu tập mỗi thành tố Khất Sỉ, trong giao tiếp với tha nhân. Trong đó đặc biệt còn nêu cao vai trò gắn kết giữa gia đình và xã hội chung quanh.

Cõi bình đẳng về sắc thân không ai hơn kém, chỉ dùng đức hạnh làm cây thườc, để đo trình độ thấp cao. Trong đạo cả thày sự sống như nhau, một tiếng Khất Sĩ như nhau. Cõi không hình phạt, không quyền, không trị, chì có một sự dạy, mà tất cả được yên.

Giữa cõi đời chết khổ, Khất Sĩ là chật nhựa sống, gần liền các khối chia rẻ riêng tư. Khất sĩ là con đàng chơn lý  võ trụ, đúng theo trung đạo ánh sáng, không thiên về một bên lề mé, Khất sĩ tượng trưng giáo lý đại đồng.

                             Cái sống là đang sống chung,

                             Cái chết là đang học chung

                             Cái linh là đang tu chung.

                                              (Trích Hòa Bính-Đoàn Du Tăng-Bình Đẳng Vô Trị)

                           Dựa vào  tiêu chí chư Tổ sư  từ ngàn xưa, trong tinh thần :

                              Nhất bán thiên gia phạn

                              Cô thân vạn lý du

                              Dục cùng sanh tử lộ

                              Khất hóa độ xuân thu.

Phật giáo Khất Sĩ cũng tuân thủ bốn tiêu chí  chặt chẻ, rất đáng kính trọng, nhưng cũng rất cởi mở :

-         Người tu khất thục chỉ ăn  đồ xin mà thôi, nhưng ngày hội, thuyết pháp giới bổn thì được ăn ở chùa.

-          Người tu khất thực chỉ lượm những vải bỏ mà khâu lại thành áo, nhưng có ai cúng vải, đồ cũ thì được nhận.

-         Nguời tu khất thực chỉ nghỉ dưới cội cây, nhưng có ai cúnlều, am nhỏ bằng lá một cửa thì được ở.

-         Người tu khất thực chỉ dùng phân uế của bò mà làm thuốc trong khi đau, nhưng có cúng thuốc đường dầu thì được dùng.

Với tư tưởng, chủ trương đứng đắn, Phật giáo Khất Sĩ đã nhanh chóng được  nhiều tầng lớp tiếp nhận, chung tay vun bồi nền đạo, Sau ba năm khai sáng, Tổ sư Minh Đăng Quang  mới tiếp nhận người đệ tử đầu tiên là sư Từ Huệ, và một năm sau đó( năm Mậu Tý-1948), Phật giáo Khất Sĩ đã có mặt và phát triển tại Sài gòn.

                         Sài gòn hoa lệ từ xưa

                         Trăng phơi cánh mộng, gió đưa điệu đàng

                         Một ngày kia, dưới nắng vàng

                         Bổng trang nghiêm hiệnj một đoàn du tăng

                         Dân thành thị những băn khoăn:

                         Họ là ai? Xin thưa rằng: Họ đây

                         Là môn đệ của Đức Thầy

                         Minh Đăng Quang- chiếu tự rày mười phương

                                                   (Trích Thi Hóa của nhà thơ Trụ Vũ)

Từ đây Phật Giáo Khất Sĩ  đã hòa mình vào vận mệnh chung của  Đạo Pháp, làm sáng đẹp thêm ngôi nhà chung Phật Giáo Việt Nam.

    THAY LỜI KẾT

Cho đến tận hôm nay. Tròn sau mươi năm. Kể từ buổi chiều ngày 30 tháng Giêng năm Giáp Ngọ (1954), tại Tịnh xá Ngọc Quang (Sa Đéc), dưới tán cây bả đậu, Tổ Sư Minh Đăng Quang nói lời từ tạ chúng đệ tử để vào “núi lửa” tỉnh tu; ngày Vị Tôn Sư  khả kính của Phật giáo Khất Sĩ nói riêng và vị danh tăng của Phật giáo Việt nam nói chung, đã hoàn toàn vắng bóng  tôn nhan, để lại con lộ hóa đạo thênh thang cùng với sự phát triển  hanh thông  theo ước nguyện của người  mà chúng đệ tử  luôn hảnh diện và luôn đau đáu dõi trông hướng trời vô định, vẫn đinh ninh một ngày nào đó vị Tổ sư  sẽ về lại với  mình. Để vầng trăng thanh được tròn vạnh giữa đêm rằm dân tộc, ấm cúng  bao mối đạo tình mà ngày xưa lao nhọc xả thân tìm cầu mới có được; và  cũng để những dòng  sử liệu sau cùng về  tiểu sử đời Ngài lẫn  Đạo Phật Khất Sĩ không còn phải dùng đến cụm từ : NGÀY ĐỨC TÔN SƯ VẮNG BÓNG. Ngày đó, cùng với  cụm từ này, tuy được cho là “Kỷ Niệm” nhưng thật sự đó chính là ngày giỗ kỵ tạm ước mà  chúng đệ tử  phài đành lòng ngậm ngùi  tưởng nhớ.

                              Năm Giáp Ngọ

                              Đầu tháng hai,

                   Vĩnh Long hoa nở đón người vân du

                          Khi qua thuyền tới Cần Thơ

                   Bỗng đâu nhận được “lệnh” từ cấp trên

                  ,       Một xe vào cõi “U huyền”,

                   Ai hay địa ngục giữa miền dương gian

                         Tuồng đời hợp hợp tan tan

                   Ngắm tranh vân cẩu đôi hàng lệ sa

                        Đêm xuân tủi bóng trăng tà

                   Đêm thu tủi ngọn đèn hoa vơi dầu.

                        Bây giờ Phượng ở nơi đâu?

                   Bóng chim tăm cá biển sâu sông dài

                       Đã đành thường trụ Như Lai

                   Đã đành pháp tánh ở ngoài sắc không

                       Đã đành gương chiếu hoa lồng

                  Đã đành đành vậy, mà lòng…vẫn đau….

                                          (Trích Thi Hóa của nhà thơ trụ Vũ)

DƯƠNG KINH THÀNH

                                                              Trung Tâm Nghiên cứu Phật Giáo Việt nam

                                                         Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam

*Bài tham luận Hội Thảo “Hệ phái Khất sĩ: Quá trình hình thành, phát triển và hội nhập”

Lưu ý : Nguoiphattu.com sẽ biên tập ý kiến của quý vị trước khi xuất bản. Người Phật tử hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và sẽ không đăng những ý kiến cực đoan. Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo sẽ không được đăng. Cám ơn sự đóng góp và quan tâm của quý vị.
Xem tin tức theo ngày:

Tin tức liên quan