Luận đàm - Giảng kinh

Đức Phật dạy vị Tỳ Kheo thích sống một mình như thế nào?

nguoiphattu.com - Đây là những điều tôi nghe hồi Phật ở nước Xá Vệ, tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà. Lúc đó có một vị khất sĩ tên là Thượng Tọa chỉ ưa ở sống một mình một chỗ. Vị này thường ca ngợi hạnh sống một mình, đi khất thực một mình, thọ trai xong đi về một mình và ngồi thiền một mình.

Kinh vị thượng tọa - Là Kinh số 1071, thuộc quyển 38, Tạp A Hàm. Kinh Phật dạy về cách các vị Tỳ Khưu sống một mình thật sự mầu nhiệm. Bản kinh được dịch từ nguồn tư liệu Đại tạng Kinh Hán văn CBETA

ty_kheo_song_mot_minh.jpg

http://buddhaspace.org/agama/38.html-hoặcđường link http://tripitaka.cbeta.org/ko/T02n0099_038

如是我聞:一時,佛住舍衛國祇樹給孤獨園。時,有比丘名曰 上 坐,獨住一處,亦常讚歎獨一住者,獨行乞食,食已,獨還,獨坐禪思。

Như thị ngã văn, nhất thời Phật trụ Xá Vệ quốc kì thụ cấp cô độc viên, thời, hữu tỉ  khâu danh viết thượng tọa, độc trụ nhất xứ, diệc thường tán thán độc nhất trụ giả, độc hành khất thực, thực dĩ, độc hoàn,  độc tọa thiền tư.

Đây là những điều tôi nghe hồi Phật ở nước Xá Vệ, tại tu viện Cấp Cô Độc trong vườn cây Kỳ Đà. Lúc đó có một vị khất sĩ tên là Thượng Tọa chỉ ưa ở sống một mình một chỗ. Vị này thường ca ngợi hạnh sống một mình, đi khất thực một mình, thọ trai xong đi về một mình và ngồi thiền một mình.

I heard these words of the Buddha one time when the Lord was staying at the monastery in the Jeta Grove of Shravasti. At that time there was a monk named Elder, who always preferred to be alone. Whenever he could, he praised the practice of living alone. He sought alms alone and sat in meditation alone.

時,有眾多比丘詣佛所,稽首佛足,退坐一面,白佛言:「世尊!有尊者名曰上坐,樂一獨處,亦常讚歎獨一住者,獨入聚落乞食,獨出聚落,還至住處,獨坐禪思。」

Thời hữu chúng đa tỳ khưu nghệ Phật sở, khể thủ Phật túc, thoái tọa nhất diện, Bạch Phật ngôn : Thế Tôn, hữu tôn giả danh viết Thượng Tọa, lạc nhất độc xứ, diệc thường tán thán độc nhất trụ giả, độc nhập tụ lạc khất thực, độc xuất tụ lạc, thoái chí trụ xứ, độc tọa thiền tư.

Một lần, có một số các vị khất sĩ tới nơi Phật ở. Họ làm lễ dưới chân Phật, lui về một bên ngồi giữ một khoảng cách và bạch với Người: “ Thế Tôn, có một vị tôn giả tên Thượng Tọa, vị này ưa ở một mình, ưa ca ngợi hạnh sống một mình, một mình vào xóm làng khất thực, một mình từ xóm làng đi về trú xứ, một mình tọa thiền.

One time a group of bhikshus came to the Lord. They paid their respect by prostrating at his feet, stepped to one side, sat down at a distance, and said, “Blessed One, there is an elder by the name of Elder who only wants to be alone. He always praises the practice of living alone. He goes into the village alone to seek alms, returns home from the village alone, and sits in meditation alone.”

爾時,世尊語一比丘:「汝往詣彼上 坐比丘所,語上 坐比丘言:『大師告汝。』」

Nhĩ thời, Thế Tôn ngữ nhất tỳ khưu, nhữ trụ nghệ bỉ Thượng Tọa tỳ khưu, ngữ Thượng Tọa tỳ khưu ngôn : Đại sư cáo nhữ.

Phật nói với một trong các vị khất sỹ, “ Thầy hãy tới chỗ mà khất sĩ Thượng Tọa cư trú và bảo với thầy ấy là đại sư muốn gặp.”

The Lord Buddha told one of the bhikshus, “Please go to the place where the monk Elder lives and tell him I wish to see him.”

比丘受教,詣上 坐比丘所,白言:「尊者!大師告汝。」

Tỳ khưu thọ giáo, nghệ Thượng Tọa tỳ khưu sở, bạch ngôn : Tôn giả! Đại sư cáo nhữ.

Vị khất sĩ vâng mệnh.

The bhikshu obeyed.

時,上 坐比丘即時奉命,詣世尊所,稽首禮足,退住一面。

Thời, thượng tọa tỳ khưu tức thời thọ mạng, nghệ Thế Tôn sở, khể thủ lễ túc, thoái trụ nhất diện.

Lúc ấy vị khất sĩ Thượng Tọa nghe lời dạy của Phật liền đến chỗ Phật không chậm trễ, làm lễ dưới chân Phật, lui về một bên mà ngồi giữ một khoảng cách.

When the monk Elder heard the Buddha’s wish he came without delay, prostrated at the feet of the Buddha, stepped to one side, and sat down at a distance.

爾時,世尊告上坐比丘:「汝實獨一靜處,讚歎獨處者,獨行乞食,獨出聚落,獨坐禪思耶?」

Nhĩ thời, Thế Tôn cáo Thượng Tọa tỳ khưu : Nhữ thật độc nhất xứ tĩnh xứ, tán thán độc xử giả, độc hành khất thực, độc xuất tụ lạc, độc tọa thiền tư da?

Lúc ấy Đức Thế Tôn hỏi khất sĩ Thượng Tọa: “ Có phải là thầy ưa ở một mình, ca ngợi hạnh sống một mình, một mình đi khất thực, một mình ra khỏi xóm làng, một mình ngồi thiền phải không?”

Then the Blessed One asked the monk Elder, “Is it true that you prefer to be alone, praise the life of solitude, go for alms alone, come back from the village alone, and sit in meditation alone?”

上 坐比丘白佛:「實爾,世尊!」

Thượng tọa tỳ khưu bạch Phật : Thật nhĩ, Thế Tôn!

Khất sĩ Thượng Tọa đáp: “ Thưa Thế Tôn, đúng vậy!”

The monk Buddha asked the monk Thera, “How do you live alone?”

replied, “It is true, Blessed One!”

佛告上坐比丘:「汝云何獨一處,讚歎獨住者,獨行乞食,獨還住處,獨坐禪思?」

Phật  cáo Thượng Tọa tỳ khưu : Nhữ vân hà độc nhất xứ, tán thán độc giả, độc hành khất thực, độc hoàn trụ xứ, độc tọa thiền tư?

Phật bảo khất sĩ Thượng Tọa: “ Thầy sống một mình như thế nào?”

Buddha asked the monk Thera, “How do you live alone?”


上坐比丘白佛:「我唯獨一靜處,讚歎獨住者,獨行乞食,獨出聚落,獨坐禪思。」

Thượng Tọa tỳ khưu bạch Phật : Ngã duy độc nhất tĩnh xứ, tán thán độc trụ giả, độc hành khất thực, độc xuất tụ lạc, độc tọa thiền tư.

Khất sĩ Thượng Tọa đáp: “ Bạch Thế Tôn, con chỉ sống một mình một nơi, ca ngợi hạnh sống một mình, một mình đi khất thực, một mình ra khỏi xóm làng, một mình ngồi thiền, thế thôi.”

The monk Elder replied, “I live alone; no one else lives with me. I praise the practice of being alone. I go for alms alone, and I come back from the village alone. I sit in meditation alone. That is all.”

佛告上坐比丘:「汝是一住者,我不言非一住,然更有勝妙一住。何等為勝妙一住?謂比丘前者枯乾,後者滅盡,中無貪、喜,是婆羅門心不猶豫,已捨憂悔,離諸有愛,群聚使斷,是名一住,無有勝住過於此者。」

Phật cáo Thượng Tọa tỳ khưu : Nhữ thị nhất trụ giả, ngã bất ngôn phi nhất trụ, nhiên cánh hữu thắng diệu nhất trụ. Hà đẳng vị thắng diệu nhất trụ? Vị tỳ khưu tiền giả khô càn, hậu giả diệt tận, trung vô tham, hỉ, thị Bà La Môn tâm bất do dự, dĩ xả ưu hối, ly chư hữu ái, quần tụ sử đoạn, thị danh nhất trụ, vô hữu thắng trụ quá ư thử giả.

Phật dạy vị Thượng Tọa khất sĩ như sau: “ Thầy đúng là người ưa sống một mình, tôi không nói là không phải. Nhưng tôi biết có một cách sống một mình thật sự mầu nhiệm. Làm thế náo để cách sống một mình thật sự mầu nhiệm? vị tỳ khưu đó quá khứ đã không còn, mà tương lai thì chưa tới, là vị Ba La Môn an nhiên sống trong hiện tại mà không bị vướng mắc vào tham dục.

The Buddha taught the monk Elder as follows. “It is obvious that you like the practice of living alone. I do not want to deny that, but I want to tell you that there is a more wonderful and profound way to be alone. It is the way of deep observation to see that the past no longer exists and the future has not yet come, and to dwell at ease in the present moment, free from desire.

爾時,世尊即說偈言:

Lúc ấy, Thế Tôn nói bài kệ sau đây:

Then the Blessed One recited this gatha:

「悉映於一切,

悉知諸世間,

不著一切法,

悉離一切愛,

如是樂住者,

我說為一住。」

Tất ánh ư nhất thiết,

Tất tri chư thế gian,

Bất trước nhất thiết pháp,

Tất ly nhất thiết ái,

Như thị nhạc trụ giả,

Ngã thuyết vi nhất trụ.

Quán chiếu vào cuộc đời

Thấy rõ được vạn pháp

Không kẹt vào pháp nào

Lìa xa mọi ái nhiễm

Sống an lạc như thế

Tức là sống một mình.

Observing life deeply,

It is possible to see clearly all that is.

Not enslaved by anything,

It is possible to put aside all craving,

Resulting in a life of peace and joy.

This is truly to live alone.

佛說此經已,尊者上 坐聞佛所說,歡喜隨喜,作禮而去。

Phật thuyết thử Kinh dĩ, tôn giả Thượng Tọa văn Phật sở thuyết, hoan hỷ tùy hỷ, tác lễ nhi khứ.

Nghe lời dạy của Phật xong, tôn giả Thượng Tọa lấy làm vui mừng sung sướng, cung kính làm lễ Phật và rút lui.

Hearing the Lord’s words, the monk Elder was delighted. He prostrated respectfully to the Buddha and departed.

*Tựa đề do Người Phật Tử đặt lại

Lưu ý : Nguoiphattu.com sẽ biên tập ý kiến của quý vị trước khi xuất bản. Người Phật tử hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và sẽ không đăng những ý kiến cực đoan. Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo sẽ không được đăng. Cám ơn sự đóng góp và quan tâm của quý vị.
Xem tin tức theo ngày:

Tin tức liên quan