Luận đàm - Giảng kinh

Kinh niệm Phật Ba La Mật giảng giải

nguoiphattu.com - Chúng tôi xin hết lòng tán thán công đức về việc ham tu hiếu học của toàn thể quý liên hữu. Nguyện cầu chư Phật gia hộ cho toàn thể liệt quý vị luôn được an bình trong nếp sống và luôn niệm Phật, hành thiện tu phước, tài bồi chủng duyên tịnh nghiệp sâu dày, trong tinh thần hướng thượng quyết tâm cầu vãng sanh Cực lạc.

 
 

Kinh Niệm Phật Ba La Mật Giảng Giải.

Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập.

Việt dịch: Hòa Thượng Thích Thiền Tâm.

Giảng giải: Tỳ kheo Thích Phước Thái.

Vài lời thưa trước.

Kinh Niệm Phật Ba La Mật là một quyển kinh chuyên thuyết minh về pháp môn niệm

Phật. Mục đích là để cho hành giả Tịnh độ hiểu rõ yếu nghĩa của phương pháp niệm Phật

mà thật hành cho đúng pháp. Có thế, thì hành giả mới mong đạt được kết quả cứu cánh viên mãn như ý nguyện.

Kinh này nguyên tác bằng Phạn văn và đã được lưu hành rất sớm ở Trung Quốc. Vào thời đại Ðông Tấn ( 317 - 419 Tl ) ở Trung Hoa, có một bậc cao Tăng nổi tiếng tên là Cưu ma la thập, thuộc triều đại Diêu Tần, Ngài đã dịch từ Phạn văn ra Hán văn. Ðây là một trong số nhiều dịch phẩm của Ngài.

Ở Việt Nam, cũng có một bậc cao Tăng là cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm đã phát nguyện dịch kinh này từ Hán văn ra Việt văn. Hiện quyển Kinh mà chúng ta đang tìm

hiểu học hỏi, là của ngài phiên dịch. Ðây là một trong nhiều dịch phẩm của ngài. Về phần tiểu sử của hai ngài, chúng ta sẽ tìm hiểu sơ qua ở phần sau.

Xét về phần phiên dịch từ Phạn văn ra Hán văn cũng như từ Hán văn ra Việt văn, thú

thật, cho đến nay, chúng tôi chưa biết có bao nhiêu nhà dịch và diễn giảng. Chúng tôi chỉ

thấy có một quyển đã được lưu hành hiện nay, với danh đề là: "Kinh Niệm Phật Ba La

Mật Sưu giải"của ông cư sĩ Tịnh Hải. Ông đã dày công sưu tập nhiều tài liệu quý giá để

giải thích kinh này. Ngoài quyển này ra, hiện nay, chúng tôi chưa thấy có quyển nào khác. Có lẽ, do sự truy cứu của chúng tôi còn hạn hẹp, nên chưa biết đó thôi.

Hôm nay, chúng tôi đem quyển kinh này ra giảng giải, nhằm giúp cho quý liên hữu trong

đạo tràng Quang Minh, do chúng tôi trực tiếp hướng dẫn, để hiểu rõ thêm và nắm vững

đường lối hành trì theo pháp môn Tịnh độ niệm Phật mà chúng ta đã chọn và đang nỗ lực

thật hành. Với thâm ý của chúng tôi, không phải chỉ giảng bộ kinh này thôi, nếu như đủ

duyên, thì chúng tôi sẽ lần lượt giảng thêm một vài bộ kinh khác nữa. Dĩ nhiên, là những kinh chuyên thuyết minh về Tịnh độ.

Nhân kỳ họp chúng kiểm công cứ vừa qua (31/8/08), chúng tôi có đem ra ba quyển, trong

đó có hai quyển kinh và một quyển sách. Hai quyển kinh đó là: Kinh Niệm Phật Ba La Mật và Kinh A Di Ðà Yếu Giải. Còn một quyển sách đó là quyển Niệm Phật Thập Yếu, do cố Hòa Thượng Thích Thiền Tâm biên soạn.

Lẽ ra, chúng tôi sẽ tự chọn một trong ba quyển để đem ra giảng giải cho quý liên hữu nghe. Nhưng vì muốn xem thử nhân duyên của đạo tràng chúng ta có nhân duyên với

quyển kinh nào giảng trước, nên chúng tôi đề nghị cho quý liên hữu bắt thăm. Một vị đại

diện cho đạo tràng lên bắt thăm và đã bắt trúng quyển "kinh Niệm Phật Ba La Mật" và vị thứ hai bắt thăm kế tiếp thì lại bắt trúng quyển"kinh A Di Ðà Yếu Giải".

-1-

Thế là, còn lại quyển cuối cùng, đó là quyển "Niệm Phật Thập Yếu". Ðây là quyển sách

chớ không phải là quyển kinh. Như vậy, rõ ràng là đạo tràng của chúng ta có một nhân

duyên kỳ đặc với quyển Kinh Niệm Phật Ba La Mật này. Do đó, nên chúng tôi đã cố

gắng sưu tầm thêm một vài tài liệu rải rác khác để biên soạn đề là"Kinh Niệm Phật Ba La Mật Giảng Giải". Y cứ vào Kinh văn mà chúng tôi thêm phần giảng giải. Nói giảng

giải, kỳ thật, chúng tôi chỉ lược giảng đại khái mà thôi. Ðồng thời, chúng tôi cũng có chú

thích cho rõ thêm một số các thuật ngữ hay những pháp số khó hiểu khác rải rác trong văn kinh.

Việc làm này, chúng tôi chỉ nhắm vào một mục đích duy nhứt, là nhằm trau đổi giúp

thêm phần nào cho quý liên hữu tìm hiểu rõ những gì mà chư Phật Tổ đã chỉ dạy về pháp

môn niệm Phật. Ðó là điều mà đạo tràng chúng ta phải hằng để tâm nghiên cứu trau dồi

học hỏi pháp môn niệm Phật mà mình đang tu. Thiết nghĩ, đây cũng là điều rất bổ ích thiết thực cho chúng ta vậy.

Như chúng ta đã biết, kinh điển Phật dạy, nghĩa lý thật là thậm thâm vi diệu không ngằn

mé, trong khi đó, sự hiểu biết của chúng tôi thì quá thiển cận thô sơ, khác nào như con ếch ngồi trong miệng hang dòm trời. Bầu trời thì rộng rãi thênh thang bao la không có giới hạn, mà miệng hang thì nhỏ bé chút xíu, thế thì, thử hỏi làm sao con ếch kia có thể

nhìn thấu suốt bầu trời bao la hết được?! Do đó, chúng tôi hiểu biết được chút nào qua sự

nghiên tầm học hỏi của chúng tôi, thì chúng tôi quyết không ngần ngại sẵn sàng tận tâm

lực giúp cho quý vị. Ðây cũng là thể hiện trong tinh thần"kiến hòa đồng giải", một trong sáu phép "Lục hòa" mà Ðức Phật đã chỉ dạy.

Mong sao trong khi chúng tôi trau đổi trình bày, thì xin quý vị hãy cố gắng lắng lòng để tâm theo dõi. Lý thuyết có thông, thì sự thật hành mới không sai lệch trở ngại. Nhờ thế,

mà công phu hành trì niệm Phật của chúng ta, mỗi ngày mỗi thêm thăng tiến và sẽ chóng đạt thành kết quả tốt đẹp như sở nguyện.

Chúng tôi xin hết lòng tán thán công đức về việc ham tu hiếu học của toàn thể quý liên hữu. Nguyện cầu chư Phật gia hộ cho toàn thể liệt quý vị luôn được an bình trong nếp sống và luôn niệm Phật, hành thiện tu phước, tài bồi chủng duyên tịnh nghiệp sâu dày, trong tinh thần hướng thượng quyết tâm cầu vãng sanh Cực lạc.

Trân trọng.

Ðạo Tràng Quang Minh

Ngày 14 tháng 9 năm 2008.

Nhằm ngày rằm tháng 8 năm Mậu Tý. Thích Phước Thái.

-2-

I. Vài dòng về hai nhà phiên dịch.

1. Cưu ma la thập.

Ngài là người phiên dịch kinh này từ Phạn văn ra Hán văn. Cưu ma la thập tiếng Phạn là

Kumàrajva, gọi tắt là La thập. Ngài là một bậc cao tăng ở Trung Quốc, sống vào đời Ðông Tấn (344 - 413). Cha ngài là người Ấn Ðộ, mẹ là công chúa xứ Dao Tần, Tân Cương ngày nay. Cha mẹ ngài về sau đều xuất gia theo đạo Phật. Thuở nhỏ, ngài rất thông minh, mới 7 tuổi mà mỗi ngày ngài học thuộc lòng hơn hai ngàn bài kệ.

Ngài nổi tiếng lão thông kinh sử, tiếng tăm ngài vang khắp xứ Ấn Ðộ và Trung Quốc,

vua Phù Kiên nghe danh đức của ngài, liền sai tướng Lữ Quang đem quân đến thỉnh. Vì

bấy giờ ngài đang sống ở nước Quy Tư, tức nước Tân Cương. Lữ Quang thắng được

nước Quy Tư thỉnh ngài về triều, bấy giờ là triều đại Tiền Tần. Nhưng khi về đến giữa đường, nghe vua Phù Kiên mất, nên ngài bị giữ lại ở Lương Châu trải qua thời gian 17 năm.

Năm 401 Dao Hưng đánh bại họ Lữ, nhà vua liền thỉnh ngài về Trường An để dịch kinh. Ngài là người thông suốt ba tạng kinh, nên thời nhơn gọi ngài là Tam Tạng pháp sư. Ngài dịch rất nhiều kinh luận từ Phạn văn ra Hán văn.

Ngài có bốn người học trò nổi danh thừa kế sự nghiệp dịch thuật của ngài. Bốn vị đệ tử đó là: Tăng Triệu, Ðạo Sanh, Ðạo Dung và Ðàm Ánh.

Nhân duyên hóa đạo đã mãn, ngài viên tịch tại Trường An vào đời Ðông Tấn năm 413 Tây lịch, trụ thế 70 tuổi.

2. Hòa Thượng Thích Thiền Tâm.

Hòa Thượng pháp danh Thiền Tâm, pháp hiệu Liên Du, tự Vô Nhất thuộc dòng Lâm Tế Chánh Tông đời thứ 43, thế danh Nguyễn Nhựt Thăng, sinh năm 1925 ( Ất Sửu ) tại xã Bình Xuân, Gò Công Ðông, tỉnh Tiền Giang. Song thân là cụ Nguyễn văn Hương và cụ bàTrần thị Dung pháp danh Giác Ân. Ngài là người thứ 10 trong số 13 anh em, 4 trai, 9 gái.

Thở nhỏ ngài là người học hành rất thông minh vừa học chữ quốc ngữ và vừa học chữ

Nho. Là người con chí hiếu, năm 12 tuổi, khi thấy mẹ đau yếu, ngài liền đi tìm thầy học

thuốc để mong trị lành bệnh cho mẫu thân. Nhân học thuốc tại chùa Vĩnh Tràng, Mỹ Tho, ngài có dịp nghiên tầm Phật điển và nuôi dần ý chí xuất gia tu học.

Năm 18 tuổi, sau khi chăm sóc thuốc men cho mẹ lành bệnh, ngài liền xin phép song

đường để được đi xuất gia, nhưng không được cha mẹ đồng ý. Ngài đành phải âm thầm

trốn đi ( năm Giáp Thân 1944, lúc 19 tuổi ), đến tu tại chùa Sắc Tứ Linh Thứu ở Xoài

Hột và được thế phát xuất gia vào năm Ất Dậu ( 1945 ) làm đệ tử của Ðại lão Hòa Thượng Thành Ðạo.

-3-


Năm 1948, ngài thọ giới Sa di và học ở Phật học đường Liên Hải cùng Phật học đường

Nam Việt chùa Ấn Quang cho đến năm 1951 để hoàn tất chương trình Trung đẳng Phật học. Thời gian đó, ngài được thọ Tỳ kheo giới tại Ðại giới đàn Ấn Quang tổ chức năm 1950.

Từ năm 1951 đến năm 1954, ngài hoàn tất chương trình Cao đẳng Phật học tại Phật học

đường Nam Việt. Trong thời gian đang học lớp Cao đẳng, Ngài đã giúp cho Hòa Thượng Giám đốc Thiện Hòa trong việc điều hành sinh hoạt đại chúng. Ngài làm Tri chúng, còn Hòa Thượng Bửu Huệ làm Tri sự.

Năm 1954, tốt nghiệp Cao đẳng, Ngài xin phép chư Tôn đức trong Ban Giám Ðốc lui về nhập thất tịnh tu trong 10 năm tại trú xứ Cái Bè và Vang Quới. Trong thời gian nhập thất

tịnh tu này, Hòa Thượng đã dịch các kinh sách xiển dương pháp môn Tịnh độ: Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Tịnh học Tân Lương, Lá thơ Tịnh Ðộ, Hương quê Cực Lạc, và giảng dạy cho ni chúng khắp nơi đến thọ học.

Năm 1964, Hòa Thượng Thiện Hòa mở Trường Trung đẳng Chuyên Khoa Phật học tại chùa Huệ Nghiêm, Bình Chánh, Sài Gòn. Ngài và hai vị Thanh Từ Bửu Huệ được mời giao đảm trách việc giáo dục học Tăng.

Năm 1967, Ngài đến Ðại Ninh, ấp Phú An, xã Phú Hội, huyện Ðức Trọng, tỉnh Lâm Ðồng, kiến thiết Hương Quang Thất, chuẩn bị cho giai đoạn ẩn tu.

Năm 1968, Hòa Thượng chính thức về trụ hẳn ở Ðại Ninh, lập nên đạo tràng Tịnh độ, để tiếp hóa Tăng Ni, Phật tử đến tu học. Trong thời gian tịnh tu ở đây, Hòa Thượng có soạn thuật các sách chuyên thuyết minh Tịnh độ như: Niệm Phật thập yếu, Tây phương nhựt khóa, Tịnh độ pháp nghi và phiên dịch Kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni.

Năm 1970, Ngài xây dựng Hương Nghiêm Tịnh Viện, là trung tâm xiển dương pháp môn Tịnh độ ở miền Nam.

Năm 1974, Ngài mở khóa tu học chuyên về pháp môn Tịnh độ trong 3 năm, với số liên chúng 13 vị dưới sự hướng dẫn của Ban Liên Ðạo gồn 3 vị: Liên thủ: Hòa Thượng Bửu Huệ, Liên Huấn: Hòa Thượng Thiền Tâm, Liên Hạnh: Hòa Thượng Bửu Lai.

Từ năm 1975, Ngài viễn ly mọi sự nghe thấy bên ngoài, lặng lẽ nhiếp tâm tu niệm gia trì hai pháp môn Mật Tịnh song hành. Trong thời gian chuyên tu này, Ngài đã soạn dịch các bộ: Mấy Ðiệu Sen Thanh và Tam Bảo Cảm Ứng Lục, để làm lợi lạc nhơn sinh và khuyến tu Tịnh độ.

Biết sức khỏe yếu nhiều, Ngài đã giao hết mọi việc trong Viện cho Tăng đồ quản lý điều

hành. Ngài đã cố gắng khắc phục thân bệnh, nỗ lực trì danh hiệu Phật, cho đến khi cảm

nhận thời khắc vãng sanh, Ngài bảo đồ chúng vây quanh trợ niệm, rồi đến 9 giờ sáng

ngày 21 tháng 11 năm Nhâm Thân ( tức nhằm 14/2/1992 ), Ngài an nhiên thoát hóa, vãng sanh trụ thế 68 tuổi, 42 hạ lạp.

-4-


Các tác phẩm của Hòa Thượng để lại:

Kinh Quán Vô Lượng Thọ

Tịnh Học Tân Lương

Lá Thơ Tịnh Ðộ

Hương Quê Cực Lạc

Phật Học Tinh Yếu

Duy Thức Học Cương Yếu

Tịnh Ðộ Thập Nghi Luận

Kinh Ðại Bi Tâm Ðà La Ni

Niệm Phật Thập Yếu

Tây Phương Nhựt Khóa

Tịnh Ðộ Pháp Nghi

Kinh Phật Ðảnh Tôn Thắng Ðà La Ni

Mấy Ðiệu Sen Thanh

Tam Bảo Cảm Ứng Lục.

II. Giải Thích Ðề Kinh.

Ðề kinh gồm có 6 chữ: Kinh Niệm Phật Ba La Mật. Căn cứ vào 7 cách lập đề của Thiên

Thai Trí Giả Ðại Sư, thì 7 cách lập đề như sau:

1. Ðơn nhơn lập đề: Kinh A Di Ðà.

2. Ðơn pháp lập đề: Kinh Ðại Bát Niết Bàn. 3. Ðơn dụ lập đề: Kinh Phạm Võng.

4. Nhơn pháp lập đề: Kinh Văn Thù Vấn Bát Nhã. 5. Pháp dụ lập đề: Kinh Diệu Pháp Liên Hoa. 6. Nhân dụ lập đề: Kinh NHư Lai Sư Tử Hẩu.

7. Nhân, pháp, dụ lập đề: Phật thuyết Ðại Phương Quảng Hoa Nghiêm.

Cứ theo 7 cách lập đề trên, thì đề kinh này thuộc về Ðơn Pháp lập đề. Nghĩa là chỉ đơn thuần có Pháp mà không có Nhơn và Dụ.

1. Kinh:

Kinh là danh từ chung chỉ cho những lời Phật dạy, được chư Tổ kết tập lại, gọi là kinh.

Kinh nói cho đủ là khế kinh. Chữ khế có nghĩa là hợp. Hợp với căn cơ của mỗi chúng

sanh và hợp với chân lý. Phải đủ hai nghĩa đó mới gọi là kinh. Nói một cách tổng quát là như thế.

2. Niệm:

Niệm là một động từ gồm có hai nghĩa chính: "nhớ và biết". Chữ"Nhớ" ở đây, không có

nghĩa là nhớ lại chuyện quá khứ hay vị lai, mà chỉ nhớ những gì đang xảy ra trong giây

phút hiện tại. Như nhớ danh hiệu Phật, thì chỉ nhớ một bề khắn khít với câu hiệu Phật mà mình đang niệm. Tuyệt đối, không nên nhớ hay biết việc gì khác. Như vậy, mới đúng với

-5-

ý nghĩa của chữ niệm Phật. Ðó là nghĩa của chữ nhớ. Còn chữ"Biết" cũng vậy. Nghĩa là

biết những gì đang xảy ra trong hiện tại, mà không cần biết đến những chuyện đã qua hay

những chuyện chưa tới. Như đi, tôi biết là tôi đang đi. Ngồi, tôi biết là tôi đang ngồi

v.v¼Biết như thế, gọi là biết trong chánh niệm. Sống được với cái Nhớ hay Biết như thế là chúng ta sẽ được an lạc giải thoát ngay trong cuộc đời này. Bằng ngược lại, thì đó là tà niệm hay thất niệm. Mà tà niệm hay thất niệm, thì chắc chắn sẽ mang lại sự khổ đau cho chúng ta.

3. Phật:

Phật là một danh từ chung chỉ cho những vị đã hoàn toàn giác ngộ. Phật nguyên tiếng Phạn là Buddha, Bud ( Bụt ) là giác hay tỉnh thức; Dha là người. Buddha có nghĩa là

người hằng tỉnh thức. Chữ Buddha người Trung Hoa phiên âm là Phật Ðà, dịch nghĩa là Giác giả. Giác giả có nghĩa là người giác ngộ. Giác có 3 nghĩa: Tự giác, giác tha và giác

hạnh viên mãn. Bất luận người nào, tu hành sạch hết vi tế vô minh phiền não, thì gọi người đó là Phật.

4. Ba la mật:

Ba la mật là phiên âm từ chữ Phạn Paramita. Chữ này vì nó có nhiều nghĩa, nên người ta chỉ đọc nguyên âm mà thôi. Người Trung Hoa dịch có những nghĩa: Ðáo bỉ ngạn, Sự cứu cánh, Ðộ vô cực v.v¼Thường người ta hay dùng từ Ðáo bỉ ngạn để nói lên cái nghĩa Ba la mật. Ðáo bỉ ngạn có nghĩa là đến bờ bên kia. Ðáo là đến; bỉ là kia; ngạn là bờ. Ðây là

một hình dung từ: Bờ bên này là ám chỉ cho bờ sanh tử. Còn Bờ bên kia là ám chỉ cho Bờ giải thoát hay Niết bàn.

Ba la mật, ngoài ý nghĩa nói trên, nó còn là một tập tục của người Ấn Ðộ. Người Ấn, khi

họ làm xong một việc gì đó, thì họ thường reo hò lên là Paramita. Paramita có nghĩa hoàn tất hay xong việc.

Tóm lại, qua phần chiết tự giải thích danh đề trên, cho chúng ta một yếu nghĩa: "Kinh nói về việc niệm Phật đến chỗ cứu cánh viên mãn, tức thành Phật vậy".

III. Nội dung toàn kinh.

Toàn kinh gồm có 7 phẩm:

1. Phẩm Duyên Khởi.

2. Phẩm Mười tâm thù thắng. 3. Niệm Phật công đức.

4. Xưng tán danh hiệu Phật.

5. Quán Thế Âm Bồ tát niệm Phật viện thông.

6. Năng lực bất tư nghì của danh hiệu Phật.

7. Khuyến phát niệm Phật và đọc tụng Chân Ngôn.

IV. Giải thích kinh văn.

-6-

Phẩm Thứ Nhất: Duyên khởi.

Kinh Văn

Chính tôi được nghe như thế này. Một thuở nọ, Ðức Phật kiết hạ tại núi Kỳ xà quật, gần thành Vương Xá với chúng đại Tỳ kheo một muôn hai nghìn người. Ðó là các vị Trưởng lão Xá Lợi Phất, Ma Ha Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Diếp, Ma Ha Ca Chiên

Diên, Tu Bồ Ðề, La Hầu La, Phú Lâu Na, A Nan, A Nan Ðà, Ma Ha Ba Xà Ba Ðề,

Gia Du Ðà La v.v¼

Giảng Giải

Ðoạn văn kinh này là phần thông tựa của các kinh. Ða phần, bộ kinh nào cũng có nêu lên phần tựa chung như thế. Phần tựa này nhằm nêu bày phẩm định rõ về "Lục chủng chứng

tín" hay còn gọi là "Lục chủng thành tựu". Chứng tín là ghi nhận để làm bằng tin cho người đời sau. Y cứ vào đó mà biết rằng kinh này là chính do Phật nói và Ngài A Nan

thuật lại. Sáu món chứng tín gồm có:

1. Tín thành tựu

2. Văn thành tựu.

3. Thời thành tựu.

 4. Chủ thành tựu.

 5. Xứ thành tựu.

6. Chúng thành tựu.

Như thế nàyNguyên chữ Hán Việt là: "Như thị". Như thị có chỗ dịch là "Như vầy". Hai chữ này là chỉ cho những điều mà Phật đã chỉ dạy nghĩa lý trong kinh này. Nói một cách nghiêm khắc hơn, hai chữ "Như vầy" là nhằm nói rõ về pháp môn niệm Phật. Nếu chúng

ta nhận hiểu rõ yếu chỉ và thật hành đúng theo những gì mà Phật đã dạy trong kinh này,

thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt được kết quả tốt đẹp như ý muốn. Ðó là yếu lý trực chỉ niệm Phật tất sẽ thành Phật vậy. Ðây thuộc về"Tín thành tựu".

Chính tôi được nghe ( ngã văn ):Ðây là lời tự thuật của Ngài A Nan. Bởi trước khi đức Phật vào Niết bàn, Ngài A nan có thưa hỏi đức Phật: "Khi kiết tập kinh điển mở đầu các

kinh, nên để câu gì"? Phật dạy nên để câu: Tôi nghe như vầy¼Ðây thuộc về "Văn thành tựu".

Một thuở nọ ( nhứt thời ):có chỗ dịch là "một hôm", đây là chỉ cho thời gian mà Phật nói kinh. Sở dĩ người ta không nêu rõ thời gian để xác định năm tháng ngày giờ rõ rệt, là vì thời gian của mỗi quốc độ mỗi khác. Lịch của mỗi nước không giống nhau. Do đó, nên

chỉ nêu ra thời gian, mà người ta không xác định rõ năm, tháng, ngày, giờ là lý do đó. Ðây thuộc về "thời thành tựu".

Ðức Phật. Phật là người thuyết giảng kinh này, nên nói là: "Chủ thành tựu".

-1-

Kiết hạ tại núi Kỳ xà quật gần thành Vương xá. Ðây là xác minh rõ địa điểm nơi mà

Ðức Phật nói kinh này, gọi là: "Xứ thành tựu".

Kiết hạtức chỉ cho thời gian ba tháng an cư của Phật và Tăng chúng. An cư là một tập

quán chung của các giáo đoàn thời Phật. Mục đích là để tránh mưa, vì mùa mưa ở Ấn Ðộ

là mùa mà các loài côn trùng sinh sôi nẩy nở rất nhiều. Do đó, nên Phật và Tăng đoàn

phải cấm túc dừng chân nơi một trú xứ, không đi khất thực, để tránh dẫm đạp lên các loài côn trùng. Ðó là thể hiện lòng từ bi của Phật và của Tăng chúng vậy.

Thời gian an cư tính theo thời tiết và lịch Ấn Ðộ là vào khoảng giữa tháng 6 dương lịch, kéo dài cho đến khoảng giữa tháng 9 dương lịch. Noi theo tập tục truyền thống đó, ngày

nay, các nước Phật giáo Nam tông hay Bắc tông, mỗi năm cũng đều có tổ chức quy tụ Tăng Ni về một trú xứ cố định để làm lễ an cư. Trong ba tháng an cư này là một cơ hội rất tốt để cho chư Tăng Ni, có dịp trau dồi học hỏi và giữ gìn giới đức cho được nghiêm

minh thanh tịnh. Ðiều này, chỉ là noi theo truyền thống xưa thôi, chớ kỳ thật thì nó không đúng ý nghĩa như thời đại của Phật.

Kỳ xà quậttiếng Phạn là GrdhraKuta, Trung Hoa dịch là Linh Thứu. "Thứu" là chim

kên kên. Có thuyết cho rằng đầu núi này giống hình kên kên; thuyết khác lại bảo nơi phía

nam của núi thường có loài chim kên kên tụ họp về tại rừng Thi Ðà, vì thế mới gọi là

Thứu phong hay Thứu lãnh. Còn về chữ "Linh", thì có thuyết nói nơi ngọn núi này

thường có bậc tiên thánh y trụ, hoặc nhiều linh thoại ( điềm lành ) hiện ra, thuyết khác lại

bảo là đại ý ám chỉ cho loài chim kên kên có tánh linh. Các thuyết trên có thể đều đúng

cả, nhưng dù đúng hay không cũng chẳng mấy quan hệ, duy có điểm xác thật là khí hậu ở

non Thứu quanh năm luôn luôn mát mẻ, nên đức Phật và các đệ tử thường hay tĩnh dưỡng tại nơi đây ( Kinh Quán Vô Lượng Thọ tr 8 ).

"Thành Vương Xá" -Vương Xá tiếng Phạn gọi là La duyệt kỳ dà la ( Rajagrha ), ý

nghĩa chỉ cho chỗ cư xá của hàng vua chúa. Theo truyền thuyết, thì thuở xưa vua Quảng

Xa được thần linh mách bảo rằng: muốn tìm nơi địa cảnh tốt thì nên du ngoạn ngoài

thành, tất sẽ được gặp. Một hôm nhân đi săn bắn, vua đuổi theo con nai cùng chạy đến vùng núi Kỳ xà quật, thấy nơi đây phong quang thanh tú, có rừng cây cao tốt, hoa đẹp suối trong, mới di cư tới bản địa và kiến lập thành quách cung xá. Con cháu của vua kế thừa ý chí tổ phụ, đời đời vẫn định cư tại đây.

 

Lại một truyền thuyết khác bảo: Thuở xưa nhân dân khi mới theo vua di cư về thành ấy,

nhà cửa người nào vừa cất xong cũng đều bỗng tự nhiên phát hỏa cháy tiêu tan cả, duy có cung thất của vua là không bị cháy. Dân chúng đem việc ấy tâu lên, vua bảo: " Từ đây về

sau, nếu có ai cất nhà đều phải nói lớn lên: Tôi cất nhà này cho vua!" Mọi người y lời,

quả nhiên nhà cửa không bị cháy. Do hai sự tích trên, thành này được mệnh danh là

Vương Xá. Ðức Phật khi xuống thành Vương Xá thì hóa độ hàng tại tục, lúc lên đỉnh Thứu sơn lại thuyết pháp cho chúng xuất gia.

 

Với chúng đại Tỳ kheo một muôn hai nghìn người.Thông thường ở các kinh khác hay nêu ra là một ngàn hai trăm năm mươi ( 1250 ) bậc đại Tỳ kheo. Con số 1250 vị Tỳ kheo, là những vị thường theo Phật trong suốt cuộc đời hành hóa của đức phật từ sau ngày Phật

 

-2-


thành đạo cho đến khi nhập diệt. Số chúng đông như thế là do đồ chúng của 3 anh em Ca

Diếp: Dà da ca diếp, Nan đề ca diếp và Ưu lầu tần loa ca diếp, cùng với đồ chúng của hai Ngài: Xá lợi phất và Mục kiền liên, cộng chung lại là 1250 vị. Nhưng ở đây, thì nêu ra số lượng Tỳ kheo dự hội thuyết pháp này đông hơn. Thế thì đủ biết, đây là thời pháp rất đặc biệt và quan trọng. Vì có rất nhiều hội chúng Thanh Văn tham dự.

 

Ðứng đầu là Trưởng lão Xá lợi phất. Ngài là bậc trí huệ đệ nhất trong hàng Thanh Văn. Sở dĩ nêu danh Ngài trước tiên, là vì pháp môn niệm Phật Ba la mật mà Phật sắp nói ra đây, nó rất là khó tin khó hiểu. Vì thế, phải là bậc có trí huệ vượt hơn người thường mới

có thể tin hiểu được. Hai chữ Trưởng lão là để tôn xưng những bậc có giới đức ngôn hạnh vượt trội hơn người.

 

Xá lợi phấttiếng Phạn là Sariputra. Sari là xá lợi, Trung Hoa dịch là Thu Lộ; Putra có

nghĩa là Phất, Trung Hoa dịch là Tử. Cho nên, còn gọi Ngài là Thu Tử cũng nói là Thân

tử, hoặc Châu tử. Ngài là người trí huệ đệ nhất trong hàng Thanh Văn, có biệt tài nghị

luận. Ngài thuộc dòng dõi Bà la môn, thân phụ là Ðề Xá, là một luận sư nổi tiếng đương thời.

 

Thuở nhỏ, Ngài rất thông minh, mới 8 tuổi mà đã thông suốt giáo điển Bà la môn và rất

giỏi về môn nghị luận. Ngài theo đạo thờ thần lửa và là bạn chí thân, chí cốt với Ngài Mục kiền liên. Về sau, Ngài và Tôn giả Mục kiền liên dẫn nhóm đệ tử đến quy y theo

Phật xuất gia. Hai Ngài đã giúp cho Ðức Phật trong công cuộc hoằng hóa độ sanh rất lớn.

Ma ha Mục kiền liên, Ngài là thần thông đệ nhất. Ma ha dịch là Ðại. Mục kiền liên dịch

là Thái thúc thị. Thuyết khác nói: Lai bặc. Mục kiền liên là họ, tên Ngài là Câu luật đà, đây là tên của một thứ cây. Vì cầu vị thần ở nơi cây này mà sanh ra Ngài nên lấy đó mà

đặt tên. Ngài là người đã từng thi triển thần thông để chiết phục ngoại đạo làm cho ngoại

đạo phải kính nể mà quy hướng về đức Phật. Ngài là người có công rất lớn trong công việc nhiếp hóa đồ chúng.

Ma ha Ca diếp, Ngài tu theo hạnh đầu đà đệ nhất. Ca Diếp Trung Hoa dịch là Ðại qui

thị, có thuyết nói là Ẩm Quang. Nói Ðại qui thị, là nhân vì đời trước Ngài đi học đạo gặp con linh qui đội bản đồ ra sông, nhơn lấy đó mà đặt họ.

Ẩm quang là do vì đời trước Ngài là người thợ làm đồ vàng, bạc cùng với một người nữ thanh tịnh đồng phát tâm lấy vàng quang phết tượng Phật bèn cảm được quả báo đời đời

thân của Ngài như sắc vàng chói ngời loáng phủ các sắc khác, cho nên tên Ngài là Ẩm Quang. Ðầu đà là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Ðẩu tẩu, là chỉ cho người tu khổ hạnh.

Tu bồ đề,là tiếng Phạn, Ngài là người giải không đệ nhất, tức thâm hiểu lý Bát nhã

không ai bằng. Có chỗ dịch là Thiện Hiện, hoặc Không Sanh, hay Kiết Tường. Khi Phật thuyết pháp nói đến lý Bát nhã đả phá mọi vọng chấp tà kiến trong giáo đồ cũng như các

hàng ngoại đạo, thì Ngài thường đại diện cho đương hội đứng ra thưa hỏi. Như trong

Kinh Kim Cang Bát Nhã, chính Ngài là người đại diện trong chúng đứng ra để thưa hỏi đức Phật về lý sắc không. Nhờ đó, mà đức Phật mới giải đáp và làm thỏa mãn mọi thắc

-3-

mắc của đại chúng. Do vậy, mà đại chúng mới lãnh hội nghĩa lý một cách rất dễ dàng.

Bởi thế, chính Ngài là người có công rất lớn trong vấn đề thưa hỏi này.

La hầu latiếng Phạn là Rahula, Trung Hoa dịch là Phú Chướng, cũng dịch là Chấp Nhựt, Ngài là người tu mật hạnh đệ nhất.

Phú chướng là tên thần A tu la. Vì khi sanh ông nhằm lúc thần A tu la đang lấy tay che

áng sáng mặt trời, mặt trăng, nên đặt tên ông là Phú chướng, hay Chấp nhựt. Chướng có 2 nghĩa: 1. Phật bị ông làm chướng không xuất gia được sớm. 2. Do đời trước ông lấp hang

chuột sáu ngày, nên nay mắc quả báo ở trong thai mẹ 6 năm. Thế là ông tự làm chướng lấy ông.

Phú lâu nalà gọi tắt, nếu gọi cho đủ thì phải nói là Phú lâu na di đa la ni tử. Ngài là

người thuyết pháp đệ nhất. Ðức Phật thường khen Ngài là thuyết pháp hay nhất trong các

vị đại đệ tử. Ngài còn có tên khác là Mãn từ tử. Ngài sanh ra trong một gia đình giàu có rất có danh tiếng ở xứ Ấn Ðộ thời bấy giờ. Dù Ngài đã được cha mẹ thương yêu nuông

chiều đủ thứ, nhưng không vì thế mà Ngài quên đi chí nguyện theo Phật xuất gia. Sau khi

xuất gia, Ngài đã đãi lao cho Phật rất nhiều trong công việc trọng đại hoằng pháp lợi sanh.

A Nan, có khi gọi Ngài là A nan đà, Trung Hoa dịch là Khánh hỷ. Ngài ra đời cùng ngày

với Ðức phật thành đạo, nhân đó mới đặt tên Ngài là Khánh Hỷ. Khánh là mừng mà Hỷ

cũng là mừng. Ý nói mừng Ngài sanh ra và mừng Ngày Phật thành đạo. Vì có hai cái

mừng lớn như thế, nên đặt tên Ngài là Khánh Hỷ. Ngài là người Ða văn đệ nhất. Ngài có

một trí nhớ siêu việt. Tất cả những lời Phật thuyết pháp, Ngài đều ghi nhớ rất rõ không sai một mãi. Ngài là người thường theo hầu Ðức phật cho đến khi Phật nhập diệt.

A nan đà, Ngài này là em cùng cha khác mẹ với Ðức Phật. Xin chớ lầm tên với Ngài A

Nanlà anh em chú bác với Phật. Nan đà Trung Hoa dịch là Thiện hoan hỷ. Thường trong

Kinh hay nêu thêm hai chữ Phóng ngưu để gọi tên ông. Bởi lẽ vì có tới ba ông tên trùng hợp nhau: A nan đà, Nan đà, và Tôn đà la nan đà. Ðể biện biệt nên ông thường được gọi là Phóng ngưu nan đà.

Ma ha ba xà ba đề,Bà là người dì của đức Phật. Thường gọi Bà là Kiều Ðàm Di Mẫu.

Sau khi sanh Thái tử được 7 ngày, thì Bà Hoàng Hậu Ma Da lâm bệnh qua đời. Từ đó, bà là người cận kề chăm sóc Thái tử. Sau khi Phật thành đạo, Bà là người xin Phật xuất gia. Bà là người đứng đầu trong hàng Ni chúng.

Gia du đà la, tiếng Phạn là Yasodhara, Trunh Hoa dịch là Trì Dự, Trì Xưng hay Hoa Sắc. Có nhiều truyền thuyết nói về bà. Có thuyết nói: Bà là con gái của Chấp Trượng,

thuộc dòng dõi họ Thích Ca, thành Ca tỳ la vệ Trung Ấn Ðộ, là chánh phi của Thái tử Tất Ðạt Ða, mẹ ruột của La hầu la.

Thuyết khác lại nói: Bà là con gái của Ðại thần Ma ha Ma na, thuộc chủng tộc Bà tư tra cũng thuộc dòng họ Thích.

-4-

Một thuyết khác lại cho rằng, bà là em gái của Ðề bà, con gái của vua Thiện Giác ở thành

Thiên Tý. Bà có vóc dáng đoan trang, xinh đẹp bậc nhất, đủ các đức tướng tốt. Sau khi đức Thích Tôn thành đạo 5 năm, bà và di mẫu của đức Thích Tôn là Ma ha ba xà ba đề cùng xuất gia thọ giới cụ túc làm Tỳ kheo ni.

Trên đây, nêu ra một số các vị đại đệ tử thuộc hàng Thanh Văn bên Tăng cũng như bên Ni để làm tiêu biểu. Sau đây, mới nêu ra các thính chúng Bồ tát.

Kinh Văn

Lại có tám muôn vị đại Bồ tát khắp mười phương cùng đến tham dự. Ðó là các

Ngài: Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát, Phổ Hiền Bồ Tát, Quán Thế Âm Bồ Tát, Ðại Thế Chí

Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Ðịa Tạng Bồ Tát, Diệu Âm Bồ Tát, Ðại Cường Tinh Tấn

Dõng Mãnh Bồ Tát, Ðà La Ni Tự Tại Công Ðức Lâm Bồ Tát, Trang Nghiêm Vương

Bồ Tát¼tất cả đều có năng lực thâm nhập vô lượng tam muội môn, tổng trì môn, giải thoát môn, đã chứng pháp thân, đắc ngũ nhãn, biện tài vô ngại, thần thông du hý, biến hiện đủ loại thân tướng khắp các quốc độ để cứu vớt chúng sanh.

Giảng giải

Trước là nêu chúng Thanh Văn, tiếp theo là nêu chúng Bồ Tát. Nghĩa là chẳng những

hàng Thanh Văn dự hội đông đảo mà ngay cả các bậc đại Bồ tát cũng dự hội rất đông để nghe Phật thuyết pháp nói về:"pháp môn Niệm Phật Ba La Mật".

Bồ tátnói đủ là Bồ đề tát đỏa, tiếng Phạn là Bodhisatra. Trung Hoa dịch có 2 nghĩa:

1.hữu tình giác. 2. giác hữu tình. Hữu tình giác, có nghĩa là một con người giác ngộ. Vì Bồ tát cũng là một con người như bao nhiêu con người khác, nhưng chỉ khác hơn người

thường là ở chỗ các Ngài đã giác ngộ. Sau khi giác ngộ, các Ngài đem chỗ sở ngộ của mình để giáo hóa chúng sanh, để mọi loài đều được giác ngộ như mình, thì gọi là Giác

hữu tình. Bồ tát có 3 bực:

1. Những người mới phát tâm tu hành cầu pháp Ðại thừa, tu hạnh Bồ tát, là Bồ tát

mới phát tâm, trong kinh thường gọi bực này là Sơ phát tâm Bồ tát.

2. Những người học đạo Ðại thừa đã lâu đời, chứng đặng bậc Thập Trụ, Thập Hạnh,

Thập Hồi Hướng cho đến Thập Ðịa, là bực Bồ tát tu lâu. Những người này được gọi "cựu Bồ tát".

3. Bồ tát chứng bậc Ðẳng giác, đây là vị Bồ tát gọi là nhứt sanh bổ xứ kế Phật. Như

Bồ tát Di Lặc gọi là Ðẳng giác Bồ tát. Như vậy, bất luận người nào có đủ hai ý nghĩa: tự giác và giác tha, đều gọi chung là Bồ tát.

Trong hội chúng Thanh Văn ở trên, trước nêu Ngài Xá lợi phất,vì Ngài là bậc trí huệ đệ

nhất trong hàng Thanh Văn. Trong hội chúng Bồ tát, trước nêu Bồ tát Văn Thù Sư Lợi, vì Ngài là người có trí huệ đệ nhất trong hàng Bồ tát. Sở dĩ nêu hai bậc đại trí như thế, là vì đối với pháp môn niệm Phật thắng diệu hy hữu này, không phải dễ tin, dễ nhận, dễ hiểu.

-5-

Nếu không phải là bậc đại trí, thì thử hỏi làm sao có thể thâm nhập thấu hiểu trọn vẹn cho

được? Thế nên, cần phải nêu tên hai Ngài ra trước vậy.

Văn Thù Sư Lợi Bồ tátlà tiêu biểu cho Ðại Trí. Văn Thù Trung Hoa dịch là Diệu Thủ,

cũng dịch là Diệu Cát Tuờng cũng dịch là Diệu Ðức. Mỗi tên gọi đều có ý nghĩa khác

nhau. Nói Diệu Thủ, là y cứ theo tôn hoa Nghiêm có nêu ra ba pháp môn: Tín, Hạnh và

Trí, mà Diệu thủ là pháp môn Tín đứng đầu, vì tin là đầu muôn hạnh, muôn đức vậy. Còn nói Diệu Cát Tường là chuyên nói về pháp môn Hạnh.

Luận Phật Ðịa nói: Ðược tất cả thế gian thân cận cúng dường và tán thán nên gọi Ngài là Diệu Cát Tường. Diệu Ðức là chuyên nói về pháp môn Trí. Kinh nói Trí là mẹ chư Phật, là thầy đức Thích Ca, đâu chẳng phải Diệu Ðức ( đức mầu nhiệm ), đó tức là "Hạnh" mà "Giải".

Phổ Hiền Bồ táttiếng Phạn là Sanantabhadra, còn gọi là Biến Cát Bồ tát. Ngài là tiêu

biểu cho đại hạnh. Hình tượng Ngài được thiết trí cỡi con voi trắng hầu bên phải của Ðức

Phật Thích Ca. Bên trái là Ðại Trí Văn Thù Bồ Tát. Ðã có đại trí cần phải có đại hạnh

mới có thể phổ độ chúng sanh. Thế nên, Ðại Trí và Ðại Hạnh phải song hành với nhau, không thể tách rời ra được.

Quán Thế Âm Bồ tátlà vị Bồ tát luôn tầm thinh cứu khổ chúng sanh. Ngài rất có nhân

duyên rất lớn với chúng sanh ở cõi Ta bà này. Khi gặp hoàn cảnh bức bách thống khổ

cùng cực, người ta thường niệm danh hiệu Ngài. Vì mọi người tin rằng đó là hạnh nguyện

cứu khổ của Ngài. Hữu cầu tất ứng, vì đó là bản hoài cứu khổ, cứu nạn của Bồ tát. Bởi

thế, nên Ngài là tiêu biểu cho Ðại Bi. Có Trí có Hạnh, tất nhiên là phải có Bi. Bi là lòng

thương rộng lớn, không phân biệt thân sơ. Muốn cứu độ chúng sanh cùng khắp ( Ðại

Hạnh ) đòi hỏi hành giả phải có lòng Ðại Bi. Thể hiện lòng đại bi cùng khắp này, thì chỉ có Quán Thế Âm Bồ tát mới có thể tiêu biểu cho tấm lòng Ðại Bi rộng lớn không ngằn mé đó.

Ðại Thế Chí Bồ Táttiếng Phạn là Mahàsthàmapra. Ngài là người đứng hầu cận bên phải

của Ðức Phật Di Ðà. Bên trái là Bồ tát Quán Thế Âm. Ngài cũng là tiêu biểu cho trí tuệ.

Quán Thế Âm là tiêu biểu cho đức từ bi như nói ở trên. Trí tuệ và từ bi hợp lại thành ngôi chánh giác, tứ là đức phật A Di Ðà.

Di Lặc Bồ táthay còn gọi Ngài là A Dật Ða. A Dật Ða Trung Hoa dịch là Vô năng

thắng. Di Lặc Trung Hoa dịch là Từ Thị. Hiện tại Ngài đang ngự trên cõi trời Ðâu Suất,

để chờ ngày giáng sanh xuống cõi Ta bà này tu hành thành Phật độ chúng sanh. Cho nên, thường xưng tụng Ngài là đương lai hạ sanh Từ Thị Di Lặc.

Ðịa Tạng Bồ táttiếng Phạn là Ksitigarbha, vị Bồ tát được sự phó chúc của Ðức Thích

Tôn đã thệ nguyện độ hết chúng sanh trong 6 đường rồi Ngài mới thành Phật. Ðịa ngục vị

không thệ bất thành Phật, chúng sanh độ tận phương chứng Bồ đề. Ðó là đại nguyện của Ngài. Có thuyết nói, Ngài là vị Bồ tát tượng trưng, chớ không phải là một nhân vật lịch

sử như đức Phật Thích Ca. Trong bài Tựa của Kinh Ðịa Tạng có nêu rõ qua ý nghĩa này: Ðịa Tạng là tượng trưng cho bản tâm của mỗi chúng sanh sẵn có. Bản tâm đó cứng rắn,

-6-

sâu dày như đất. Tuy vô hình nhưng không gì ngoài tâm mà có, nên lấy đất dụ cho tâm.

Vì đất có hai công năng: "năng sanh và sở sanh".

Về ý nghĩa của danh hiệu Bồ tát Ðịa Tạng có nhiều thuyết khác nhau. Theo Kinh Ðại

Phương Quảng Thập Luận nói: Ngài có hình tướng của một vị Sa môn. Nói chung hình tượng được lưu truyền rộng rãi nhất là loại hình tượng trong ẩn hạnh Bồ tát, ngoài hiện

tướng Sa môn, ngồi hoặc đứng trên hoa sen tay trái cầm viên bửu châu, tay phải cầm tích trượng.

Diệu Âm Bồ táttiếng Phạn là Manju-ghosa. Vị Bồ tát được nói trong phẩm Diệu Âm Bồ tát trong Kinh Pháp Hoa. Diệu Âm là âm thanh vi diệu mầu nhiệm. Ngài dùng sức đại từ bi khai diễn diệu pháp âm làm cho tất cả chúng sanh đều được nghe mà tỏ ngộ đạo lý.

Ðại Cường Tinh Tấn Dõng Mãnh Bồ tát. Ðây là vị Bồ tát biểu trưng cho ý chí cương quyết tinh tấn dõng mãnh trong việc tu hành và cứu độ chúng sanh. Dù có Ðại Trí, Ðại

Bi, nhưng nếu thiếu Ðại Lực dõng mãnh tinh tấn, thì việc tu hành độ sanh cũng khó thành

tựu kết quả viên mãn tốt đẹp. Thế nên, hành giả, tu bất cứ pháp môn nào, cũng cần phải có sức tinh tấn dõng mãnh mới có thể đạt thành sở nguyện.

Ðà La Ni Tự Tại Công Ðức Lâm Bồ tát. Ðà la ni, Trung Hoa dịch là Tổng trì, nghĩa là

nhiếp thu tất cả nghĩa lý không cho sót mất. Tự tại là nói lên ý nghĩa tự do giải thoát tuyệt

đối. Công đức lâm là rừng công đức, ý nói công đức không sao tính kể cho hết. Tóm lại,

danh hiệu của vị Bồ tát này là tiêu biểu cho sự tu hành cần phải thật hành những công hạnh tự lợi, lợi tha và luôn nhiếp hóa chúng sanh làm mọi công đức mà tâm không bị

ràng buộc vào bất cứ duyên trần nào. Ðó là nhiếp trì tất cả mà tâm luôn được tự tại giải thoát.

Trang Nghiêm Vương Bồ tát,là vị Bồ tát luôn trang nghiêm ở nơi thân tâm vượt ngoài các pháp. Trang nghiêm mà không bị dính mắc trần cấu, nghĩa là không bị ràng buộc vào 6 trần, giống như ông vua đứng đầu cai trị thống lãnh, làm chủ động sai khiến muôn dân. Ðó là nói lên ý nghĩa của người tu hành cần phải trang nghiêm, tức là làm đẹp ở nơi tâm cảnh mà không bị tâm cảnh trói buộc, sai khiến. Ngoài việc hằng trang nghiêm làm đẹp ở nơi thân tâm, Bồ tát còn phải hằng nghĩ đến việc hóa độ làm lợi ích chúng sanh vậy.

Vô lượng Tam muội môn:môn tam muội không có giới hạn ngằn mé. Tam muội là

tiếng Phạn, Trung Hoa dịch có 2 nghĩa: "Chánh định và chánh thọ". Chánh định là tâm an định, không dính kẹt hai bên, vượt ngoài đối đãi nhị nguyên. Chánh thọ là đối với các

pháp không thọ một mảy may trần cảnh. Ðây là loại Tam muội mà chỉ có Phật mới có được thứ Tam muội trọn vẹn này.

Tổng trì môn:Tổng là chung; trì là gìn giữ. Tiếng Phạn gọi là Ðà la ni. Trung Hoa dịch

là Tổng trì, tức là chỉ cho công năng gìn giữ các pháp lành khiến cho không mất, các

pháp dữ không sanh, chia làm 4 món:

1.Pháp đà la ni: với các pháp Phật dạy nghe giữ gìn không quên. 2.Nghĩa đà la ni:

với nghĩa các pháp giữ gìn không quên.

-7-

2.Chú đà la ni: do sức thiền định phát ra lời bí mật có thần hiệu không lường.

3.Nhẫn đà la ni: an trú nơi thật tướng của các pháp. Trong Luận Phật Ðịa quyển thứ

5 có nói: Ðà la ni là sức tăng thượng của niệm tuệ hay giữ gìn vô lượng diệu nghĩa Phật pháp.

Giải thoát môn: cửa giải thoát. Ðây là cửa mà bất cứ hành giả tu pháp môn nào cũng

phải bước vào. Giải là cởi; thoát là thoát ra. Cởi bỏ thoát ra những thứ phiền não rối rắm

trói buộc trong tâm hành giả. Bởi những thứ vô minh phiền não, chúng có công năng triền phược sai sử người ta tạo nghiệp thọ khổ. Do đó, muốn chấm dứt khổ đau trong

vòng luân hồi sanh tử, thì hành giả cần phải dùng ngọn đuốc trí huệ để soi sáng phá tan

bóng tối si mê. Có thế, thì hành giả mới mong đạt được giác ngộ giải thoát khỏi vòng sanh tử hệ lụy khổ đau này.

Chứng pháp thân ( dharmakaya ):chứng là nhận. Như người uống nước nóng hay lạnh

tự người đó cảm nhận mà biết, không thể diễn tả cho người khác biết được. Nói chứng

pháp thân, có nghĩa là nhân ra và sống từng phần hoặc trọn vẹn với pháp thân. Sống từng

phần (phần chứng ) thì gọi là Bồ tát. Sống trọn vẹn thì gọi đó là Phật. Vậy pháp thân là gì? Pháp thân nghĩa là lấy pháp giới làm thân. Pháp giới thì không hình, không tướng. Pháp thân là tên khác của chơn như hay Phật tánh v.v¼Pháp thân là một thực thể bản nguyên của vạn pháp. Thực thể này vượt ngoài đối đãi nhị nguyên. Không thể suy nghĩ

hoặc dùng lời nói mà có thể luận bàn đến được. Thực thể này ở thánh không tăng, ở phàm

không giảm.Thực thể bất sanh, bất diệt này, ở loài hữu tình, thì gọi là Phật tánh, còn ở

loài vô tình thì gọi là pháp tánh. Danh từ tuy có khác, nhưng thể vẫn đồng. Nên nói vạn pháp đồng nhứt thể là ý này vậy.

Ðắc ngũ nhãn.Trong Phật giáo khi nói chứng hay đắc, đó chỉ là một cách giả đặt tạm nói, chớ không có thật. Vì phàm nói chứng, nói đắc, tất nhiên là phải chứng cái gì? Và

đắc cái gì? Còn có chứng có đắc là cón có "ngã tướng, nhơn tướng, chúng sanh tướng và

thọ giả tướng".Nói gọn là còn ngã và pháp chấp. Ðã thế, thì sao nói chứng, nói đắc

được? Chúng ta nên nhớ rằng, hễ còn một vọng niệm dấy khởi, dù rất vi tế, cũng là trái

với tánh giác rồi. Bởi tánh giác vốn là lặng lẽ thanh tịnh sáng suốt. Như mặt biển phẳng lì

không một chút gợn sóng. Còn gợn sóng dù là lăn tăn nhỏ nhiệm, cũng là làm cho mặt biển bị chao động rồi.

Ngũ nhãnlà năm con mắt: 1.Nhục nhãn: con mắt thịt của chúng ta. Sự thấy của con mắt

này bị sắc chất làm ngăn ngại. 2.Thiên nhãn: mắt của chư thiên nhơn tu thiền định mà

thành. Mắt này có thể thất tất cả xa gần, trước sau, trên dưới , ngày đêm, vì không có sắc

chất làm ngăn ngại. 3Huệ nhãn: mắt của hàng Nhị thừa ( Thinh Văn, Duyên Giác )

quán thấy tất cả đều không. 4.Pháp nhãn: mắt của Bồ tát. Bồ tát vì độ sanh dùng pháp

nhãn thanh tịnh quán khắp tất cả các pháp và tất cả chúng sanh đem những môn phương tiện dạy dỗ khiến họ tu chứng. 5.Phật nhãn: mắt của Phật, do trí huệ viên mãn cứu cánh

có đủ bốn con mắt trước nhưng có phần đặc biệt hơn, như: người thấy rất xa, Phật thấy

rất gần, người thấy tối tăm, Phật lại thấy sáng, cho đến không việc gì mà Ngài không thấy, không biết, không nghe, không cần để ỳ mà đều thấy nghe tất cả.

Biện tài vô ngại: Bồ tát có tài biện luận thông suốt không ngăn ngại. Có 4 loại biện tài:

-8-

1.Pháp vô ngại biện: Ðối với giáo pháp, có tài biện luận rành rẽ các pháp; có khả

năng giải thích văn cú, lý lẽ thông suốt, không bị ngăn ngại, thì gọi là pháp vô ngại.

2.Nghĩa vô ngại biện: Biết rõ nghĩa lý giải thích giáo pháp không hề ngưng trệ, đó

gọi là nghĩa vô ngại.

3.Từ vô ngại biện: Thông đạt tự tại về ngôn từ ở mọi phương, đó gọi là Từ vô ngại. 4.Nhạo thuyết vô ngại biện: Còn gọi là Biện thuyết vô ngại. Dùng trí huệ vì chúng

sanh mà ưa thuyết, tự tại, đó gọi là Nhạo thuyết vô ngại. Hơn nữa lời lẽ trôi chảy không bị ngưng trệ, hợp với chánh lý, đó gọi là Biện tài vô ngại.

Thần thông du hý: hay nói du hý thần thông cũng thế. Thần có nghĩa là biến hóa không

lường. Thông là thông suốt không ngăn ngại. Có 6 loại thần thông:

1. 2. 3. 4. 5. 6.

Thiên nhãn thông: thấy rõ thông suốt mọi vật trong vũ trụ.

Thiên nhĩ thông: nghe tất cả âm thanh không ngăn ngại Tha tâm thông: Biết rõ trong tâm niệm của tha nhân. Thần túc thông: Tùy ý biến hóa không lường.

Túc mạng thông: Biết rõ bổn sanh, bổn sự mình và người trong nhiều đời. Lậu tận thông: Sạch hết vi tế vô minh phiền não.

Phật và Bồ tát có thần thông tự tại vô ngại, vận dụng hóa độ chúng sanh, làm sự vui chơi của mình, nên gọi là du hý. Lại có nghĩa: Bồ tát đã lịch thiệp các pháp thần thông, do từ

chứng ngộ chơn tánh mà hiển phát, vận dụng xuất nhập dễ dàng như chơi, không điều chi

ngăn ngại, chẳng phải như thần thông của ngoại đạo, nhị thừa, do tu luyện mà có, còn bị ngại, nên gọi là du hý thần thông.

Qua đoạn kinh văn trên, Phật đã nêu bày cho chúng ta biết, đối với các vị Bồ tát, do tu tập

trải qua nhiều đời, nên các Ngài mới có được đầy đủ năng lực định huệ sâu dày, thần thông biến hóa, diệu dụng không lường, ứng hóa tùy hình, tùy duyên hóa độ, khắp hết chúng sanh, thoát khỏi mê luân, chóng đạt thành Phật quả. Ðó là bản nguyện tự lợi, lợi

tha của các Ngài. Noi gương các Ngài, chúng ta cũng cố gắng trồng sâu căn lành, tu tạo nhiều phước báo thiện nghiệp và luôn tài bồi trau dồi trí huệ, trong hiện đời cũng như trải qua nhiều đời, giữ gìn đạo tâm không thối chuyển, thì chắc chắn một ngày nào đó, chúng

ta cũng sẽ được như các Ngài. Ðó là điều chắc thật không nghi ngờ. Vì hễ có gây nhân,

tất nhiên là phải có quả. Gây chủng nhân Bồ tát thì thành Bồ tát, gây chúng nhân Phật thì thành Phật. Như vậy, thánh hay phàm, tất cả đều do tâm ta tạo lấy.

Kinh Văn

Lại có vô lượng Ðại Phạm Thiên Vương, Tự Tại Thiên Vương, Ðế Thích Thiên

Vương, Ðâu Suất Thiên Vương, Ðao Lợi Thiên Vương ¼cùng vô số quyến thuộc câu hội.

-9-

Giảng giải

Ðoạn này, Phật nêu ra các vị thính chúng tiêu biểu ở các cõi trời đến dự pháp hội:

Ðại Phạm Thiên Vương:vị chúa tể cảnh trời Ðại Phạm. Ngài quản trị cảnh Ðại phạm thiên và luôn cả ba cảnh: Phạm phụ thiên, Phạm chúng thiên, Phạm thân thiên. Và Ngài làm chủ luôn toàn cõi Ta bà Tam thiên đại thiên thế giới này. Người ta cũng gọi Ngài là: Ðại phạm vương hay Phạm vương.

Tự Tại Thiên Vương:Vị Tiên trưởng ( Thiên chủ ) ở cảnh cao hơn hết trong cõi Dục giới. Cũng viết: Tha hóa tự tại thiên.

Ðế Thích Thiên Vương: còn gọi là Thích đề hoàn nhơn hay Kiều thi ca. Ông là thiên chủ ở cõi trời Ðao lợi là từng trời thứ hai trong 6 cõi trời ở Dục giới. Sáu cõi trời Dục giới là: 1. Tứ thiên vương thiên. 2. Ðao lợi thiên. 3. Dạ ma thiên. 4. Ðâu Suất thiên. 5.

Hóa lạc thiên. 6. Tha hóa tự tại thiên. Trong lúc Phật thành đạo và các cuộc thuyết pháp, đều có mặt ông tham dự. Ông đã phát nguyện thường ủng hộ Phật pháp.

Ðâu Suất Thiên Vương: Vị vua ở cõi trời Ðâu Suất. Là cõi trời thứ tư trong 6 cõi trời ở Dục giới. Chữ Ðâu Suất dịch nghĩa là: Tri túc, Hỷ túc, Diệu túc, Thượng túc.

Trong Kinh Niết Bàn nói: Trong cõi Dục giới, cảnh Ðâu suất đà thiên là tốt đẹp hơn hết. Dưới cảnh ấy, chư Thiên có lòng phóng dật; trên cảnh ấy, chư Thiên có căn ám độn. Cho nên cảnh ấy là tốt hơn hết. Ai tu thí, tu giới, sẽ sanh cảnh trên, hoặc cảnh dưới. Ai tu Thí, Giới, Ðịnh sẽ sanh ở cảnh Ðâu suất thiên.

Có kinh chép rằng: một ngày một đêm ở cảnh Ðâu suất bằng 400 năm ở chốn nhơn gian.

Nếu tính theo một năm 360 ngày thì một năm ở cảnh trời Ðâu suất bằng 14 vạn 4.000 năm ở cõi này

Ðao Lợi Thiên Vương: Ðao lợi Trung Hoa dịch là Tam thập tam thiên, nghĩa là 33 cảnh trời, là cõi trời thứ nhì trong 6 cõi trời Dục giới. Cõi trời này ở chót núi Tu di. Ðế thích là vị Thiên chủ, ngự tại trung ương, cai quản hết 33 cõi trời.

Kinh Văn

Lại có Long Vương, Khẩn Na La Vương, Càn Thát Bà Vương, A Tu La Vương, Ca Lâu La Vương¼cùng vô số quyến thuộc câu hội.

Giảng giải

Sau khi nêu ra các vị Thiên vương ở các cõi trời Dục giới, tiếp theo đức Phật nêu bày

những loại tiêu biểu trong Bát bộ chúng. Bát bộ chúng gồm có:

1. Thiên:chư thiên ở 6 cảnh trời Dục giới, 4 trời tứ thiền Sắc giới, 4 nơi không Vô

sắc giới. Mình đủ quang minh, cho nên gọi là trời.

2. Long:loài rồng, như 8 vị Ðại long vương thính chúng trong hội Pháp Hoa.

- 10 -

3. Dạ xoa:chúng quỉ thần bay đi trong hư không.

4.Càn thát bà: các vị thần chuyên về âm nhạc ở cõi trời Ðế Thích vậy.

5. A tu la:các loại thần quả báo, trời mà chẳng phải trời, dung mạo xấu xa, mà đàn

bà thì rất đẹp, là loại thần thường chiến đấu chống Ðế Thích vậy.

6. Ca lâu la: thuộc các loại giống chim cánh vàng.

7. Khẩn na la:loại thần đầu như đầu người mà trên có sừng, cho nên nói người

chẳng phải người ( phi nhơn ) là bọn thần ca hát ở cung trời Ðế Thích vậy.

8. Ma hầu la già:thần đại mãng xà, là loại rắn bụng lớn, mình dài, bò mà đi. Cũng

có thứ mình là rắn mà đầu là người. Chính đó là rắn thần, rắn chúa.

Kinh Văn

Lại có Quốc mẫu Vi Ðề Hy hoàng thái hậu và vua A Xà Thế cùng hoàng tộc, quần thần câu hội.

Giảng giải

Ở trên, Phật nêu bày Bát bộ chúng, đến đây, Phật lại nêu ra những vị có oai quyền thế lực

trong xã hội. Ðứng đầu là Quốc mẫu Vi đề hy, tức hoàng thái hậu, là chánh hậu của vua

Tần bà sa la (Bimbisara), là mẹ của vua con A xà thế cùng với nhiều vị hoàng tộc và quần thần đến dự hội.

Vi Ðề Hy( Vaidehi ): Trung Hoa dịch là Tư Duy hoặc là Thắng Diệu Thân, chỉ cho

người có sắc thân xinh đẹp và hay lo lắng quán xuyến mọi việc. Khi Thái tử A xà thế bắt vua cha giam vào trong ngục thất, chính bà là người mang thức ăn và nước uống vào để

cho vua Tần bà sa la thọ dụng. Nhờ thế, mà nhà vua kéo dài thêm mạng sống. Sau khi

phát giác, bà bị A xà thế bắt đày vào trong cung cấm. Trong lúc đau khổ trào dâng ngút ngàn, bà hết lòng hướng về núi Kỳ xà quật để khẩn cầu Ðức Phật cứu hộ. Ðức biết rõ sự

việc, nên Ngài hiện hóa thân vào trong cung cấm để xoa dịu an ủi cho bà và nhân đó Phật

hiện nhiều cõi Tịnh độ để cho bà chọn lựa. Cuối cùng bà đã chọn cảnh giới Tây phương cõi Cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà. Và đó cũng là nguyên nhân mà Phật nói kinh Quán Vô Lượng Thọ.

A Xà Thế( Ajatasatru ), Trung Hoa dịch Vị sanh oán hay Chiết chỉ. Vị sanh oán là mối oán hận lúc chưa sanh ra, Chiết chỉ là ngón tay gãy. Theo truyền thuyết, "nguyên trước kia vua Tần bà sa la kém bề tử tức, đi lễ thần khắp các nơi, song cũng không sanh được

con. Một hôm, có vị tướng sư đến tâu rằng: ở núi Tỳ phú la có bậc tiên nhơn đạo đức, sau

3 năm sẽ xả mạng và thác sanh làm con của vua. Vua Tần bà sa la vì lớn tuổi muốn có

con gắp, sau đôi ba phen cầu thỉnh tiên nhơn xả thân mà không được, mới dặn sứ giết ông đi để cho mình có con sớm.

 

Trước khi chết, tiên nhơn có phát nguyện: "Ngày nay vua dùng tâm và miệng sai người giết tôi, nếu tôi sanh làm con vua, cũng sẽ dùng tâm và miệng sai người giết vua". Hôm tiên nhơn chết, đêm đó hoàng hậu cảm giác mình có thai. Lúc bà sắp tới ngày sanh, vua

 

 

 

- 11 -


cho mời danh sư trong nước xem tướng. Các tướng sư đều bảo:"Ðứa bé sẽ sanh là con

trai, nhưng vì có mối oán hờn đối với bệ hạ, sợ e ngày sau tất làm tổn thương đến thánh thể".Vua nghe nói lo lắng sợ hãi dặn cung nữ: khi hoàng hậu lâm bồn, đừng đỡ đứa bé,

để nó rớt xuống đất cho chết. Vì oan trái chưa trả xong, đứa bé tuy chỗ cao rớt xuống

nhưng không chết, chỉ bị gãy ngón tay út mà thôi. Do đó, khi lớn lên Thái tử A xà thế có tật nơi ngón tay út. Danh từ Vị sanh oán hay Chiết chỉ phát xuất bởi gốc tích trên. (Kinh

Quán Vô Lượng Thọ, do cố Hòa Thượng Thiền Tâm biên soạn tr 12 )

 

Kinh Văn

 

Lại có hơn năm trăm vị Trưởng giả cư sĩ của thành Vương Xá cùng vô số quyến

thuộc câu hội.Từ câu: chúng đại Tỳ kheo¼đến đây thuộc về "Chúng thành tựu".

 

Tất cả đại chúng đều cung kính cúi lạy dưới chân Phật, rồi lui ngồi một bên.

 

Giảng giải

 

Sau khi nêu bày thính chúng thuộc hàng vua quan có thế lực oai quyền cai trị, đến đây,

Phật lại liệt bày những vị Trưởng giả, tức những người thuộc giai cấp giàu sang có địa vị

trong xã hội. Ðồng thời, Phật cũng nêu ra những cư sĩ Phật tử, tất nhiên là những người có tín tâm tin kính nơi Tam bảo rất mực và nhất là tin nơi pháp môn niệm Phật mà đức Phật sắp sửa tuyên bày.

Một nghi thức rất thông thường thời Phật, khi thính chúng câu hội đông đủ, thường tất cả đại chúng đều quỳ xuống cúi lạy dưới chân Phật, mục đích là để biểu lộ tấm lòng tha thiết khao khát muốn nghe pháp. Họ bày tỏ bằng thái độ cung kính nghiêm trang, để thỉnh cầu

Ðức Phật. Có thế, thì sự nghe pháp mới có thể lãnh hội những gì quý giá mà Phật sẽ chỉ dạy.

So với Phật tử chúng ta ngày nay thì sao? Phải thành thật mà nói, có đôi khi chúng ta tỏ ra hơi khinh thường giáo pháp Phật dạy. Thật sự chúng ta không hết lòng cung kính và chỉ nghe cho có lệ. Chúng ta chưa bày tỏ được hết tấm lòng khát khao nghe pháp. Giáo

pháp Phật dạy là để trị ở nơi tâm bệnh. Pháp Phật là món ăn tinh thần quý giá để cho

chúng ta luôn quan tâm bồi dưỡng, vì tinh thần của chúng ta rất là đói khát và nghèo nàn. Muốn cho tinh thần được giảm bớt căng thẳng khổ đau, thì chúng ta không nên xao lãng khinh thường trong khi nghe pháp. Chúng ta nên noi gương và bắt chước người xưa, phải

thật tâm kính Phật trọng pháp. Có thế, thì sự nghe pháp của chúng ta mới thu thập nhiều lợi lạc.

Mong sao, trong khi nghe pháp, xin đại chúng hãy thật tâm lắng lòng tha thiết theo dõi bài pháp thoại mà những vị giảng sư đã thương xót chỉ bày. Ðược thế, thì sự nghe pháp của chúng ta mới thật sự có lợi ích thiết thực vậy.

- 12 -

Kinh Văn

Lúc bấy giờ, trong hàng Ưu bà tắc có một vị trưởng giả tên là Diệu Nguyệt, trú ngụ

tại thành Vương Xá, từng quy y Tam bảo và thọ trì năm giới cấm, cùng đến dự pháp hội.

Giảng giải

Ba chữ "Lúc bấy giờ" là chỉ cho thời gian thích hợp để đương cơ đại diện thính chúng đứng lên thưa hỏi.

Ưu bà tắc:Trung Hoa dịch là cận sự nam. Nghĩa là nam cư sĩ thường thân cận cúng

dường ủng hộ các bực xuất gia tu hành. Ðồng thời cũng gần gũi để phụng thờ phục vụ hộ trì Tam bảo.

Quy y Tam bảo:quy là trở về; y là nương tựa. Tam Bảo là Phật, Pháp, Tăng, tức ba viên ngọc quý. Quy y Tam bảo có nghĩa là trở về nương tựa với Ba viên ngọc quý: Phật, Pháp,

Tăng để phụng sự cúng dường tu học. Về nương tựa Phật không rơi vào địa ngục. Về

nương tựa Pháp không đọa vào ngạ quỉ. Về nương tựa Tăng, không bị đọa vào súc sanh.

Tuy nhiên, không phải quy suông mà được như thế. Vậy, phải quy y như thế nào mới

đúng nghĩa quy y?

Quy y Tam bảo có Sự quy y và Lý quy y. Về phần Sự là nương nơi hình thể Tam bảo thế gian để chúng ta tu tập. Như nương nơi Phật tượng, Kinh điển và chư Tôn đức Tăng Ni.

Tôn thờ Phật tượng, với mục đích chính là để chúng ta noi theo tấm gương trong sáng công hạnh tu hành giác ngộ giải thoát của Phật. Nương nơi Kinh điển, đó là những lời

vàng ngọc mà Phật Tổ đã chỉ dạy, để cho chúng ta y theo đó mà hành trì. Kinh điển như là bản đồ chỉ dẫn cho chúng ta biết rõ đường lối tu hành. Nhờ đó mà chúng ta không bị lầm đường lạc lối rơi vào con đường tà kiến ngoại đạo. Nương nơi các bậc xuất gia tu hành chơn chánh để chúng ta học hỏi những gì mà chúng ta chưa hiểu rõ. Nhờ có chư Tăng Ni chỉ dạy mà chúng ta mới được mở mang trí sáng để tu hành đúng theo chánh pháp. Ðó là nói sơ lược về phần Sự quy y là như thế.

Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ biết một bề quy y phần sự tướng không thôi, thì chưa đúng ý nghĩa trọn vẹn của hai chữ quy y. Phần sự tướng chỉ là phương tiện ngoại diện bước đầu để chúng ta tiến sâu vào phần lý tánh. Vì Phật dạy mỗi người chúng ta ai ai cũng đều sẵn có Tam bảo tự tâm. Ai ai cũng có khả năng thành Phật tác Tổ. Khả năng đó nó tiềm tàng

sâu kín trong tâm thức của mỗi người chúng ta. Chỉ cần chúng ta chịu khó xoay lại, tức hồi quang phản chiếu, hay phản quan tự kỷ, là chúng ta sẽ trực nhận được Tam bảo sẵn có nơi tự tâm mình.

Tuy sẵn có, nhưng vì từ vô thỉ kiếp đến nay, chúng ta bị vô minh nghiệp thức che đậy,

nên chúng ta không nhận ra được tự thể Tam bảo đó thôi. Nay nhờ đủ duyên lành, nương nơi Tam bảo bên ngoài để chúng ta nhận lại cái Tam bảo sẵn có của ta. Nhà Thiền gọi đó là: "kiến sắc minh tâm". Có nhận ra và thực sự trở về nương tựa với Tam bảo tự tâm như

thế, thì chắc chắn đảm bảo chúng ta sẽ không còn trôi lăn trong vòng sanh tử khổ đau

- 13 -

nữa. Vì sự lợi ích thiết thiệt của việc quy y Tam bảo lớn lao như thế, nên chúng ta phải

hết lòng quy kính tôn trọng thật hành.

Thọ trì năm giới cấm:Năm giới cấm còn gọi là năm nguyên tắc đạo đức căn bản của

người Phật tử tại gia. Năm giới gồm có:

1.Giới thứ nhất không được sát hại sinh vật.

 

Người Phật tử phải biết tôn trọng và bảo vệ mạng sống từ loài người cho đến các loài

sinh vật nhỏ nhít. Không nên vì mạng sống của mình mà nhẫn tâm chà đạp sát hại mạng

sống của những loài khác. Như thế, thì thiếu sự công bằng và tất nhiên, phải chịu quả báo

oán thù hiện đời và đời sau. Ðây không phải là lời đe dọa, mà là một sự thật theo luật

nhân quả. Bởi luật nhân quả báo ứng rất công bằng. Gây tạo nhân nào thì phải gặt hái quả

đó. Thế nên, Phật dạy người Phật tử nên ý thức sự khổ đau mà không nên sát hại muôn

loài. Nhất là đối với mạng sống của con người, cần phải được tôn trọng và bảo vệ. Do đó, người Phật tử xin phát nguyện gìn giữ giới không sát hại sinh vật này.

 

2. Giới thứ hai không được gian tham trộm cướp.

 

Là con người không một ai lại không biết quý tiếc tài sản của mình đã tạo ra. Có ai trong chúng ta mà không biết quý tiếc như thế không? Chắc hẳn là không. Thế thì tại sao mình

biết quý tiếc của cải tài vật của mình mà lại nhẫn tâm dùng mọi mưu chước cướp đoạt

chiếm hữu tài vật của kẻ khác. Như thế, thử hỏi có công bằng không? Hành động lén lấy,

hoặc công khai cướp giựt bằng mọi cách thế, gây đau khổ cho người khác, quả thật đây

không phải là hành động của con người có chút lương tâm tình người. Chỉ có những ai đã đánh mất lương tâm, lương tri và không còn tính người mới hành động như thế mà thôi.

 

Sống trong xã hội loài người, theo lẽ công bằng, chúng ta cần phải biết tôn trọng tài sản của nhau. Mình mất một món đồ quý giá, mình rất đau khổ mất ăn bỏ ngủ, thế thì tại sao mình lại chiếm đoạt cướp lấy tài sản của người khác? Ðó là hành động vừa trái với lương tâm đạo đức và cũng vừa vi phạm luật pháp thế gian, tất nhiên kẻ đó sẽ bị luật pháp trừng trị đích đáng. Người có hành động gian tham này, Phật nói kẻ đó đang làm nộ lệ cho lòng

dục vọng sai khiến, tất nhiên, sẽ lãnh lấy quả báo đau thương, không những hiện đời mà

cả đến đời sau nữa. Vì tôn trọng lẽ công bằng và tránh quả báo đau khổ hiện tại và mai sau, nên Phật dạy người Phật tử không được khởi tâm gian tham trộm cướp tài vật của người khác.

 

3. Giới thứ ba không được tà dâm.

 

Là người có nhân cách phẩm giá đạo đức của một con người, thì không ai lại có hành

động nhẫn tâm phá hoại gia cang của người khác. Mình muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình

của mình cho được trong ấm ngoài êm, thì tại sao mình lại đi phá nát hạnh phúc của kẻ

khác? Hành động dâm ô, cưỡng hiếp, ấu dâm¼làm cho người khác phải chịu đau khổ vì mình, thử hỏi mình có còn là một con người nữa không? Làm người mà đã mất hết nhơn tính, thế thì làm sao hơn các loài thú được? Con người sở dĩ hơn các loài động vật khác, là vì con người có những đức tánh đạo đức cao quý hơn. Tôn trọng bảo vệ hạnh phúc của

 

 

 

- 14 -


người khác cũng chính là bảo vệ hạnh phúc của chính mình. Ðã có biết bao gia đình tan

nát, tán gia bại sản, vợ chồng con cái ly tán, cũng chỉ vì người ta không kềm hãm được

lòng dục vọng, nên mới gây ra cảnh tang thương, khốc hận bi lụy của sự đổ vỡ nầy. Vì nô

lệ dục vọng, mà người ta đã xâm phạm phá nát trinh tiết của bao kẻ ấu thơ vô tội. Họ đã

nhẫn tâm gây ra cảnh đồi bại và rồi để lại vết thương lòng cho tuổi trẻ hồn nhiên khó mong tẩy sạch.

 

Vì muốn bảo đảm sự an vui hạnh phúc cho gia đình cũng như cho những người khác, nên Phật cấm người Phật tử không được làm việc tà hạnh. Do đó, người Phật tử cần phải giữ giới không được tà dâm.

 

4.Giới thứ tư không được nói dối.

 

Ðạo Phật là đạo tôn trọng sự thật. Người Phật tử tu theo đạo Phật, thì chúng ta quyết

không thể nói sai sự thật. Người nào nói sai sự thật là người đó đã tự hạ thấp phẩm giá

đạo đức nhân bản của chính mình. Thử nghĩ, trong gia đình ai cũng gian xảo, nói láo, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nghĩa là, chuyện gì họ cũng có thể đặt điều dựng lên, chuyện

không nói có, chuyện có nói không, không ai còn tin ai, như thế, thì thử hỏi gia đình đó

sẽ ra sao?

 

Thậm chí, cả xã hội không một ai còn nói sự thật, mở miệng ra toàn là láo khoét, dối trá,

lường gạt, bịp người, tất cả không còn tin tưởng nhau, thế thì, thử hỏi xã hội đó sẽ ra

sao?

 

Nếu như toàn thể nhơn loại đều dùng mọi thủ đoạn tranh nhau nói láo, lường gạt thiên hạ,

có bao nhiêu chiêu thức tuyệt xảo láo khoét, họ đều tung ra hết. Mục đích chỉ lợi cho

mình ai chết mặc ai, như thế, thì thử hỏi đời sống của nhơn loại sẽ ra sao?

 

Trong gia đình không ai còn tin ai, ngoài xã hội cũng không ai tin ai, tất cả đều nghi ngờ

không còn tin tưởng nhau. Thế thì, thử hỏi có còn là xã hội loài người nữa hay không?

Sở dĩ còn gọi là xã hội loài người, ít ra, con người cũng còn có chút ít nhân bản đạo đức. Còn biết tôn trọng sự thật lẫn nhau. Nếu như đạo đức nhân bản đã hoàn toàn mất hết, con người không còn biết tôn trọng sự thật nữa, thế thì than ôi! Đó thật là đại họa cho xã hội

loài người rồi!

 

Chúng ta nên biết rằng, hậu quả của sự nói dối rất tai hại cho uy tín cá nhân, một khi

người ta đã biết mặt mình rồi, thì không còn ai tin tưởng nơi mình nữa. Người như thế,

thì không còn giá trị nhân phẩm của đạo làm người. Có những trường hợp Phật khai cho nói dối không thành tội. Như nói dối vì mục đích cứu người, cứu vật khỏi chết v.v¼thì

không phạm tội. Ngoài ra, đều phạm tội cả. Thế nên, vì muốn cho đời sống của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội, còn có giá trị đạo đức nhân bản, tôn trọng sự thật và tin tưởng lẫn nhau, nên Phật răn cấm người Phật tử không được nói sai sự thật.

 

5. Giới thứ năm không được uống rượu.

 

 

 

 

 

 

- 15 -


Rượu tuy nó không phải là chất độc hại người, nhưng nếu người ta sử dụng nó một cách

thái quá, thì nó sẽ trở thành gây ra cho con người một tai hại rất lớn. Khi uống rượu quá

lượng định, người ta sẽ mất hết tỉnh táo, không còn kiểm soát được tâm trí, lời nói và hành động. Từ đó, dễ gây ra tai hại cho mình và người. Ðạo Phật chủ trương giác ngộ, tỉnh thức, sáng suốt, muốn thế, trước tiên chúng ta phải điềm tỉnh, minh mẫn, nếu như

uống rượu vào quá chén, thì còn đâu minh mẫn sáng suốt nữa. Thật là một tai hại rất lớn

cho trí tuệ của ta. Vì khi uống rượu vào, tâm trí cuồng loạn, mất hết bình tĩnh, dễ nóng nảy sân hận, và từ đó việc gì họ cũng dám làm, bất kể tội lỗi, không màng đến đạo đức lương tri.

 

Hậu quả của việc uống rượu quá chén này, đã gây ra biết bao nhiêu lỗi lầm sai trái. Hằng ngày, xảy ra biết bao nhiêu cảnh tượng tai nạn thương vong khủng khiếp, gây ra biết bao đau khổ cho mình và người. Ðây là một họa hại cho cá nhân và xã hội. Ngày nay, người ta thống kê những tai nạn xảy ra hằng ngày, gây nên cảnh thiệt hại cho cá nhân, gia đình

và xã hội, phần lớn là do người ta uống rượu quá chén say sưa gây nên. Ðó là chưa nói đến tác hại của rượu gây nên những chứng bệnh nan y thật khó trị liệu và cuối cùng đưa đến cái chết.

 

Vì lợi ích cho mình và người, Phật dạy người Phật tử tuyệt đối không được uống rượu và

các thứ ma túy khác, như hút chích á phiện, cần sa v.v¼Vì những thứ này, một khi

người ta đã nghiện ngập rồi, thì hậu quả đưa đến một tai hại cho con người không thể nào

lường được. Thế nên, vì hạnh phúc cá nhân, gia đình, và xã hội, Phật cấm người Phật tử

không được uống rượu. Ngoại trừ khi bệnh hoạn đau yếu, thầy thuốc bảo phải cần đến thuốc rượu, thì mới được tạm dùng, nhưng khi lành bệnh, thì không được tiếp tục uống nữa. Nếu tiếp tục uống thì phạm giới cấm không được uống rượu này.

 

Ðoạn văn Kinh trên nêu ra, trưởng giả Diệu Nguyệt là một thiện nam, đã từng thọ tam

quy và thọ trì năm giới cấm. Là một trưởng giả giàu có sang trọng, ở vào giai cấp địa vị cao trong xã hội, nhưng ông đã phát tâm dõng mãnh thường tới lui tinh xá cúng dường

nghe Phật thuyết pháp. Chắc chắn ông phải là một Phật tử rất thuần thành. Ðọc tiếp phần Kinh văn sau đây chúng ta sẽ thấy rõ điều đó.

 

Kinh Văn

 

Vị trưởng giả này từ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp quá khứ, từng gần gũi thừa sự

cúng dường vô lượng vô biên muôn ức hằng hà sa Ðức phật, y theo chánh pháp tu hành.

 

Giảng giải

 

Ðọc qua đoạn văn Kinh này cho chúng ta thấy, trưởng giả Diệu Nguyệt vô lượng kiếp

trong quá khứ đã từng thừa sự cúng dường vô lượng vô biên hằng sa chư Phật. Ðây là nói lên sự gieo trồng thiện căn gieo nhân duyên Phật pháp trải qua không biết bao nhiêu kiếp

của ông. Ngày hôm nay, chúng ta được cơ duyên nghe pháp, nhất là nghe được quyển

Kinh nói về Niệm Phật Ba La Mật này, tất nhiên, chúng ta cũng đã trồng sâu căn lành trải qua nhiều đời nhiều kiếp mới được như thế.

 

 

 

- 16 -


Ngoài việc gây nhân duyên với Phật pháp, chúng ta còn gieo trồng hạt giống tịnh nghiệp

với pháp môn Tịnh độ. Bằng chứng là sự có mặt của chúng ta trong pháp hội giảng kinh hôm nay. Nếu chúng ta không có nhân duyên gần gũi Phật pháp, thì làm gì chúng ta có

mặt hôm nay? Ðiều đó, còn nói lên một ý nghĩa là chúng ta đã lăn lộn nổi trôi trong vòng

lục đạo sanh tử từ vô thỉ kiếp đến nay. Như vậy, chứng minh rằng, chết đâu phải là mất hẳn. Nếu chết là mất hẳn, thì chắc chắn chúng ta không có mặt ở đây.

 

Vì đã mất tiêu tan hết thì còn gì có mặt. Thê thì, chúng ta vững tin rằng, chết chỉ là một

chuyển biến thay đổi từ trạng thái này qua hình dạng khác mà thôi. Hiểu như thế, thì

chúng ta nên cố gắng gây tạo duyên lành với Phật pháp. Như quy y Tam bảo, gìn giữ năm giới cấm Phật dạy, tu tạo nhiều phước đức v.v¼tất nhiên, là chắc chắn chúng ta sẽ được tái sanh làm người có đầy đủ phước báo tốt đẹp.

 

Còn nếu như chúng ta cố gắng niệm Phật hằng ngày và phải niệm cho đúng phương pháp mà Phật tổ đã chỉ dạy, thì chắc chắn chúng ta sẽ được vãng sanh thôi. Chẳng những vãng sanh sau khi chết, mà chúng ta còn vãng sanh ngay trong hiện đời này. Vì hằng chí thành

thiết tha niệm Phật, thì làm gì chúng ta có khổ. Ðã không có khổ, tất nhiên là được an

vui. Như vậy, không vãng sanh là gì? Vãng là vượt qua nỗi khổ; sanh là sanh ra niềm vui. Như vậy, khi chúng ta thiết thiệt niệm Phật, thì chúng ta đã vãng sanh qua từng phút giây rồi.

 

Ông trưởng giả Diệu Nguyệt sở dĩ ông có mặt trong pháp hội thuyết Kinh Ba La Mật này, chứng tỏ, ông là người có nhân duyên sâu dày với kinh này nói riêng, và pháp môn Niệm

Phật nói chung. Hơn thế nữa, ông đã trải qua nhiều đời thật hành hạnh Bồ tát, với hình thức của một vị cư sĩ, để dễ gần gũi làm lợi ích cho chúng sanh.

 

Thời Phật cũng như các thời đại sau đó, có nhiều vị Bồ tát hiện thân cư sĩ. Họ có đủ tài

đức hết lòng ủng hộ và xiển dương Phật pháp. Những vị ấy đóng vai trò ngoại hộ thiện tri

thức. Có nhiều vị, ngoài việc hộ trì xiển dương chánh pháp, bản thân họ thì luôn chuyên cần nỗ lực tu hành đạt đạo. Ở Việt Nam, đời Trần, có vua Trần Thái Tông và Ngài Tuệ

Trung Thượng Sĩ v.v¼Ở Trung Hoa, đời Ðường, thì có ông cư sĩ Bàng Long Uẩn và rất nhiều vị khác.

 

Ðiều quan trọng của đoạn văn kinh trên, chúng ta nên chú ý là cư sĩ Diệu Nguyệt lúc nào

cũng: "y theo chánh pháp tu hành". Nhờ y theo chánh pháp tu hành, nên kết quả ông

mới được như thế. Chúng ta nên phát nguyện, dù sanh ra ở bất cứ nơi đâu, cũng phải gặp Phật pháp và cũng phải "y theo chánh pháp tu hành". Nếu không, khi bị lầm lạc vào con

đường tà ngoại rồi, thì than ôi! đời của chúng ta sẽ bị chìm đắm mãi mãi trong biển đời

đầy khổ đau hệ lụy tang thương hết phương cứu chữa!

 

Kinh Văn

 

Hiện tại làm thân cư sĩ, vợ con đông nhiều, nhà cửa nguy nga, kho đụng dầy rẫy. Tuy ở giữa cảnh ràng buộc mà vẫn trưởng dưỡng tâm trí giải thoát. Tuy hưởng

dụng ngũ dục thế gian, nhưng vẫn hoài bảo đại nguyện độ sanh của chư Ðại Bồ Tát.

 

 

 

- 17 -


Tuy ở trong chốn bùn lầy dơ bẩn mà vẫn sẵn sàng xả ly thân mạng tài sản, quyến

thuộc để gieo trồng hạt giống Bồ Ðề. Tuy ở trong căn nhà lửa chập chùng hiểm nạn,

mà vẫn thực hành Tuệ Giác Vô Lậu, hết lòng thương tưởng chúng sanh như con một, thể hiện pháp thí oán thân bình đẳng.

 

Giảng giải

 

Ðọc qua các đoạn văn trên, nếu so sánh giữa trưởng giả Diệu Nguyệt và trưởng giả Duy

Ma Cật, chúng ta thấy phần lớn là giống nhau. Cả hai đều giàu có sang trọng, đều trải qua

vô lương A tăng kỳ kiếp cúng dường vô lượng chư Phật. Cả hai đều là Bồ tát hiện thân,

mang hình thức cư sĩ có vợ con, có tất cả những gì mà người đời đều có. Nhưng tâm cảnh

của hai người vượt hơn người thường rất nhiều. Dù sống giữa cảnh đời trần tục, nhưng hai ngài không bao giờ đắm nhiễm. Ðiểm đặc biệt siêu việt đó, người thường không thể

nào so sánh được. Các ngài lợi dụng hình thức cư sĩ để tiện bề gần gũi giáo hóa chúng

sanh. Chỉ có điều khác hơn là, trưởng giả Duy Ma Cật giả bệnh vì những người đến thăm bệnh mà tùy cơ thuyết pháp, khiến cho họ phát tâm vô thượng Bồ đề.

 

Bây giờ, chúng ta sẽ tuần tự phân tích tìm hiểu qua từng đoạn văn trên, để thấy đời sống giữa đời và đạo của Bồ tát Diệu Nguyệt như thế nào.

 

"Hiện tại làm thân cư sĩ, vợ con đông nhiều, nhà cửa nguy nga, kho đụng đầy rẫy".

 

Trong hàng đệ tử của Phật, nói chung gồm có hai chúng: Xuất gia và tại gia. Phật tử tại

gia, còn gọi là cư sĩ, có gia đình và có đời sống rất bình thường như bao nhiêu người

khác. Ðã có gia đình, thì phải có mưu cầu cho sự sống. Ðời sống không thể thiếu những nhu cầu vật chất. Trường hợp trưởng giả cư sĩ Diệu Nguyệt, sở dĩ ông được giàu có sang trọng nhà cửa nguy nga, kho đụng đầy rẫy, được hưởng phước báo hơn những người bình thường, là do nhiều đời trước, ông đã khéo gây nhân tốt, tu tạo nhiều phước đức. Như bố thí cúng dường và làm nhiều điều phước thiện khác. Do đó, nên hôm nay, ông mới được kết quả có đời sống sung túc như thế. Ðiều này cho chúng ta một bài học về lý nhân quả

rất rõ. Hễ đã gây nhân tốt, tất nhiên sẽ được quả tốt. Có tâm hồn rộng rãi, tu nhân tích đức, cúng dường bố thí, cứu giúp thi ân cho những kẻ cơ bần, tàn tật v.v¼tất nhiên sẽ được quả báo giàu có sang trọng hơn người.

 

Tuy ở giữa cảnh ràng buộc mà vẫn trưởng dưỡng tâm trí giải thoát. Tuy hưởng dụng ngũ dục thế gian, nhưng vẫn hoài bảo đại nguyện độ sanh của chư Bồ tát.

 

Ðây là điều mà người Phật tử tại gia bình thường thật khó làm. Nếu không có một đại thệ

nguyện vững chắc và một lập trường kiên định, thì không thể nào thực hiện nỗi. Trong cuộc sống ngoài đời, ngoài việc mưu sinh cho gia đình ra, người Phật tử còn phải giao

tiếp thù tạc với bạn bè và trực diện với bao nhiêu thứ rắc rối phiền toái ngoài xã hội.

Nghĩa là, người Phật tử phải đối diện với bao nhiêu thứ ràng buộc ở nơi thân tâm, thế mà người Phật tử vẫn giữ vững đạo tâm và không để cho ngoại cảnh chi phối buộc ràng, vẫn trưởng dưỡng được tâm trí giải thoát.

 

 

 

 

 

 

- 18 -


Ðó là chưa nói đến sống trong sự giàu sang, hưởng dụng đủ mọi thứ dục lạc thế gian,

nhưng, người Phật tử vẫn luôn nghĩ đến mọi người, làm những điều lợi ích cho tha nhân.

Ðiều này, nếu không phải là tâm nguyện của Bồ tát, phát thệ rộng lớn, đi vào cuộc đời, làm lợi ích cho chúng sinh, thì không thể nào làm được. Tuy rất khó khăn, nhưng không

phải người Phật tử tại gia không làm được. Ðiều này, trong lịch sử Phật giáo đã chứng minh cho chúng ta thấy, có nhiều vị cư sĩ Phật tử đã sống và giải thoát ngay trong lòng cuộc đời. Ðây gọi là hòa quang đồng trần vậy.

 

Ðiều chúng ta cũng nên chú ý, là tùy theo khả năng, thiện căn, tâm nguyện và hoàn cảnh

sống của mỗi người mà việc làm lợi mình lợi người thích nghi có khác. Vì Bồ tát có

nhiều hạng cao thấp khác nhau. Ðối với hàng sơ phát tâm Bồ tát, thì họ làm những gì có

lợi ích cho mình và tha nhân trong phạm vi nhỏ hẹp. Thật hành vừa với khả năng và hoàn

cảnh hiện thực của mình. Tuy nhiên, khi dấn thân lăn xả vào đời thực hiện, điều quan

trọng trước tiên, là người Phật tử phải làm sao cho trong gia đình của mình được hòa ái, an vui. Ðó là điều mà người Phật tử phải vận dụng trí huệ và tình thương cư xử khéo léo

để cho mọi thành viên trong gia đình luôn được sống trong sự hài hòa êm đẹp. Có thế, mới thật sự an lạc hạnh phúc.

 

Tuy ở trong chồn bùn lầy dơ bẩn mà vẫn sẵn sàng xả ly thân mạng tài sản, quyến

thuộc để gieo trồng hạt giống Bồ Ðề. Tuy ở trong căn nhà lửa chập chùng hiểm nạn,

mà vẫn thực hành Tuệ Giác Vô Lậu, hết lòng thương tưởng chúng sanh như con một, thể hiện pháp thí oán thân bình đẳng.

 

Ðoạn văn trên cho chúng ta một hình ảnh giải thoát tuyệt đẹp. Hình ảnh của một con

người chỉ nghĩ đến lợi ích cho người mà quên mình. Ðó là tinh thần xả kỷ vị tha của Bồ tát. Khác nào như hoa sen mọc lên từ trong bùn lầy nước đọng hôi nhơ, thế mà không bị

nhiễm ô bởi những thứ bùn nhơ ô uế đó. Bồ tát sẵn sàng xả ly mọi thứ kể cả tài sản và thân mạng. Dù sống trong cõi đời đầy hận thù tranh chấp, bảo thủ vị kỷ, đảo điên thác

loạn, nhơn tâm ly tán, đạo đức suy vi, nhưng không phải vì thế mà xã hội loài người lại vắng bóng những con người xả thân hành thiện cứu thế.

 

Những người này, họ âm thầm đi vào cuộc đời với nhiều dạng thức khác nhau. Họ không

khoe khoan hay phô trương bằng những thứ nhãn hiệu rẻ tiền kêu to. Họ cảm thông nỗi

khổ đau của con người. Từ đó, họ mang tất cả tình thương của một con người để xoa dịu những nỗi khổ niềm đau cho những kẻ bất hạnh xấu số. Họ bất chấp gian lao khổ cực. Họ hy sinh làm việc vất vả cả ngày lẫn đêm trong âm thầm ở những nơi mà một số người bất hạnh hiện đang hứng chịu. Như các trại: bệnh cùi, cô nhi khuyết tật, những người tàn phế

v.v¼

 

Họ là ai? họ là một con người có đủ xương thịt bình thường như bao nhiêu con người khác, nhưng họ có một tâm hồn vị tha rộng lớn. Ðó là Bồ đề tâm của họ rộng mở vượt

thoát hơn những trái tim khô cứng của những con người chỉ biết vì mình ai chết mặc ai.

Bồ tát khác hơn phàm phu là ở chỗ đó. Nếu cần, họ sẵn sàng bố thí tài vật kể cả thân mạng mà không một chút hối tiếc.

 

 

 

 

 

 

- 19 -


Bồ tát thị hiện dưới mọi dạng thức, không phân biệt phái tính và màu da chủng tộc.

Không phân biệt là người ở phương Ðông hay phương Tây. Bất cứ ở đâu, phương trời

nào, miễn họ có một trái tim rộng mở nồng thắm cao thượng, hiểu biết thương người và

đem hết nhiệt tâm cứu giúp cho mọi người thoát khổ, thì người ta gọi họ là Bồ tát. Họ

không cần mang danh hay nhãn hiệu của bất cứ một Tôn giáo nào. Họ chỉ biết họ là một

con người cảm thông những nỗi khổ đau của con người. Họ làm với một tinh thần thương

yêu xả kỷ trong thâm tình đồng loại. Họ không cần hiểu gì thêm. Ðó là tinh thần vô trụ tướng hay bất vụ lợi. Họ làm với động cơ hỷ xả, mang lại tình người thắt chặt gần nhau hơn.

 

Ðối với người Phật tử, có đôi khi chúng ta mệnh danh là Phật tử, nhưng tâm trí của chúng

ta thì còn quá nhỏ hẹp. Trái tim thương yêu loài người của chúng ta thật sự chưa mở

rộng. Phần nhiều, chúng ta còn đóng khung trong bản ngã, trong gia đình thân tộc. Chúng

ta chưa mở rộng trái tim trong tinh thần vị tha nhân ái bất vụ lợi của Bồ tát. Dù chúng ta đã lãnh thọ giới Bồ tát.

 

Ngược lại, có những người họ không thọ giới Bồ tát, hay ngay cả họ cũng không mệnh danh là Phật tử, nhưng họ có một tấm lòng, một trái tim cao cả rộng lớn. Họ luôn quan tâm nghĩ nhiều về thân phận của những con người bạc phước. Họ làm nhiều việc thiện

nguyện, cứu giúp biết bao người trong cơn hoạn nạn đói khát khổ đau hay những kẻ dốt nát tật nguyền. Bao nhiêu tiền bạc của cải kiếm được, họ đều hiến tặng bố thí cho những con người bất hạnh đó. Ðó là điều mà chúng ta phải nghiêng mình kính cẩn bái phục họ. Chúng ta nên học theo họ. Ðó là hạnh nguyện vị tha cao cả của Bồ tát.

 

Hiện chúng ta đang sống trong ngôi nhà lửa Tam giới, bị những ngọn lửa vô thường,

tham dục luôn đốt cháy chúng ta trong từng giây phút. Nhưng chúng ta nào có hay biết, cứ một bề đùa giỡn vui chơi, khác nào như những đứa con của ông trưởng giả ham thích

chạy nhảy nô đùa trong căn nhà lửa như trong Kinh Pháp Hoa đã diễn tả. Muốn thoát

khỏi căn nhà lửa hiểm nguy đó, thì chỉ có một con đường duy nhất, đó là Tuệ Giác. Có

"Tuệ giác Vô lậu", thì chúng ta mới dẹp phá hết vô minh phiền não. Khi những thứ phiền não nhiễm ô không còn, thì chúng ta mới thực sự là được giác ngộ giải thoát. Chừng đó,

chúng ta mới có đủ nguyện lực của một vị Bồ tát mà lăn xả vào đời để hóa độ chúng sanh.

 

Với trí giác thật hành pháp thí bằng hạnh nguyện từ bi vị tha bình đẳng của Bồ tát, thì

không còn phân biệt kẻ oán người thân. Bởi vì giáo pháp của Phật là nhứt vị bình đẳng, khác nào như một đám mưa, tùy theo cỏ cây lớn nhỏ mà hấp thụ có sai khác. Sai khác là ở nơi cỏ cây chớ không phải ở nơi đám mưa. Dù cỏ cây lớn nhỏ có sai khác, nói rõ ra là căn cơ trình độ của chúng sanh có khác nhau, nhưng tất cả đều được thấm nhuần và đều

được độ thoát hết. Bồ tát nói pháp cũng thế. Các Ngài không phân biệt thân sơ xem tất cả như con một. Ðó mới thực sự là pháp thí từ bi bình đẳng vậy.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

- 20 -


Kinh Văn

 

Trưởng giả Diệu Nguyệt từ trong đại chúng bước ra, đi nhiễu quanh đức Phật ba vòng. Rồi đến trước Như Lai, chắp tay quỳ xuống, gối bên hữu chấm sát đất, cung

kính bạch với Ðức phật rằng:

 

Giảng giải

 

Ðây là phần thưa hỏi của trưởng giả Diệu Nguyệt. Thông thường, trong pháp hội Phật nói pháp, người đại diện trong thính chúng đương hội đứng ra thưa hỏi, trước tiên, phải thực hiện đúng theo pháp nghi thưa thỉnh. Ðây là một tập tục lễ nghi thời Phật. Nghi thức này như là một thông lệ chung cho tất cả các hội thuyết pháp. Một nghi thức tuy biểu dương

bằng hình thức cung kính bên ngoài, nhưng thực chất bên trong cũng đã nói lên được tấm lòng tha thiết khát khao muốn nghe giáo pháp Phật dạy. Tất cả đồng cung kính chí thành

lắng tâm để lóng nghe. Ðiểm này, chúng ta cũng nên lưu tâm bắt chước noi gương các Ngài trong khi sắp sửa nghe pháp. Có thế, thì chúng ta mới lãnh hội trọn vẹn yếu nghĩa qua những lời Phật dạy.

 

Kinh Văn

 

Hi hữu Thế Tôn! Hi hữu Thế Tôn! Ðược làm thân người là khó, như con rùa gặp

bộng cây nổi, nhưng được gặp Phật ra đời còn khó gấp muôn phần. Gặp Phật ra đời

đã khó, nhưng được nghe Chính Pháp lại còn khó gấp muôn phần. Ðược nghe

Chính Pháp đã khó, như làm thế nào để nương theo giáo nghĩa tu tập lại còn khó gấp vô lượng phần.

 

Giảng giải

 

Mở đầu thưa thỉnh, trước tiên, trưởng giả Diệu Nguyệt xưng tán ngợi khen sự có mặt của

Ðức Phật hiện tại, đây là điều hy hữu không phải dễ dàng gặp Phật. Bốn chữ: "Hi hữu Thế Tôn!"được lặp lại hai lần là nói lên ý nghĩa đó. Ðó cũng là lời mỡ màng cho việc gặp Phật ra đời rất khó ở văn sau.

 

Ðọc qua đoạn văn trên, chúng ta thấy trưởng giả Diệu Nguyệt nêu lên bốn điều khó được

rất là rõ rệt:

 

Thứ nhứt,là cái khó được làm thân người. Ngài diễn tả cái khó này, như con rùa mù chui vào bộng cây khô ở giữa biển nước bao la. Nghiệm lại, theo kinh dạy, được thân

người kỳ thật không phải là chuyện dễ dàng. Con người là một trong sáu loài: "địa ngục,

ngạ quỷ, súc sanh,trời, và A tu la". Trong sáu con đường đó, thì có ba con đường khổ:

"địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh". Ðược làm người là đã thoát ra khỏi ba con đường cực kỳ khổ đau này rồi. Như vậy, đủ chứng minh rằng, đời trước, ít nhiều gì, chúng ta cũng có tu hành, ăn chay, giữ giới làm lành lánh dữ, nên nay mới được báo thân người. Ðã được làm người mà lại có 6 căn đầy đủ trọn vẹn, thật cũng không phải là chuyện dễ dàng. Như vậy, chứng tỏ sự tu hành đời trước của chúng ta cũng không đến nỗi tệ lắm.

 

 

 

 

- 21 -


Nếu xét về giá trị con người trong sáu loài, thì loài người có một giá trị cao hơn. Vì loài

người có thiện, có ác, có vui, có buồn lẫn lộn. Chính vì thế, nên con người mới dễ thức

tỉnh tu hành. Và nếu gắng công nỗ lực tiến tu, thì con người cũng dễ tiến lên đạt thành

thánh quả. So với các loài kia, như các loài: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, trong tam đồ, thì than ôi! làm gì chúng gặp được Phật pháp để tu hành. Sự thọ báo của chúng rất là nặng nề khổ sở. Còn cõi trời hay A tu la, thì họ chỉ lo một bề hưởng phước hành lạc thỏa thích vui chơi đâu còn nhớ gì đến việc tu với hành. Vả lại, họ cũng đâu có gặp Phật pháp để tu. Một khi đã hưởng hết phước báo rồi, thì họ phải đọa trở lại nhơn gian để tiếp tục thọ

khổ. Như vậy, chỉ có cõi người mới đủ thắng duyên gặp được phật pháp. Nên nói được thân người rất là khó vậy.

 

Thứ hai,là cái khó không gặp được Phật ra đời. Nếu gặp được Phật, thì chắc chắn, chúng ta không có mặt ở đây. Bởi gặp được phật là một nhân duyên hy hữu thù thắng rất lớn và chúng ta đã tu hành giải thoát rồi. Nói gặp Phật ở đây, xin hiểu là gặp Phật ứng thân, chớ

không phải gặp Phật pháp thân. Bởi chúng ta nghiệp chướng sâu nặng, nên không gặp

được Phật ra đời. Vì vậy, nên cổ đức có lời than:

 

Phật tại thế thời ngã trầm luân Kim đắc nhơn thân Phật diệt độ

Áo não thử thân đa nghiệp chướng

Bất đắc Như Lai kim sắc thân

 

Nghĩa là:

 

Khi phật ra đời thì ta bị trầm luân

Nay được thân người thì Phật đã diệt độ

Buồn thay! Cho cái thân này nhiều nghiệp chướng Không thấy được thân sắc vàng của Như Lai.

 

Ngày nay, tuy chúng ta vô phước không gặp được Phật ứng thân, nhưng chúng ta cũng còn có chút phước là gặp được giáo pháp của Ngài. Phật ứng thân thì không gặp, nhưng

Phật pháp thân, nếu chúng ta cố gắng nỗ lực gia công tu hành, thì chắc chắn một ngày

nào đó, chúng ta cũng sẽ gặp được mà thôi. Phật pháp thân mới là ông Phật thiệt của

chính mình. Khi đã nhận và sống được với Phật pháp thân của chính mình, thì chúng ta không còn đi lang thang trong vòng luân hồi khổ đau nữa. Ðó là nói cái khó thứ hai.

 

Thứ ba,là cái khó không gặp được chánh pháp. Cái khó này, đối với chúng ta hiện nay, thì không còn khó nữa. Vì ít ra, chúng ta cũng còn gặp được giáo pháp của Phật. Chẳng

những gặp thôi, mà chúng ta còn học hỏi tu tập. Như vậy, chứng tỏ chúng ta cũng còn có phước nhiều, không đến nỗi vô phần.

 

thứ tư,đây là điều khó sau cùng. Ðiều khó này là nương vào lời Phật dạy để tu tập. Ðiều

khó này, mặc dù chúng ta chưa thực sự làm hết sức mình, nhưng hiện chúng ta cũng đã và đang cố gắng thật hành. Chúng ta học hỏi nghe pháp những điều Phật tổ chỉ dạy, để

chúng ta y cứ vào đó mà cố gắng thật hành tiến tu từng bước. Ðã có khởi hành, thì trước sau mau chậm gì, tất chúng ta cũng sẽ tới đích. Cái đích mà chúng ta nhắm tới cuối cùng

 

 

 

- 22 -


là Phật quả. Chỉ trừ khi chúng ta không chịu cất bước khởi hành, thì chúng ta mới không

thể nào đạt được mục đích đó. Ðiều khó này, đối với chúng ta thì chúng ta hiện cũng đã

vượt qua. Vậy mỗi người chúng ta, nên nhịp nhàng cố gắng nắm lấy tay nhau mà tiến bước. Một cuộc hành trình mà chúng ta đã chọn sẵn pháp môn niệm Phật để ngày đêm thật hành. Thế thì, nhứt định là chúng ta phải đạt được kết quả tốt đẹp như ý muốn mà thôi.

 

Tóm lại, qua bốn điều khó mà trưởng giả Diệu Nguyệt nêu trên, kiểm lại, thì chúng ta

cũng có chút ít phước duyên vượt qua được ba điều. Chỉ còn một điều là không gặp được

Phật ra đời. Tuy không gặp được Phật trực tiếp, nhưng chúng ta cũng đã gặp được Phật

gián tiếp. Không phải hiện đời mà đã trải qua nhiều đời. Nếu không, thì làm gì ngày hôm

nay chúng ta có mặt tu học trong đạo tràng Quang Minh này. Hơn nữa, cũng không thể nào có mặt trong pháp hội nghe giảng kinh hôm nay. Ðó là điều mà chúng ta cảm nhận rất vui, vì chúng ta không phải là kẻ vô phần. Một điểm mà chúng ta cũng nên lưu tâm,

chẳng những hôm nay chúng ta gặp được Phật pháp, mà chúng ta còn gặp được một pháp

môn thù thắng trong tất cả pháp môn, đó là pháp môn Niệm Phật. Như vậy là vui trong cái vui, mừng trong cái mừng lắm vậy.

 

Kinh Văn

 

Bởi vì sao? Theo chỗ con xét nghĩ, thì trong tám muôn bốn ngàn pháp mầu mà Như Lai đã chỉ dạy, nhằm đưa hết thảy chúng sanh ngộ nhập Phật Tri Kiến, phải có một

pháp mầu cứu vớt những hạng chúng sinh tội khổ, mê đắm, xấu ác. Hôm nay con

phụng vì hết thảy chúng sanh tội khổ nơi thời mạt pháp, cũng như phụng vì các bậc

trưởng giả, cư sĩ, bà la môn, sát đế lợi, thủ đà la tại thành Vương Xá này, mà khẩn

cầu cầu Ðức Thế Tôn rủ lòng thương xót, ban cho chúng con một cách thức tu hành thật dễ dàng để giải thoát, một con đường thật vắn tắt để hoàn thành Phật Trí.

 

Giảng giải

 

Tiếp theo, Bồ tát Diệu Nguyệt nghĩ rằng, trong tám muôn bốn ngàn pháp mầu Ðức Phật đã chỉ dạy, tất cả, chỉ có một mục đích duy nhất là nhằm mở bày Phật Tri Kiến cho hết thảy chúng sanh. Ðiều này, Ngài Diệu Nguyệt muốn nêu bày rõ vể bản hoài ra đời của Ðức Phật. Chúng ta nhớ lại, ở phẩm Phương Tiện trong Kinh Pháp Hoa, Ðức Phật đã khẳng quyết tuyên bày rất rõ về vấn đề này.

 

Phật Tri Kiến là gì? Là thấy biết tất cả các pháp, mà không bị các pháp sai sử làm nhiễm

ô. Nói cách khác là thấy biết bằng trí giác sáng suốt không phân biệt. Trong Kinh Lăng Nghiêm nói là: "Bất tùy phân biệt". Vì còn phân biệt là còn rơi vào đối đãi nhị nguyên. Phật tri kiến là cái thực thể vượt ngoài đối đãi. Thấy biết mà còn có suy nghĩ thế này thế

nọ, thì đó là cái thấy biết mê lầm của chúng sanh. Chúng ta nên lấy hai câu Phật dạy

trong Kinh Lăng Nghiêm để làm chuẩn đích cho sự thấy biết, để có một nhận định rõ, đâu

là thấy biết "Giác" và đâu là thấy biết "Mê". Phật dạy:

 

Tri kiến lập tri tức vô minh bổn, Tri kiến vô kiến tư tức Niết bàn.

 

 

 

- 23 -


Nghĩa là:

 

Thấy biết mà lập thêm thấy biết, đó là cội gốc của vô minh.

Ngược lại, nếu thấy biết mà không lập thêm thấy biết, đây chính là Niết bàn.

 

Qua lời dạy này, như là một công thức chuẩn định gữa mê và ngộ, giữa chúng sanh và Phật. Ðức Phật đã xác minh cho chúng ta thấy rất rõ, cũng đồng là thấy biết, nhưng cái

thấy biết của vô minh và cái thấy biết của giác ngộ, hai cái thấy biết đó khác nhau rất xa.

Thấy biết mê là thấy biết theo vọng niệm phan duyên tạo nghiệp. Ngược lại, thấy biết

giác là thấy biết mà không dấy niệm phân biệt theo vọng duyên. Nghĩa là cái "thấy biết sáng suốt trong một niệm hiện tiền," đây gọi là liểu liểu thưởng tri.

 

Thấy biết như thế, gọi là Giác ngộ, là Niết bàn, là Phật. Nói cách khác cho dễ hiểu hơn, là

khi tiếp xúc với mọi cảnh trần, mà tâm chúng ta không khởi niệm dính mắc vọng chấp

vào trần cảnh, thì đó là thấy biết của Niết bàn an lạc giải thoát. Vì Niết bàn là giải thoát là

vô sanh. Còn dính kẹt, là còn mê lầm vọng chấp, thì làm sao giải thoát cho được? Mà có vọng chấp, thì còn khởi niệm, khởi niệm là bất giác. Như thế là trái với tánh giác. Mà trái với tánh giác là rơi vào trần lao. Ðó là đầu mối của sự tạo nghiệp thiện ác, để đi mãi trong vòng sanh tử luân hồi khổ đau bất tận.

 

Dù hành giả tu bất cứ pháp môn phương tiện nào, cứu cánh cũng phải nhắm đến Phật quả. Ðó là mục đích của Phật ra đời nhằm chỉ bày cho chúng sanh cái tiêu đích chính phải đạt đến. Ðó là điều mà Bồ tát Diệu Nguyệt đã xét nghĩ. Dù Phật có nói vô lượng

pháp môn phương tiện, nhưng mục đích cuối cùng cũng muốn đưa chúng sanh đến chỗ cứu cánh giải thoát đó thôi.

 

Tuy nhiên, theo Bồ tát Diệu Nguyệt, thì trong tám muôn bốn ngàn pháp mầu mà Ðức Phật đã chỉ dạy, thì phải có một pháp mầu cứu vớt những hạng chúng sanh tội khổ, mê

đắm, xấu ác. Do tư duy như thế, nên tiếp theo Bồ tát Diệu Nguyệt, vì hết thảy chúng sinh tội khổ trong thời mạt pháp, thời của ma vương quỷ quái lộng hành, phá hoại chánh pháp. Chúng dùng mọi xảo thuật, tà thuyết, để khuyến dụ người tu hành theo chúng. Ðồng thời, Ngài cũng xin thay mặt cho những vị có quyền thế, giàu có, trên từ những giai cấp thống

trị, dưới là giai cấp hèn mạt bị trị, trong phạm vi ở thành Vương Xá, mà tha thiết khẩn

cầu Ðức Phật chỉ bày cho một pháp môn tu thật dễ dàng, vắn tắt để chóng được giải thoát, viên mãn Phật Trí.

 

Kinh Văn

 

Như Ðức Thế Tôn từng chỉ dạy, đời mạt pháp các chúng sinh trong cõi Diêm Phù Ðề, ngỗ nghịch, tâm tạp, nghiệp nặng, mê đắm ngũ dục, không biết hiếu thuận cha mẹ, không biết cung kính Sư Trưởng, không thực lòng quy y Tam Bảo, thiếu năng

lực thọ trì năm giới cấm, làm đủ mọi chuyện tệ ác, phỉ báng Thánh Nhân v.v¼Cho

nên con suy gẫm như thế này, phải có một môn tu thật giản đơn, thật tiện lợi nhất, dễ dàng nhất để tất cả những chúng sanh kia khỏi đọa vào các dường ác, chấm dứt

 

 

 

 

- 24 -


luân chuyển sanh tử khắp ba cõi, được thọ dụng pháp lạc, sớm bước lên địa vị Vô

Thượng Chính Ðẳng Chính Giác.

 

Vì sao như vậy? Sau khi Như Lai diệt độ khoảng một ngàn năm trở đi, đó là thời kỳ Chính pháp cuối cùng, các kinh điển dần dần ẩn mất, chúng sanh căn cơ hạ liệt, ám

độn, ngã chấp sâu dày, tâm tưởng thô trệ, tà kiến lan tràn, say sưa làm các nghiệp ác để tự vui. Do đó, tự nhiên chiêu cảm động đất, đói kém, tật dịch, binh đao, bão

lụt, mất mùa, gió bão, thời tiết viêm nhiệt bức não. Thánh Nhân lại không xuất hiện.

 

Giảng giải

 

Muốn thành tựu con đường tiến đến Phật quả, như trên đã nói, thật không phải là chuyện

dễ dàng. Vì sao? để chứng minh cho điều khó đó, Bồ tát Diệu Nguyệt đã dẫn lời Ðức

Phật nói về nghiệp duyên và tâm cảnh của chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp ở cõi Ta bà này. Diêm phù đề chỉ là tên khác của thế giới Ta bà. Còn nói mạt pháp, tức chỉ cho

thời đại mà nhơn loại hiện đang sống đây. Về thời hạn của 3 thời kỳ: "chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp", thì có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết cho rằng sau khi Ðức Phật

diệt độ, chánh pháp trụ thế 500 năm, tượng pháp 1000 năm; có thuyết cho rằng chánh

pháp và tượng pháp, đều trụ thế 1000 năm, rồi mới đến thời kỳ mạt pháp, thời kỳ này trải qua 10.000 năm, sau đó thì Phật pháp diệt tận; có thuyết cho rằng chánh pháp 1000 năm, tượng pháp và mạt pháp mỗi thời kỳ 10.000 năm. Nhưng nhìn chung các Kinh Luận đều

cho thời kỳ mạt pháp là 10.000 năm. Ðó là người ta phân chia ước tính theo thời gian.

Tuy nhiên, nếu xét theo tâm địa của con người, thì chánh hay mạt là do ở nơi lòng người mà ra.

 

Trường hợp, như có người đang sống trong thời chánh pháp là thời kỳ mà Phật còn tại

thế, Ngài luôn luôn thuyết giáo hoằng pháp lợi sanh, nhưng lòng họ vẫn ác độc, vẫn

không tiếp nhận chánh pháp Phật dạy, chẳng những thế, họ còn khinh chê bài bác, lại tạo

nhiều nghiệp ác. Như vậy, đối với hạng người này, thì thử hỏi tâm địa của họ là chánh

hay mạt? Không phải người nào sống trong thời đại của Phật cũng đều tu chứng hết, cũng

có kẻ lòng dạ của họ ác độc còn hơn quỷ Dạ xoa, hay La sát. Ngược lại, không phải

người nào sống trong thời đại mạt pháp, cũng đều hung dữ hết. Cũng có người lòng dạ của họ rất hiền hòa lương thiện. Họ thường cứu đời, giúp người và có một đời sống rất

thánh thiện an lạc giải thoát. Như vậy, có thể đánh giá họ là mạt pháp được sao?

 

Nói tóm lại, theo tôi, chánh hay mạt là do ở nơi tâm địa của mỗi người. Tuy nhiên, nhìn chung, ở thời đại này, là thời pháp nhược ma cường, ma vương lộng hành. Phần lớn, con người vì nghiệp chướng sâu nặng, nên gây ra lắm điều tội ác hệ lụy, tổn mình hại người.

Vì sống nô lệ cho lòng dục vọng thấp hèn vị kỷ, nên con người luôn tranh chấp, đấu đá

sát hại lẫn nhau. Họ muốn chinh phục chiếm đoạt tất cả vật chất về mình. Họ là những kẻ

luôn trầm mình đắm chìm say mê theo ngũ dục lạc. Tâm họ bị những thứ vô minh phiền

não che phủ, tham đắm dính mắc vào 6 trần dục nhiễm. Cho nên, thời này còn gọi là thời ngũ trược ác thế.

 

Quả đúng như lời Phật dạy:"chúng sanh nghiệp chướng sâu dày, nham hiểm ác độc,

ương ngạnh cang cường, nan điều nan phục, thật khó giáo hóa". Bởi do, tâm si mê loạn

 

 

 

- 25 -


động, nên con người gây ra lắm điều họa hại làm khổ mình và khổ người. Ðối với cha

mẹ, họ không có lòng hiếu thảo. Họ chửi cha mắng mẹ, thậm chí họ còn sát hại cha mẹ

chết một cách thê thảm. Luân thường đạo nghĩa đối với họ chỉ còn là con số không. Ðến

các bậc sư trưởng, họ cũng không có lòng kính trọng. Họ mạt xát khinh chê một cách

trắng trợn. Dù rằng, họ được nên danh nên phận đều nhờ công lao dạy dỗ uốn nắn của các bậc trưởng thượng này. Quả thật nhơn tâm đạo đức làm người của họ đã mất hết.

 

Bởi do sống bê tha trên đà trục vật, làm nô lệ cho dục vọng sai sử, nên họ coi thường Tam bảo và khinh chê giới luật. Vấn đề này, thử nhìn vào thực trạng của xã hội loài

người hiện nay, thì chúng ta sẽ thấy rất rõ, biết bao cảnh tang thương thống khổ đã xảy ra

nhan nhãn hằng ngày. Nơi này chiến tranh, họ bắn giết tàn sát lẫn nhau. Nơi kia khủng

bố, họ gày chất nổ, ôm bom cảm tử, tạo thành cảnh giết chết người một cách khốc liệt thê

thảm. Rồi nào là họ kết bè lập phái, tạo thành băng đảng, thanh toán bắn giết tàn sát lẫn nhau đẩm máu. Có kẻ chuyên cướp của giết người, không một chút gớm tay! Bao nhiêu tội phạm, hút chích xì ke, buôn bán nha phiến, phạm pháp tù đày, không sao kể xiết. Ðó là những cảnh tượng nhơn tai họa hại, do con người gây ra, luôn đe dọa đến đời sống của

những con người hiền thiện!

 

Có lắm kẻ khinh chê Tam bảo, phỉ báng chánh pháp, miệt thị Tăng Ni, bươi móc nói xấu

Tăng Ni đủ điều. Ðó là họ đang tạo cái nhân địa ngục, mà họ không hề hay biết. Hạng

người như thế, thật đáng xót thương lắm thay!

 

Những cảnh tượng tệ nạn này, xảy ra hằng ngày khắp nơi trên thế giới. Quả thật, con

người đang sống trong ngôi nhà lửa bị lửa tham dục thiêu đốt trong từng giây phút, mà họ

không hề hay biết. Dẫu có biết, họ cũng vẫn cố tình gây tạo. Bởi thế, nên cổ đức có lời

than rằng:

 

Ôi! Chúng sanh mê muội

Nhận khổ cho là vui

Chấp giả cho là thường

Mà lăn lóc trong non sầu bể hận.

 

Chính vì nhận thấy nghiệp ác chúng sanh lẫy lừng trong thời mạt pháp sâu nặng như thế,

nên Bồ tát Diệu Nguyệt mới thổ lộ trình bày về những điều suy gẫm của mình lên đức Phật. Ngài nghĩ rằng, phải có một pháp môn thật đơn giản, thật dễ hành trì, mới có thể cứu thoát chúng sanh trong thời mạt vận. Bất luận hạng người nào, dù là hàng thượng

căn, trung căn hay hạ căn, tất cả cũng đều tu hành được cả. Mà chúng sanh phần nhiều là

hàng hạ căn, ám độn hạ liệt. nên đối với những pháp môn khó thì họ không thể nào thật

hành cho được. Nếu không thật hành tu niệm, tất nhiên họ khó thoát khỏi sa đọa ở nơi

tam đồ. Một khi đã đọa vào tam đồ, thì biết đến bao giờ mới được thoát ra?! Chỉ có pháp môn dễ tu dễ chứng và hợp thời cơ, mới đưa chúng sinh thoát khỏi ba cõi, được thọ dụng pháp lạc và chóng được thành Phật.

 

Ngài lại nói tiếp: "sau khi Phật diệt độ, hết thời kỳ chánh pháp, chúng sinh chìm sâu dần vào thời kỳ mạt pháp. Kinh điển dần dần ẩm mất, chúng sinh căn cơ hạ liệt, ám độn ngã chấp sâu dày, tâm tưởng thô trệ, tà kiến lan tràn, say sưa làm các nghiệp ác

- 26 -


tự vui¼"Những điều ngài trình bày trên, là thời kỳ hiện nay mà chúng ta đang sống và

thấy rất rõ. Bởi do, lòng người cực ác, gian xảo bất lương, nên chiêu cảm đến những

thiên tai họa hại: nào là cuồng phong bão lụt, động đất kinh thiên, gây ra bao cảnh nhà tan cửa nát, người chết phơi xác chất chồng không người chôn cất. Người còn sống sót,

thì lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, đói khát kêu gào, rên la thảm thiết. Nhiều người

bệnh tật, chẳng có thuốc men, cơn bệnh hoành hành, kêu trời không thấu. Ðó là chưa nói

đến những cơn bệnh dịch lan tràn nhiều người nhiễm bệnh nặng mà chết. Nhiều trẻ em

may mắn còn sống sót, thì cha mẹ lại chết hết. Các em phải sống trong cảnh mồ côi, lang thang không nơi trú ngụ. Thật là không biết bao nhiêu thảm cảnh đau thương, hiện nhơn loại đã và đang phải hứng chịu! Ðối với thời này, làm sao chúng ta có được đầy đủ phúc duyên mà gặp được Thánh Nhân xuất hiện. Ðối với tuổi thọ của con người và sự tu hành qua các pháp môn Phật dạy như thế nào? Sau đây, chúng ta sẽ nghe Bồ tát Diệu Nguyệt

trình bày tiếp:

 

Kinh Văn

 

Tuồi thọ giảm dần. Nếu ai phát khởi tâm chí tu hành, cũng không thể tu tập các

môn Giới Luật, Thiền định, Trí tuệ, Giải thoát vô lậu. Không thể tu tập Tứ niệm xứ,

Bát chánh đạo, Tứ chánh cần. Không thể tu tập Tứ vô lượng tâm, không thể tu tập

Sáu Ba la mật, hoặc là Bố thí Ba la mật, nhẫn đến Trí tuệ Ba la mật, không thể tu

tập bằng các phương tiện của Quán Trí để ngộ nhập Phật Tri Kiến. Không thể

chứng đắc Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm, A La Hán. Không thể chứng nhập

Sơ Thiền nhẫn đến Tứ Thiền. Không thể chứng nhập Niết Bàn Diệu Tâm. Không

thể vào sâu vô lượng Tam muội, Thần thông du hý của chư Bồ tát, nhẫn đến không thể thâm nhập cảnh giới thù thắng trang nghiêm của chư Phật, hoặc rải cỏ nơi Ðạo tràng, đánh rền trống pháp hàng phục ma quân.

 

Vì lý do như vậy, mà đệ tử chúng con xét nghĩ nên phát khởi Vô thượng Bồ đề tâm. Khẩn cầu Ðức Thế Tôn chỉ dạu giáo pháp nhiệm mầu, mong lợi lạc hết thảy tội khổ chúng sinh ở thời kỳ cuối cùng của chính pháp.

Giảng giải

Tuổi thọ giảm dần.

Về tuổi thọ của loài người, theo kinh nói, thì trong một tiểu kiếp nhơn loại phải trải qua một kiếp tăng và một kiếp giảm. Kiếp tăng, là bắt đầu từ 10 tuổi, cứ 100 năm tăng lên

một tuổi, tăng cho đến khi nào con người được 84000 tuổi, đó là cùng cực của kiếp tăng.

Hết kiếp tăng rồi đến kiếp giảm. Ở kiếp giảm, cứ mỗi 100 năm con người giảm xuống một tuổi, giảm cho đến khi nào con người chỉ còn có 10 tuổi thì già nua và chết, đó là

cùng cực của kiếp giam. Và rồi bắt đầu trở lại kiếp tăng. Như vậy, thì hiện nay chúng ta đang sống trong thời kỳ của một kiếp giảm, nên tuổi thọ của con người hiện nay, trung bình tối đa là vào khoảng 70 hay 80 tuổi. Cứ 100 năm giảm xuống 1 tuổi, giảm khi nào tuổi thọ của con người chỉ còn 10 tuổi là hết kiếp giảm.

- 27 -


Nếu ai phát khởi tâm chí tu hành, cũng không thể tu tập các môn Giới Luật, Thiền

định, Trí tuệ, Giải thoát vô lậu.

 

Một người khi phát khởi tâm chí tu hành, mà chỉ chuyên tu các pháp môn đặt nặng về

phần tự lực như các môn: "Giới luật, Thiền định, Trí tuệ, Giải thoát vô lậu", thì, theo Bồ

tát Diệu Nguyệt, cho đó là không thể tu tập đạt đến đích thành công dễ dàng. Vì sao? vì

đối với thời mạt pháp, con người nghiệp nặng chướng sâu, phước mỏng huệ cạn, lại thêm ma vương lộng hành khuấy phá. Mà pháp môn tự lực, nó đòi hỏi hành giả phải vận dụng

công phu nghiên tầm sâu rộng, chẳng những phải thông suốt về mặt nghĩa lý, mà còn quan trọng ở chỗ thể nghiệm thật hành. Tiêu biểu như môn giới luật chẳng hạn.

 

Môn học này, muốn hiểu cho thông suốt cặn kẽ chi ly ngọn nguồn, cũng như nghiêm trì gìn giữ cho đúng pháp đúng luật, thật không phải là chuyện dễ dàng. Ðến như các pháp

môn khác cũng thế. Nghĩa là pháp môn nào cũng cần có Minh sư trực tiếp hướng dẫn chỉ

giáo. Vị Minh sư đó phải có đạo hạnh cao thâm, nghĩa là phải hội đủ hai yếu tố tối thiết yếu:"Thuyết thông và tâm thông" như mặt trời giữa hư không. Ðối với thời này, muốn

tìm bậc Minh sư cho đúng nghĩa như thế, thì thật không phải là chuyện dễ tìm. Nếu

không có bậc Minh sư chỉ dẫn, tự mình mò mẫm tu tập, e rằng khó tránh khỏi rơi vào con đường tà ngoại. Ðó là một họa hại mà người tu hành thời nay thường hay dễ mắc phải.

 

Tiếp theo, Bồ tát Diệu Nguyệt lại nêu bày thêm về các pháp môn tự lực của người tu theo hệ giáo lý Nguyên Thủy. Các pháp môn này nằm trong phạm vi của 37 phẩm trợ đạo. Các pháp môn đó là: "Tứ niệm xứ, Bát chánh đạo, Tứ chánh cần".

 

Tứ niệm xứ là 4 lãnh vực mà hành giả cần phải để tâm nhớ nghĩ quán sát cho tường tận

kỹ càng. Thành phần của Tứ niệm xứ gồm có:

• Quán thân bất tịnh

• Quán tâm vô thường

•Quán pháp vô ngã • Quán thọ thị khổ.

 

Bát chánh đạo là một pháp môn rất quan trọng trong 37 phẩm trợ đạo. Ðây là con đường thẳng tắt tiến đến quả vị cao tột của Thanh Văn, tức quả vị A la hán. Và cũng là nền tảng chính yếu để hành giả tiến thẳng lên quả vị Phật. Thành phần của Bát chánh đạo gồm có:

•Chánh kiến

•Chánh tư duy

•Chánh ngữ

•Chánh nghiệp •Chánh mạng

•Chánh tinh tấn

•Chánh niệm •Chánh định.

Tứ chánh cần là 4 phép siêng năng tinh tấn hợp với chánh đạo. Thành phần của chúng

như sau:

 

- 28 -

1. Tinh tấn ngăn ngừa các điều ác chưa phát sinh.

2. Tinh tấn dứt trừ những điều ác đã phát sinh.

3. Tinh tấn phát triển những điều lành chưa phát sinh.

4. Tinh tấn tiếp tục phát triển những điều lành đã phát sinh.

 

Không thể tu tập Tứ vô lượng tâm, không thể tu tập Sáu pháp Ba la mật, hoặc là

Bố thí Ba la mật, nhẫn đến Trí tuệ Ba la mật, không thể tu tập bằng các phương tiện của Quán Trí để ngộ nhập Phật Tri Kiến.

Sau khi nêu bày không thể tu tập các pháp môn của Thanh văn thừa, kế tiếp Bồ tát Diệu Nguyệt lại nêu bày không thể tu tập theo Bồ tát thừa. Tức không thể tu tập Tứ Vô Lượng tâm và 6 pháp Ba la mật. Thậm chí không thể tu tập bằng các phương tiện của Quán Trí để ngộ nhập Phật Tri Kiến.

Tứ vô lượng tâmlà bốn tâm hành rộng lớn không lường trong hạnh nguyện độ sanh của Bồ tát. Bốn tâm hành gồm có: Từ, Bi, Hỷ, Xả.

 

Sáu pháp Ba la mật là con đường tiến tu thẳng đến Phật quả của Bồ tát. Bất cứ ai muốn

trở thành hạnh tu rốt ráo của Bồ tát, đều phải thật hành 6 pháp tu này. Sáu pháp tu gồn có:

•Bố thí

•Trì giới

•Nhẫn nhục

•Tinh tấn

•Thiền định •Trí huệ.

 

Không thể chứng đắc Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, A Na Hàm A La Hán.

Ðây là bốn quả Thanh Văn, thật không phải dễ chứng đắc. Tu Ðà Hoàn, Tàu dịch là Dự

Lưu, tức dự vào vòng thánh. Muốn chứng quả vị này, hành giả phải dứt trừ hết Kiến

hoặc. Tức những kiến chấp sai lầm thuộc về lý, gồm có 5 thứ: "thân kiến, biên kiến, tà

kiến, kiến thủ, giới cấm thủ".Thời nay, không dễ mấy ai chứng được sơ quả này. Quả vị này còn phải chịu 7 lần sanh tử nữa, mới gột sạch các kiết sử phiền não sâu kín trong tàng thức.

 

Quả vị thứ hai là Tư đà hàm. Tư đà hàm, Tàu dịch Nhất lai. Nghĩa là phải còn sanh trở lại nhơn gian một lần nữa và nỗ lực tu hành mới chứng được quả vị A na hàm.

 

Quả vị thứ ba là A na hàm. A na hàm, Tàu dịch là bất lai. Nghĩa là quả vị này không còn

sanh trở lại cõi dục này nữa. Nhưng, họ sanh lên cõi trời Ngũ tịnh cư thiên để phải tiếp tục tu luyện để dứt trừ hết vi tế hoặc.

 

Quả vị cuối cùng và cao nhất của Thanh Văn là quả vị A la hán.A la hán, Tàu dịch có ba nghĩa: Ứng cúng, Phá ác và Vô sanh.

Ứng cúnglà xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của chư thiên. Phá áclà dẹp trừ hết Kiến Tư hoặc phiền não trong tâm.

 

- 29 -


Vô sanhlà không còn tái sanh trong vòng luân hồi sanh từ.

 

Không thể chứng nhập Sơ Thiền nhẫn đến Tứ Thiền.

Tứ thiền tức là 4 giai đoạn tham thiền của phàm phu hay thế gian thiền là vì các pháp thiền này chưa có thể đưa hành giả ra ngoài tam giới, chưa chứng được thánh quả, mà

vẫn còn quanh quẩn trong vòng phàm phu hay thế gian. Chính vì thế, nên gọi thiền này là phàm phu thiền.

Tứ thiền gồm có:

• Sơ thiền, ly sanh hỷ lạc.

• Nhị thiền, định sanh hỷ lạc. • Tam thiền, ly hỷ diệu lạc.

• Tứ thiền, xả niệm thanh tịnh.

 

Tuy là thiền phàm phu, nhưng hiện nay, khó có ai chứng nhập trình tự từ thấp lên cao qua bốn loại thiền này. Vì vậy, mà Bồ tát Diệu Nguyệt cho là không thể chứng nhập.

 

Không thể chứng nhập Niết bàn diệu tâm.

 

Niết bàn nguyên tiếng Phạn là Nirvana, là tên khác của Diệt đế, cũng gọi là nê hoàn. Niết bàn có nhiều nghĩa và có nhiều loại. Nhưng tựu trung không ngoài 3 nghĩa: Bất sanh, giải thoát và tịch diệt.

 

Niết bàn gồm có hai loại chính: Niết bàn của Tiểu thừa và Niết bàn của Ðại thừa. Niết bàn của Tiểu thừa có hai loại: Hữu dư y và Vô dư y. Niết bàn của Ðại thừa cũng có hai loại: Vô trụ xứ Niết bàn và Tự tánh thanh tịnh Niết bàn.

Niết bàn diệu tâm là Niết bàn cứu cánh tịch diệt tức chỉ cho Niết bàn của Phật vậy.

Không thể vào sâu vô lượng Tam muội, Thần thông du hý của chư Bồ tát, nhẫn đến

không thể thâm nhập cảnh giới thù thắng trang nghiêm của chư Phật, hoặc rải cỏ nơi Ðạo tràng, đánh rền trống pháp hàng phục ma quân.

Tam muộiTàu dịch là Ðịnh tâm, có hai nghĩa: chánh định và chánh thọ. Vô lượng Tam muội là tên khác của Ðại định.

Thần thông du hýlà loại thần thông của Phật và Bồ tát. Phật và Bồ tát có thần thông tự tại vô ngại, vận dụng hóa độ chúng sanh, làm sự vui chơi của mình, nên gọi là du hý.

Sau khi trình bày qua những pháp môn mang tính tự lực từ cạn đến sâu, từ thấp đến cao,

từ phàm phu đến thánh quả, Bồ tát Diệu Nguyệt cho rằng, đối với những chúng sanh

nghiệp dày phước mỏng, căn tánh chậm lụt, không thể nào tu tập đạt đến kết quả cao đẹp

được. Do đó, đến đây, Ngài bèn thỉnh cầu Ðức Phật nên chỉ dạy một pháp môn nhiệm

mầu để cứu khổ chúng sanh trong thời kỳ mạt pháp. Ngài bạch cùng Ðức Phật:

- 30 -


Vì lý do như vậy, mà đệ tử chúng con xét nghĩ nên phát khởi Vô thượng Bồ đề tâm.

Khẩn cầu Ðức Thế Tôn chỉ dạy giáo pháp nhiệm mầu, mong lợi lạc hết thảy tội khổ chúng sinh ở thời kỳ cuối cùng của chính pháp.

 

Là một vị Bồ tát thị hiện để trình bày những nỗi thống khổ trong tâm cảnh của chúng

sanh thời mạt, nhưng Ngài rất khiêm cung xưng là đệ tử chúng con xét nghĩ, chớ không phải chỉ có riêng Ngài xét nghĩ như thế. Con đường tiến đến Phật quả, đó là cái tiêu đích chính mà tất cả chúng con đều nhắm tới. Tuy nhiên, muốn đạt được cái tiêu đích đó, thật không phải dễ dàng, nếu như không có một pháp môn nào khác ngoài phần tự lực ra, còn có thêm phần tha lực.

 

Do đó, nên Ngài thỉnh cầu Ðức Phật dũ lòng thương xót mà chỉ dạy khai mở một lộ trình

mới, vừa mang tính mầu nhiệm lại vừa dễ dàng tu tập, chóng đạt được kết quả cao, mà không phải trải qua nhiều ngôi vị khó khăn. Nếu không phải là một người có một tấm

lòng rộng lượng bao dung thương tưởng chúng sanh đời mạt, thì làm gì có những lời thưa

bạch khẩn cầu chí tình chí thiết đó. Chính vì thế, mà đoạn kinh văn dưới đây diễn tả cả

đại địa đều rúng động và có nhiều hiện tượng biểu lộ tán thán biểu đồng tình qua lời khẩn cầu của Bồ tát Diệu Nguyệt.

Kinh Văn

Trưởng giả Diệu Nguyệt vừa dứt lời thưa thỉnh, thì bỗng đại địa chấn động mãnh liệt. Khắp hư không, hoa mạn đà la, hoa ma ha mạn đà la, hoa mạn thù sa, hoa ma

ha mạn thù sa tuôn rắc như mưa. Từ phương Tây, xuất hiện vô lượng vô số hằng hà

sa đám mây ngũ sắc, mây chiên đàn hương, mây y phục cõi trời, mây âm nhạc cõi

trời, mây hoa sen báu trắng bạch v.v¼

Trong những đám mây ấy phát ra tiếng ssấm lớn, đồng một lúc chầm chậm bay về,

nhóm lại phía trên đỉnh núi Kỳ Xà Quật. Tất cả đại chúng đều vui mừng, hớn hở, tự biết ấy là điềm lành chưa từng có.

 

Giảng giải

Lời thưa thỉnh mà cả đại địa đều chấn động mãnh liệt và các loại hoa báu đều tuôn rắc

xuống như mưa, thế thì, đủ biết rằng, đây không phải là lời thưa thỉnh tầm thường. Mà lời

thưa thỉnh đó thật vô cùng quan yếu, ngầm chứa đựng nghĩa lý rất thâm sâu huyền diệu,

khó tin khó hiểu để mỡ màng cho Ðức Phật sắp sửa tuyên bày diệu nghĩa nhiệm mầu Tịnh độ.

 

Mạn đà latiếng Phạn Mandarava, là tên một loài hoa, dịch là: Viên hoa, Bạch đoàn hoa, Thích ý hoa, Duyệt ý hoa ( thứ hoa thơm làm vừa ý đẹp lòng ), thuộc loại cỏ sống khoảng

một năm, ngọn hướng thẳng lên trời, cao độ bốn, năm thước ta ( khoảng từ 1.2m đến

1,5m ), lá hình trứng thường có những vết khắc ngắn. Mùa hè nở hoa to màu tím, cánh hoa gộp lại to bằng cái đấu, xòe ra 5 cánh.

Kinh Pháp Hoa nói rằng khi Phật thuyết pháp, trời mưa xuống hoa Mạn đà la.Ma ha mạn đà la là loại hoa to lớn hơn. Ma ha có nghĩa là to lớn.

- 31 -


Mạn thù sa,tiếng Phạn Manjusaka. Còn gọi là Mạn thù nhan, là tên một loài hoa, dịch là

Xích đoàn hoa. Ma ha Mạn thù sa là loại hoa to lớn hơn.

 

Ngoài các loại mưa hoa trên, còn có vô số hằng hà sa ( số cát sông Hằng bên Ấn Ðộ ) đám mây đủ loại màu sắc rực rỡ từ phương Tây nơi cõi Cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà

bay về tụ lại trên đỉnh núi Kỳ Xà Quật. Ðại chúng trông thấy những hiện tượng kỳ lạ này, ai nấy đều vui mừng hớn hở và cho đó là một điềm lành xưa nay chưa từng có.

 

Ðiềm lành biểu hiện như thế, tất nhiên là phải có lý do. Thông thường, chúng ta thấy

phần nhiều trong các kinh điển Ðại thừa, khi Phật muốn tuyên bày diệu nghĩa thâm

huyền, thì thường hiện ra những điềm lành báo trước. Mục đích là để nói lên giáo pháp mà Phật sắp nói mang tính rất kỳ diệu đặc biệt khó tin khó nhận. Những hiện tượng đó,

có tác dụng như đánh thức hội chúng cần phải nhiếp tâm thành ý lắng lòng theo dõi

những điều mà Phật sắp sửa trình bày. Có thế, thì mới mong tín giải sâu sắc được.

 

Ở đây, Phật muốn giới thiệu một cảnh giới "Chánh báo và Y báo" thù thắng trang

nghiêm nơi cõi Cực lạc, vượt ngoài cái suy nghĩ thông thường của chúng sanh. Ðối với

hàng phàm phu cũng như hàng Nhị thừa, họ không dễ gì tin hiểu được. Bởi thế, pháp

môn Tịnh độ còn gọi là một pháp môn nan tín chi pháp. Vì pháp môn này, hành giả thật hành tuy đơn giản mà kết quả lại rất cao. Do đó, nên nói là khó tin. Vì vậy, sự biểu hiện

điềm lành này như báo trước Phật sẽ giới thiệu một cảnh giới kỳ đặc mà chỉ có những

người trống sâu căn lành với pháp môn Tịnh độ mới có thể tin nhận và hành trì vững chắc mà thôi.

 

Khi trong đại chúng nhìn thấy hiện tượng như thế, tất nhiên, mọi người vừa vui mừng

nhưng cũng vừa thắc mắc. Người thắc mắc đại diện trong chúng đứng ra thưa hỏi là ai?

Ðọc tiếp phần kinh văn dưới đây chúng ta sẽ thấy rõ:

 

Kinh Văn

 

Bấy giờ, Quốc mẫu Vi Ðề Hy hoàng thái hậu từ trong đại chúng, bước ra trước Phật

đảnh lễ xong, bèn chấp tay thưa:

Bạch Ðức Thế Tôn, vì duyên cớ gì mà hiện điềm lành này?

 

Liền khi ấy, Ðức Như Lai từ nơi tướng lông trắng chặng giữa chân mày, phóng ra hào quang chiếu khắp vô lượng vô biên vi trần số thế giới mười phương mà nói lời

này:

 

Lành thay! Các thiện nam tử, thiện nữ nhân! Nay ta vì lời thưa thỉnh của ưu bà tắc Diệu Nguyệt, và của ưu bà di Vi Ðề Hy, lại nương theo bản nguyện của vô lượng vô số bất khả thuyết chư Phật, mà tuyên dương giáo nghĩa bí mật vi diệu tối thắng đệ nhất, nhằm cứu độ hết thảy chúng sinh ở trong thời kỳ Phật pháp cuối cùng.

- 32 -


Giảng giải

Kinh này, ngoài Bồ tát Diệu Nguyệt là nhân vật chính đứng ra thưa hỏi thỉnh cầu Ðức Phật tuyên bày diệu nghĩa pháp môn niệm Phật nhiệm mầu, lại còn có nhân vật thứ hai đóng vai trò cũng khá quan trọng trong việc thưa hỏi thỉnh cầu này.

 

Ðọc Kinh Quán Vô Lượng Thọ, hẳn chúng ta còn nhớ bà Quốc Thái phu nhân Vi Ðề Hy bị nghịch tử bất hiếu A xà thế hành hạ bà và vua Tần bà sa la quá đau khổ. Chính vì quá đau khổ, nên bà hết lòng thỉnh cầu Ðức Phật từ bi chỉ dạy cho bà một phương pháp thoát khổ. Phật dạy cho bà phương pháp niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà cầu vãng sanh về thế giới Cực lạc. Cuối cùng bà đã được toại nguyện.

 

Ở đây, bà đại diện cho đương hội đứng ra thưa hỏi Ðức phật về hiện tượng điềm lành này

như thế nào. Trước khi trả lời, Ðức Phật lại phóng ra một luồng hào quang ở giữa chân mày, chiếu khắp vô lượng vô biên vi trần số thế giới mười phương. Ðiều này nói lên ý

nghĩa gì?

 

Ánh sáng là tượng trưng cho trí huệ. Giữa chân mày là tượng trưng cho diệu lý Trung

đạo. Chiếu khắp các cõi không ngăn ngại là tượng trưng cho trí huệ Phật thông suốt trùm

khắp pháp giới. Ðiều này, cũng có nghĩa là để biểu trưng cho pháp môn niệm Phật mà

Phật sẽ tuyên bày, người nghe phải vận dụng trí huệ mới có thể thấu hiểu thâm nhập

được. Ðồng thời, cũng là để biểu trưng cho pháp môn "Niệm Phật Ba la mật" là một

pháp môn thù thắng vi diệu, viên mãn cứu cánh hơn tất cả các pháp môn khác. Chính vì

thế, nên Ðức Phật liền khen ngợi qua những điều nghi vấn thưa hỏi của Bồ tát Diệu

Nguyệt và bà Vi Ðề Hy. Ðồng thời, Ðức Phật hứa khả là Ðức Phật sẽ nương theo bản

nguyện của vô lượng chư Phật mà tuyên bày diệu nghĩa tối thắng đệ nhất để cứu độ chúng sanh thoát khỏi sanh tử khổ đau trong thời kỳ Phật pháp cuối cùng.

 

Kinh Văn

 

Giáo nghĩa này, chư Phật quá khứ đã nói, chư Phật hiện tại đang nói, và chư Phật vị lai sẽ nói. Tất cả chúng sinh đời mạt pháp sẽ nương nơi giáo nghĩa này mà được giải thoát rốt ráo, mãi mãi xa lìa các đường ác, hiện đời an ổn, sau khi mạng chung được

sanh về cõi Phật, chứng ngôi vị Bất Thối, dần dần tu tập cho đến khi đắc A Nậu Ða La Tam Miệu Tam Bồ Ðề.

 

Này cư sĩ Diệu Nguyệt, hãy chăm chú lắng nghe, ta sẽ vì ông mà nói:

 

Diệu Nguyệt, tất cả các loại chúng sanh chết ở nơi đây, rồi sinh sang nơi kia, sống

chết nói nhau không dứt. Mỗi khi sắp mạng chung thì các loại nghiệp lành dữ trong một đời hiển hiện rõ ràng. "Chúng sanh nào sống thuần bằng tư tưởng", thì bay lên

hóa sinh nơi các cõi trời. Nếu trong sự thuần tưởng, lại gồm cả phước huệ và tịnh

nguyện thì tự nhiên tâm trí khai mở mà được thấy mười phương chư Phật, tùy theo nguyện lực của mình mà sinh về tịnh độ.

- 33 -


Giảng giải

 

Giáo nghĩa này là giáo nghĩa gì? Tất nhiên phải là giáo nghĩa thậm thâm vi diệu bí mật lắm, đó là giáo nghĩa niệm Phật Ba la mật cứu cánh giải thoát. Giáo nghĩa này, không

phải chỉ có Ðức Phật Thích Ca nói thôi, mà ba đời chư Phật đã, đang và sẽ nói. Thế thì đủ

biết rằng, giáo nghĩa này thật quan trọng đến mức độ nào. Hiện chúng ta được đầy đủ phúc duyên hy hữu nên mới được nghe và tiếp nhận giáo nghĩa này.

 

Phật dạy rất rõ, nếu chúng sanh nào nương nơi giáo nghĩa này mà thiết thiệt hành trì kiên

định, thì chẳng những hiện đời được giải thoát an ổn, mà sau khi mạng chung còn được

sinh về cõi Phật, lên ngôi Bất thối, tức không còn thối chuyển, chỉ một bề tiến tu đến

thành quả vị Phật vậy. Vì là giáo nghĩa thâm mật mầu nhiệm, nên trước khi giảng thuyết,

Ðức Phật đã ân cần khuyên bảo cư sĩ Diệu Nguyệt và thính chúng đương hội phải hết lòng để tâm lắng nghe. Nay đây, chúng ta cũng phải hết lòng lắng nghe và để tâm theo dõi kỹ.

 

Nói tất cả các loại chúng sanh, trong kinh thường nêu ra bốn loại: "thai sanh, noản sanh, thấp sanh và hóa sanh". Những loài này vì có hình tướng nên tất cả đều chịu chung trong

một định luật vô thường chi phối là sống chết không dừng. Ðiều quan yếu mà ta nên lưu

tâm ở đây là Phật nói: "Mỗi khi mạng chung thì các loại nghiệp lành dữ trong một đời

hiện rõ ràng".Như vậy, tất cả những nghiệp lành dữ mà ta đã gây tạo trong một đời đến khi sắp chết nó điều hiện rõ ràng trong tâm thức không sai một mảy. Khác nào như một cuồn phim quay chiếu lại, không sót một cảnh vật nào.

 

Ta tự hỏi: nghiệp lành dữ này tại sao không mất? Và chúng nó được cất chứa ở đâu?

Trước hết, ta cần hiểu nghiệp là gì. Nghiệp nguyên tiếng Phạn là karma, Trung Hoa dịch là nghiệp, nó có nghĩa là một hành động được lặp đi lặp lại nhiều lần thành thói quen và chính thói quen này gọi là nghiệp. Thói quen thì có thói quen tốt và thói quen xấu. Thói

quen tốt thì gọi là thiện nghiệp. Ngược lại, là ác nghiệp. Như thói quen niệm Phật, bố thí,

cúng dường v.v¼đó là những thói quen lành. Còn thói quen ác như cướp của, giết

người, hảm hiếp dâm ô, hút chích xì ke ma túy v.v¼. Ðó là những thói quen bất thiện.

 

Và mỗi tư duy, hành động, lời nói của chúng ta đều được cất giữ trong cái kho A lại da

thức. Thức này, nó có cái công năng là gìn giữ tất cả chủng tử không cho sót mất. Và khi con người sắp chết, thì những hạt giống mà hiện đời chúng ta đã gây tạo huân vào cái kho

này (tàng thức ) nay có dịp chúng nó trào lên. Và từ đó, hạt giống nào mạnh thì nó dẫn dắt chúng ta đi tái sanh.

 

Tổ Quy Sơn nói: "Như nhơn phụ trái cường giả tiên khiên". Nghĩa là, như người mắc

nợ, mối nào mạnh, thì nó lôi kéo đi trước. Do đó, chúng ta nên tạo nghiệp lành cho nhiều. Khi chết, chính nghiệp lành nó dẫn dắt chúng ta đi thọ sanh ở cảnh giới an vui. Ðiều này, chúng ta nên cẩn thận khi tạo tác: "suy nghĩ, hành động và nói năng ở nơi ba nghiệp lắm mới được".

 

Tiếp theo, Phật lại nhấn mạnh nói rõ cho chúng ta biết về sự tái sanh của các loài qua hai

dạng thức rất quan trọng đó là "Tình" và"Tưởng". Tình nặng thì chìm xuống. Tưởng

- 34 -


nhiều thì bay lên. Tình thuộc lãnh vực nặng về phương diện tình cảm. Tình cảm là dính

mắc bi lụy, là khổ đau, là chìm đắm. Ngược lại, tưởng là tư tưởng, nặng về phần lý trí. Có

lý trí là có suy xét, quán tưởng, nên tâm trí nhẹ nhàng, thanh thoát. Do đó, nên sanh lên cõi trời hoặc những cảnh giới an lành khác. Tùy theo cái nhân tưởng nhiều hay ít.

 

Nếu trong sự thuần tưởng ( như thuần nhớ Phật ) lại gồm tu thêm cả phưóc lẫn huệ, thì

chắc chắn chúng sanh đó sẽ sanh về cảnh giới tịnh độ. Song có điều, còn tùy theo nguyện lực của mỗi người. Muốn nguyện sanh về cảnh giới nào, thì sẽ thác sanh về cảnh giới đó. Cũng như chúng ta có ước muốn đi du lịch ở quốc gia nào, thì khi hội đủ điều kiện thuận lợi, tất nhiên là ta sẽ đến quốc gia đó. Ðó là do ước muốn của chúng ta. Nguyện sanh về

các cảnh giới của chư Phật cũng thế. Người tu tịnh độ, thì có ước nguyện chung là cầu

sanh về Cực lạc. Khi tín và hành được đầy đủ, thì chắc chắn hành giả sẽ được toại nguyện.

 

Ðể minh định rõ hơn về cái nguyên nhân giữa tình và tưởng nặng nhẹ, nhiều ít khác nhau,

mà chúng sanh chịu cái quả báo khổ vui nặng nhẹ khác nhau. Sau đây, chúng ta sẽ nghe

Phật chỉ dạy rõ thêm:

 

Kinh Văn

 

Chúng sinh nàotình ít, tưởng nhiều thì vào hàng phi tiên, bay đi nhẹ nhàng nhưng không được xa bằng hạng thuần tưởng.

 

Chúng sinh nàotình và tưởng bằng nhau thì sẽ phát sinh vào cõi người. Bởi vì sao

như vậy? Bởi tưởng là thông sáng, tình là mê tối. Nếu tình và tưởng ngang bằng nhau thì không bay lên và cũng không đi xuống.

 

Chúng sinh nàotình nhiều, tưởng ít thì sẽ lạc vào bàng sinh, nhẹ thì làm chim bay,

nặng thì làm thú chạy. Chúng sinh nào cóbảy phần tình và ba phần tưởng, sẽ bị đọa làm thân ngạ quỷ, thường chịu nóng bức, đói khát trải qua trăm ngàn kiếp dài lâu. Chúng sinh nào cóchín phần tình và một phần tưởng, thì sẽ đọa vào địa ngục. Nhẹ thì vào nơi địa ngục hữu gián, nặng thì sẽ đọa vào ngục Ðại a tỳ. Nếu ngoài cái tâm thuần tình ấy, còn kiêm thêm các trọng tội như hủy giới cấm của Phật, khinh báng

Ðại thừa, thuyết pháp sai lầm, đắm tham của tín thí, lạm thọ sự cung kính, và phạm

vào thập ác ngũ nghịch, thì sẽ chiêu cảm quả báo luân chuyển sinh về các ngục Vô Gián ở khắp mười phương.

 

Giảng giải

 

Chúng sinh nào tình ít, tưởng nhiều, thì sanh vào phi tiên bay qua lại nhẹ nhàng. Nhưng không bay xa bằng loại thuần tưởng. Thí như có loại bong bóng bay không cao và không xa. Nhưng có loại bay rất cao và rất xa. Lý do tại sao thế? Nếu cái bong bóng mà chúng ta dùng miệng để thổi hơi vào ( dụ như tình nhiều mà tưởng ít ), tất nhiên nó không bay cao. Ngược lại, nếu chúng ta dùng chất helium bôm vào ( dụ như thuần tưởng ), thì cái bong bóng sẽ bay cao và bay rất xa.

- 35 -


Nếu tình và tưởng quân bình, thì sẽ sinh vào loài người. Vì tình là u mê tăm tối, tưởng thì

thông sáng. Nếu cả hai ngang bằng nhau, thì không lên không xuống, đó là cái kết quả trở lại làm người. Về điểm này, thiết nghĩ, mỗi người chúng ta nên tự quán chiếu hằng ngày,

xem mình có được quân bình giữa tình và tưởng hay không? Hay là đa phần chúng ta

sống nặng vì tình hơn là tưởng. Muốn có tưởng, tất nhiên phải có năng lực của thiền quán

sâu sắc, hay nhiếp tâm niệm Phật cho nhiều. Phải có sự gạn lọc phiền não khá. Bằng không, thì chúng ta khó có được quân bình giữa tình và tưởng.

 

Nếu tình nhiều và tưởng ít, thì Phật nói sẽ đọa vào loại bàng sinh. Bàng sinh là loài thú đi

ngang. Như các loài bò, ngụa, chó , mèo v.v¼Các loài thú vật có cánh, thì người ta gọi là loài thượng cầm. Như các loài chim, cò v.v¼Còn loài không cánh, thì gọi là hạ thú.

 

Nếu tình nặng thì làm loài hạ thú, còn nhẹ hơn một chút, thì làm loài thượng cầm.

 

Nếu có bảy phần tình và ba phần tưởng, thì sẽ bị đọa làm thân ngạ quỷ. Ngạ quỷ là loài quỷ đói khát, thường đi lang thang không nơi nương tựa và chịu ép ngặt nóng bức đau khổ triền miên không sao nói hết được.

 

Nếu có chín phần tình và chỉ có một phần tưởng, thì sẽ đọa vào địa ngục. Trường hợp

nhẹ, thì đọa vào ngục hữu gián. Hữu gián nghĩa là chịu sự hình phạt tra tấn có gián đoạn.

Nặng thì đọa vào địa ngục Ðại a tỳ. Ðại a tỳ là loại địa ngục Vô gián lớn mà tội nhơn phải chịu sự hình phạt tra tấn khổ sở không có thời gian xen hở.

Nếu như đã thuần tình mà còn có gây thêm các trọng tội như phá giới, khinh báng Ðại

thừa, thuyết pháp sai lầm, tham đắm vật chất do Ðàn na tín thí dâng cúng v.v¼Và nhứt

là phạm tội thập ác, ( về thân phạm 3 trọng tội: sát sanh, trộm cắp, tà dâm, Về miệng phạm 4 điều: nói láo, nói lời trau chuốt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác, về ý có 3:

tham, sân si ), ngũ nghịch (giết cha, giết mẹ, giết A la hán, phá hòa hợp chúng, làm thân Phật bị ra máu ( tức phá hoại tượng Phật ). Nếu ai phạm những điều trên, thì sẽ bị chiêu cảm quả báo luân chuyển sinh về các ngục Vô gián ở khắp mười phương. Ta nên lưu ý đến những vấn đề Phật dạy ở trên:phá giới trọng tội, khinh báng Ðại thừa, thuyết pháp

sai lầm¼

 

phá giới trọng tội: Ðây là vấn đề thật tối hệ trọng đối với người tu hành. Giới luật Phật chế cho hàng tại gia và xuất gia gìn giữ, đều có các giới nặng nhẹ khác nhau. Mục đích

của giới luật Phật chế ra là nhằm để ngăn ngừa những điều sai quấy tội lỗi. Vì giới luật là nền tảng của đạo giải thoát. Giới luật là mạng mạch của Phật pháp. Giới luật còn là Phật

pháp còn, giới luật mất là Phât pháp sẽ bị tiêu diệt. Thế nên giới luật Phật chế ra rất là quan trọng.

 

Hơn thế nữa, ta nên nhớ rằng, giới luật Phật chế, không nhằm mục đích ràng buộc, làm cho con người mất hết tự do, mà trái lại, người nào càng giữ giới luật nghiêm minh, thì người đó lại càng có tự do tự tại giải thoát hơn ai hết. Vì sao? giả như chúng ta gìn giữ giới không trộm cướp, thì ta đi đứng tới lui tự do, không lo sợ luật pháp theo dõi bắt bớ

giam cầm. Ngược lại, nếu ta phạm giới này rồi, thì thử hỏi ta có được tự do nữa hay

không? Hay là đi đâu, ở đâu ta cũng phập phòng lo âu sợ hãi. Chẳng những thế, mà ta còn gặt hái một hậu quả vô cùng khốc hại, có khi phải mất mạng.

- 36 -


Xin nêu ra đây một câu chuyện thương tâm điển hình để chứng minh. Vào ngày 25/9/08/

vừa qua, tuần báo Văn Nghệ ở Úc đã đăng tải một câu chuyện bi thương xảy ra ở Việt

Nam. Một cậu thanh niên 20 tuổi hiếp dâm một bé gái 7 tuổi và hành hung đứa bé gái này

cho đến chết. Sau đó, cậu ta quăng xác bé gái xuống hố. Hai ngày sau, cha mẹ đứa bé

phát hiện được. Sự vụ đã được đưa ra tòa, cuối cùng cậu ta bị tòa tuyên án tử hình. Ðây

chỉ là một trong muôn ngàn câu chuyện bi thương khác hiện đã và đang xảy ra hằng ngày khắp nơi trên thế giới. Từ đó, suy ra các giới khác cũng lại như thế. Ðó là một hậu quả to

lớn, mà do lòng si mê dục vọng của con người gây ra. Nếu người Phật tử khéo biết giữ giới, thì bảo đảm không bao giờ có chuyện xảy ra làm ta phải đau khổ chuốc lấy thảm họa tù đày mất hết tự do.

 

Người phá giới, nếu là giới trọng, thì sẽ mang trọng tội. Vì giới luật của người xuất gia,

nhất là đối với những vị đã thọ giới Tỳ kheo hoặc giới Bồ tát, thì đều có giới trọng và

giới khinh. Ðối với người Phật tử tại gia thọ Bồ tát giới cũng thế. Nếu lỡ phạm giới khinh ( nhẹ ) người phạm giới, nếu khéo biết sám hối đúng cách, tất nhiên, tội lỗi sẽ không còn.

Nhưng nếu phạm giới trọng: "Sát, Ðạo, Dâm, Vọng", mà người phạm giới chỉ sám hối lôi thôi cho có lệ, thì không thể nào hết tội lỗi được.

 

Khi đã phạm giới trọng, thì người phạm giới, phải hết lòng ăn năn sám hối, và phải phát

lồ sám hối trước thanh tịnh tăng. Người phạm giới phải chí thành phát nguyện: "từ rày về

sau, quyết không hề tái phạm lỗi lầm đó nữa và nhất là phải thường xuyên hành thiện

làm lợi ích cho tha nhân, không có lòng vị kỷ, chỉ một lòng vì người".Thật tâm tha thiết sám hối và tự thức tỉnh tu hành như thế, thì người đó mới có thể được hết tội.

 

Ví như một nắm muối mà ta bỏ vào trong một chung nhỏ, thì không thể nào uống được, vì chất muối kia quá mặn. Ngược lại, nếu ta bỏ nắm muối vào trong dòng sông lớn, thì

nắm muối kia sẽ hòa tan trong nước và tự nó hóa giải không còn mặn nữa. Thế thì ta uống không còn cảm thấy mặn . Tội lỗi mà ta sám hối cũng thế.

 

Ta nên hiểu thêm rằng, tội có ra là từ tâm ta tạo lấy, muốn hết tội cũng phải từ tâm ta mà

sám. Nhưng với điều kiện là tâm ta phải hoàn toàn thanh tịnh, thì tội kia mới hết. Nếu

như tâm ta chưa được như thế, thì tội đã gây ra, tất ta phải lãnh lấy quả báo. Nặng thì phải đọa vào địa ngục A Tỳ. Ðây là điều nhân quả tất yếu, không bao giờ sai chạy.

 

Khinh báng chê bai kinh điển Ðại thừa: Ðây cũng là một trọng tội, thật khó sám hối. Vì kinh điển Ðại thừa, nói theo ngày nay, là kinh điển thuộc hệ Phật giáo phát triển. Những kinh điển này, đều có chung một mục đích duy nhất, là nhằm khai mở chỉ bày Tri Kiến Phật ( Kinh Pháp Hoa ) cho hết thảy chúng sinh, để chúng sinh y cứ vào đó mà tu hành

chóng thành Phật quả. Nay lại công kích chê bai, khác nào họ đã chê bai phá vỡ Phật tánh nơi mỗi chúng sinh. Thế thì, thử hỏi chúng sinh còn biết nương tựa vào đâu để mà nỗ lực tu hành chóng được giải thoát thành Phật. Kẻ hủy báng chê bai như thế, thì thật là không

có tội lỗi nào to lớn hơn!

 

Ngày nay, có kẻ lại cho rằng, kinh điển Ðại thừa không phải do Phật nói, mà đó là do

người đời sau ngụy tạo. Người nói như thế, thật chúng ta không biết họ căn cứ vào đâu?

- 37 -


Nếu họ không trưng bày chứng cớ cụ thể, thì quả họ là kẻ ngụy biện phá hoại chánh

pháp. Dù họ là người mang danh dưới dạng thức nào ở trong Phật giáo. Chỉ có loại Thiên

ma ba tuần mới chê bai như thế. Thật ra kinh điển Ðại thừa, là do chư Tổ luận giải rộng thêm từ hệ giáo lý Nguyên Thủy mà ra.

 

Sự lý giải này, mục đích của chư Tổ là muốn làm sáng tỏ phát huy rộng rải thêm cho phù

hợp với mọi căn cơ chúng sinh và nhất là thích nghi qua mỗi thời đại. Ta có thể thí dụ,

nền giáo lý Nguyên Thủy như là cội rễ và thân cây, còn giáo lý Phật giáo Phát Triển như là cành lá sum suê của một thân cây. Như vậy, cành lá sum suê rậm mát chỉ làm đẹp và tô

điểm thêm cho thân cây càng tăng thêm nhiều lý thú giá trị hơn. Như thế, mà họ dám

lộng ngôn cho rằng, kinh điển Ðại thừa là ngụy tạo. Quả họ là kẻ mù lòa thật đáng

thương xót tội nghiệp biết bao! Thương họ là vì họ là kẻ dốt nát mà dám lên mặt thầy đời kiêu ngạo, tự vỗ ngực cho mình là kẻ thông thái, không sợ tội lỗi đọa vào địa ngục A tỳ.

 

Thuyết pháp sai lầm: đây là thuyết pháp không đúng chánh lý nhân quả. Ðiều này cũng rất là tai hại. Chẳng những hại cho bản thân mình, mà còn hại lây làm tổn thương mất tín

tâm đối với người khác. Nếu trong khi thuyết giảng có nhầm lẫn về danh ngôn, thì điều này không ai tránh khỏi. Có thể bị sai lầm về từ ngữ hoặc giả về danh nhân hay một vài

chi tiết khác, nhưng tuyệt đối là không sai lầm về nghĩa lý trong kinh. Nhất là đối với

kinh điển Ðại thừa mang nhiều ẩn dụ. Nếu không khéo nhận hiểu thì cũng dễ diễn giảng

sai lầm. Bởi thế mới câu nói:

 

Y kinh giải nghĩa tam thế Phật oan

Ly kinh nhất tự tức đồng ma thuyết.

 

Nghĩa là:

 

Y theo kinh mà giải nghĩa, thì oan cho ba đời chư Phật.

Còn nếu rời kinh ra một chữ, thì đó cũng đồng với ma nói.

 

Do đó, người mang sứ mệnh hoằng pháp lợi sinh, cần phải học hỏi nghiên cứu cho am

tường kinh điển. Tuy không lão thông tam tạng như các bậc tổ sư, nhưng ít ra cũng phải

thông suốt giáo lý phần nào về các hệ thống kinh điển Phật giáo. Nhất là đối với các tông phái Phật giáo, cần phải có sự nghiên cứu kỹ càng. Nghĩa lý trong kinh điển Phật nói thật

là thậm thâm vi diệu, không ai có thể thấu triệt thông suốt hết được. Bởi trí năng và sự

chứng nghiệm hành trì của mỗi người có giới hạn. Do đó, ta chỉ nói những gì mà Phật tổ

đã chỉ dạy. Ta chỉ có thể nói những gì qua sự kinh nghiệm học hỏi cũng như qua sự áp dụng thật hành phần nào trong phạm vi hiểu biết của chúng ta.

 

Có những người vì mưu đồ bất chánh, họ lợi dụng diễn đàn thuyết pháp để tuyên truyền những tà thuyết ngoại đạo, không dính dáng ăn nhập gì với kinh điển Phật dạy. Ðây là họ nhằm đầu độc thính chúng nhẹ dạ cả tin, để cho mọi người hiểu sai lầm chánh pháp.

Ngoài ra, họ còn có mục đích là tạo thêm vay cánh bè phái, nhằm công kích Phật pháp,

giở trò đánh lận con đen, treo đầu heo bán thịt chó, đối với hạng người này, ta nên phòng ngừa và tốt hơn hết là nên tránh xa họ. Vì họ là kẻ đạo đức giả, thuyết pháp với mục đích trục lợi, cầu danh, chỉ làm tổn hại thêm cho chánh pháp mà thôi.

- 38 -


Nếu người nghe khéo dùng trí huệ nhận thức phán xét, thì chắc chắn không một ai lầm

họ. Nhưng nếu ta nhẹ dạ cả tin, thì cũng dễ bị mắc mưu rơi vào quỹ kế của họ. Họ là

người bất chấp tội lỗi. Ta phải dè dặt cẩn thận họ là hơn. Nhất là đối với người Phật tử, ta

cần biện biệt rõ chánh tà chân ngụy. Chúng ta hiện đang sống trong thời pháp nhược ma cường, vàng thau lẫn lộn, thật khó phân biệt ai chánh, ai tà. Do đó, khi nghe pháp, ta nên dựa vào chân lý Phật dạy:"Tứ pháp ấn hay Tam pháp ấn hoặc Nhất thật tướng ấn" để

đánh giá đâu là chánh lý Phật nói và đâu là tà thuyết ngoại đạo. Tứ pháp ấn là: "Khổ,

Không, Vô thường và Vô ngã". Tam pháp ấn là:"Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã,

Niết bàn tịch tịnh".Nhất thật tướng ấn là chỉ cho một thực thể bất sinh bất diệt vượt

ngoài đối đãi.Nói cách khác là Phật Tri Kiến hay chơn như, Phật tánh v.v¼Chẳng qua chỉ là khác trên danh từ mà thôi.

 

Nhưng, điều sai lầm lớn nhất trong khi thuyết pháp, đó là ta diễn nói trái với luận thuyết

nhân quả. Nói rõ hơn là phá hoại nhân quả. Bài bác nhân quả là phá hoại chân lý phổ biến. Ðó là một đại trọng tội, thật khó có thể sám hối hết được. Trường hợp như câu

chuyện chứng minh sau đây:

"Trong pháp hội của Tổ Bá Trượng, một hôm có một ông già theo chúng nghe pháp.

Hôm nọ, chúng ra hết chỉ còn ông già không đi. Sư hỏi:

- Ông là người gì?

Ông già thưa:

- Con không phải là người. Thời quá khứ thuở Ðức Phật Ca Diếp, con làm tăng ở núi

này, nhơn học trò hỏi: "Người đại tu hành lại rơi vào nhơn quả chăng?" Con đáp:

"Không rơi vào nhơn quả". Do đó, đến năm trăm đời đọa làm thân chồn. Nay thỉnh Hòa Thượng chuyển một câu nói để con thoát khỏi thân chồn.

Sư bảo:

-     Ông hỏi đi.

Ông già hỏi:

-     Người đại tu hành có rơi vào nhơn quả chăng?

Sư đáp:

-     Không lầm nhơn quả.

Ngay câu nói ấy, ông già đại ngộ, làm lễ thưa:

-     Con đã thoát khỏi thân chồn. Con ở sau núi, dám xin Hòa Thượng lấy theo lễ

tăng chết mà tống táng con.

Sư vào trong kêu duy na đánh kiểng bảo chúng ăn cơm xong đưa đám một vị tăng, đại

chúng nhóm nhau bàn tán "đại chúng đều mạnh, nhà dưỡng bệnh không có người nào

nằm, tại sao có việc này?"

-9 -


Sau khi cơm xong, Sư dẫn chúng đến hang núi phía sau, lấy gậy khơi lên thấy xác một

con chồn vừa chết, bèn làm lễ thiêu như vị tăng.( Trung Hoa Chư Thiền Ðức Hành Trạng

tập một của HT Thanh Từ soạn dịch tr 153 )

 

Sau khi phân định rõ nhân và quả của tình và tưởng nặng nhẹ khác nhau, Ðức Phật liền

cho chúng ta biết tâm cảm và nghiệp thức của chúng sanh ở cõi này như thế nào. Sau đây,

chúng ta hãy nghe Phật dạy tiếp:

 

Kinh Văn

 

Này Diệu Nguyệt cư sĩ! Trong thời kỳ chính pháp diệt tận, chúng sinh nơi cõi Diêm

Phù Ðề tình nhiều tưởng ít, tâm địa bỏn sẻn, tham lam ghét ganh, các căn lành

phước báo kém cõi. Lúc sinh tiền thọ nhận đủ loại nghiệp dữ, sau khi mạng chung sẽ chịu các quả báo đau khổ trong ba nẻo ác dữ với hạn kỳ lâu dài. Vì thế mà chư Phật khắp mười phương xót thương vô cùng, luôn luôn tìm cách cứu trừ khổ não cho các hạng chúng sinh kia.

 

Giảng giải

 

Ðến đây, Ðức Phật đã nói rõ nghiệp cảm của chúng sanh ở thời mạt pháp này, tình nhiều

tưởng ít. Mà tình nhiều, tất nhiên sẽ bị sa đọa. Chúng ta nên nhớ rằng, tình hay tưởng

không ngoài bản tâm thanh tịnh sáng suốt của chúng ta. Giống như hai mặt của một đồng tiền cắc. Mặt hình ( dụ như tình ) mặt chữ ( dụ như tưởng ), cả hai mặt đều có chung một đồng tiền. Nếu chúng ta một bề làm nô lệ cho dục vọng sai khiến, tạo nhiều nghiệp ác, thì đó là chúng ta quên tưởng mà chỉ biết sống theo tình. Như thế, thì chúng ta rất là đau khổ.

Dù vẫn biết, bản tâm của mỗi người chúng ta vốn là thanh tịnh sáng suốt. Nhưng vì vô

minh vọng động bất giác, nên từ đó, chúng ta mới phát khởi những tâm địa xấu xa: tham lam, giận ghét, si mê, gian dối, ganh tỵ, hại người v.v¼Có biết bao thứ phiền não phát sanh làm nhân, để rồi gây ra bao thứ tội ác. Cái nhân đã như thế, thử hỏi làm sao tránh khỏi quả báo khổ đau?! Chẳng những chúng ta chịu quả báo khổ đau trong hiện đời mà

còn phải chịu trải qua nhiều đời sau đau khổ nữa. Thế nên, Phật nói:"sau khi mạng chung sẽ chịu các quả báo đau khổ trong ba nẻo ác dữ với hạn kỳ lâu dài".

 

Ý thức được điều đó, mỗi người chúng ta nên cố gắng tạo nhiều nhân lành trong hiện đời.

Mà muốn tạo nhân lành, tất nhiên, cái gốc là ở nơi tâm ta. Tâm ta suy nghĩ điều hay lẽ

phải, điều lành, điều tốt, nhằm đem lại lợi ích cho mình và người. Có suy nghĩ điều lành

như thế, thì thân mới làm lành và miệng mới nói điều lành. Chúng ta không nên coi

thường ở nơi ba nghiệp: "thân, miệng và ý"của chúng ta. Khổ hay vui, địa ngục hay Niết bàn, chính do ở nơi ba nghiệp mà chúng ta đã gây tạo.

 

Là con người sống có ý thức, không ai muốn mình phải chịu đau khổ. Ai cũng muốn

mình có được an vui hạnh phúc. Ðời sống có hạnh phúc thì đời sống mới có ý nghĩa thú vị. Sống trên đời, thực tế không ai muốn mình kéo lê kiếp sống đọa đày đi trong bóng tối

dày đặc của vô minh tội lỗi khổ đau. Ai cũng muốn mình được sống trong ánh sáng của

trí huệ, của yêu thương, của hạnh phúc tràn đầy chất liệu tình người. Muốn thế, thì chúng

ta phải nương vào ánh sáng trí huệ của Phật pháp làm ngọn đuốc soi đường để chúng ta

- 40 -


nương theo đó mà tu học. Chính trí huệ là nền tảng khai thông mọi mê chấp chướng ngại

của chúng ta. Nhờ đó, mà chúng ta mới thật sự vượt thoát mọi khổ đau hệ lụy trong cuộc đời.

 

Lòng từ bi vị tha của chư Phật, Bồ tát lúc nào cũng chan hòa trải rộng thương xót chúng sanh và đã cạn lời thức nhắc chỉ dẫn chúng sanh. Cứu khổ ban vui cho chúng sanh đó là

bản hoài của chư Phật, Bồ tát ra đời. Nhưng điều quan trọng quyết định cho đời mình vẫn là ở nơi sự tỉnh thức của mỗi người chúng ta.

 

Kinh Văn

 

Các Ðức Như Lai hiện ra nơi đời, mục tiêu chân chính là không chỉ tuyên dương

diệu pháp bí áo sâu xa cho những bậc thánh giả, hiền nhân -mà mục tiêu khẩn thiết nhất vẫn là nhằm cứu vớt các loại chúng sinh tội khổ, nặng về tình, nhẹ về tưởng.

 

Chư Phật đã dùng Phật nhãn quán sát khắp mười phương, thấy rõ nghiệp lực

chúng sinh lành dữ không đồng đều, thấy thân tướng và cảnh giới của chúng sinh

xấu tốt có sai biệt. Nhưng điểm sinh khởi chẳng rời sát na tâm sinh diệt, chỗ hội quy

cũng không rời sát na tâm sinh diệt.Muốn hàng phục và chuyển biến cái sát na tâm sinh diệt ấy, thì không có pháp nào hơn là pháp NIỆM PHẬT.

 

Giảng giải

 

Trong phẩm Phương Tiện thứ hai của Kinh Pháp Hoa, Ðức Phật đã tuyên bố khẳng quyết rằng, chư Phật ra đời chỉ có mỗi một mục đích duy nhất là nhằm mở bày "Tri Kiến Phật"

cho hết thảy chúng sinh, để chúng sinh nương đó mà ngộ nhập. Chính đó là bản hoài và cũng là nhân duyên lớn nhất của chư Phật xuất thế. Ðó cũng chính là diệu pháp bí áo sâu xa mà các bậc thánh giả đã chứng ngộ.

 

Ngoài việc tuyên dương thâm nghĩa mầu nhiệm đó ra, điều khẩn yếu trước tiên là Ðức

Phật muốn cứu vớt những chúng sinh có nhiều nghiệp chướng sâu nặng, chóng thoát khỏi

tội khổ nặng về tình chấp phân biệt. Ðối với hàng căn cơ lanh lợi bén nhạy, một nghe ngàn ngộ, thì Phật nói diệu nghĩa sâu mầu. Còn đối với hàng chúng sinh căn cơ hạ liệt

chậm lụt, nghiệp chướng sâu dày, không đủ trí huệ tiếp nhận nghĩa lý sâu xa, thì Phật nói ra những giáo pháp thật đơn giản cạn thấp dễ hiểu, dễ thật hành. Ðó là nhờ Phật nhãn, tức con mắt tuệ giác sâu sắc của Phật mà Ðức Phật thấy suốt hết mọi căn cơ nghiệp chủng sai

biệt của hết thảychúng sinh. Khác nào như một vị lương y đại tài, biết rất rõ căn bệnh

khác nhau của mỗi bệnh nhân mà cho thuốc không lầm lẫn. Những loại thuốc mà vị

lương y phát cho mỗi bệnh nhân, đều thích hợp với mỗi căn bệnh. Nếu bệnh nhân chịu uống, thì tất cả đều được lành bệnh. Sự quán sát căn cơ và chỉ dạy pháp môn cho chúng sinh hành trì của Ðức Phật cũng giống như thế.

 

Chúng sinh do tâm tưởng sai biệt, tạo nghiệp khác nhau, nên thọ nhận quả báo cũng khác nhau. Có những chúng sinh tâm tánh hiền hòa, dễ thương dễ mến, nhưng cũng có những

chúng sinh tâm tánh hung ác dữ tợn, nhìn thấy phát sợ. Chánh báo đã sai biệt, thì những y

báo thọ dụng của mỗi loài chúng sinh cũng khác nhau. Như cùng là nước, đối với loài

- 41 -


người thì thấy là nước và người ta sử dụng nó trong những nhu cầu thiết yếu cho đời

sống. Thế nhưng, ngược lại, đối với chư thiên, thì thấy là lưu ly và ngạ quỷ thì thấy là

máu, còn các loài hải sản thì thấy nước là thế giới lý tưởng tối thiết yếu cho đời sống của chúng. Vì chúng không thể rời nước mà sinh tồn.

 

Ðó là do nghiệp báo sai biệt của mỗi loài, nên mới có những nhận thức khác nhau và sử

dụng cho sự sống cũng lại khác nhau. Tuy nhiên, mọi loài dù là nghiệp thức sai biệt,

nhưng tất cả đều có chung một mẩu số đó là tâm thức. Nghĩa là tất cả đều do tâm vọng bất giác sinh khởi mà tạo thành nghiệp báo sai khác. Kinh nói: "nhứt thiết duy tâm tạo"

hay "vạn pháp quy tâm" là thế. Nếu quán chiếu sâu vào thực tại của vạn pháp, ta thấy, tất cả đều cùng chung một bản thể nhứt như. Như hiện tượng của những lượn sóng trên mặt

biển, tuy hình thái lớn nhỏ của chúng có khác nhau, nhưng tất cả không ngoài nước mà có. Nước là thể chung của sóng. Ly khai nước không thể có sóng. Ngược lại cũng thế.

 

Xấu hay tốt đó là những hiện tướng do tâm ta tạo tác ra. Dĩ nhiên, ta nên hiểu, đó là tâm sinh diệt. Cho nên Phật nói: "Những điểm sinh khởi chẳng rời sát na tâm sinh diệt, chỗ

hội quy cũng không rời sát na tâm sinh diệt".Tâm sinh diệt là tâm vọng tưởng điên đảo.

Tâm này nó không có thực thể riêng biệt. Nó hằng chuyển biến sinh diệt trong từng sát

na. Tâm hành này, còn gọi là ý thức (thức thứ 6). Thức này tự nó không có mà do duyên

theo bóng dáng sáu trần mà có ra suy nghĩ phân biệt. Nghiệp dụng của nó là hằng suy

nghĩ tính toán lành dữ liên miên và chính nó là đầu mối của sự tạo nghiệp thiện ác. Nó là chủ thể của sự nhận thức. Chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức không rời nhau.

 

Song có điều, tâm sinh diệt này không rời tâm chơn như mà có. Khởi Tín Luận nói: "Sở dĩ các pháp sai khác là do vọng niệm; nếu rời vọng niệm thì không còn các cảnh tướng sai khác". Vọng niệm là tâm sinh diệt, Khởi Tín Luận gọi là Sinh Diệt Môn. Tâm chơn như, gọi là Chơn Như Môn. Hai môn này không thể rời nhau mà tồn tại. Vì chơn như là

thể của muôn pháp, rời tâm thể này, thì muôn pháp cũng không thể thành lập. Nếu rời bản giác thì không thể có bất giác. Tuy nhiên, hai tâm này, không phải là hai thực thể riêng biệt. Nhưng nếu nói một là sai mà nói hai thì cũng không đúng.

 

Muốn thể nhập Chơn như môn, hay sống được với Phật tri kiến, thật không phải là

chuyện dễ dàng. Dù rằng, tất cả pháp môn Phật nói, chung quy cũng chỉ có một mục đích duy nhất là nhận ra và chứng nhập cái thể tánh chân thật này. Hàng phục vọng tâm ( tâm sinh diệt ) mục đích là để hành giả an trụ chơn tâm( tâm bất sinh diệt ), đó là yếu lý của

toàn bộ Kinh Kim Cang Bát Nhã. Còn tâm sinh diệt là còn vọng chấp, tức còn thấy có

bốn tướng: "ngã, nhơn, chúng sinh và thọ giả". Hễ còn dính kẹt ở nơi bốn tướng, thì

chúng sinh vẫn còn phải nổi trôi trong biển sinh tử luân hồi khổ đau bất tận. Muốn thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi khổ đau này, chỉ có một pháp môn tối thiết yếu duy nhất cho chúng sinh đời mạt pháp, đó là pháp môn niệm Phật. Do đó, nên Ðức Phật dạy: "muốn

hàng phục và chuyển biến cái sát na tâm sinh diệt ấy, thì không có pháp môn nào hơn là pháp niệm Phật".

- 42 -


Kinh Văn

 

Diệu Nguyệt cư sĩ, nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhân nào, đủ lòng tin thì chỉ cần

chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Nam mô A Di Ðà Phật, suốt cả sáu thời trong ngày và giữ trọn đời không thay đổi, thì hiện tiền chiêu cảm được y báo, và chính

báo của Phật A Di Ðà ở cõi Cực lạc. Lúc lâm chung cố giữ sao cho được mười niệm tiếp nối liền nhau, lập tức vào Phổ Ðẳng Tam Muội của Ðức A Di Ðà được Phật tiếp dẫn về Tịnh Ðộ Tây phương. Vĩnh viễn xa lìa các đường ác, không còn luân hồi sinh tử. Ðó gọi là quả vị Bất Thối Chuyển. Từ lúc ấy nhẫn lại về sau, vượt qua Thập Ðịa, chứng Vô Thượng Giác.

 

Giảng giải

 

Ðối với pháp môn Tịnh độ, thì lòng tin thật vô cùng quan trọng. Vì thế, trong ba món tư

lương của một hành giả tịnh độ, thì niềm Tin là đứng đầu. Tin là dứt hết các nghi, hiểu rõ, chuyên chú quyết tâm để thật hành. Có lòng tin vững chắc, thì sự chuyên tu của hành giả

mới không bị thối thất lui sụt. Tin có nhiều thứ, nhưng đại khái không ngoài 3 thứ sau

đây:

 

1. Tin tâm mình.

2. Tin cõi Phật.

3. Tin pháp môn.

 

Thứ nhứt là tin Tâm mình.Tin bản tâm mình có khả năng thành Phật. Vì Phật nói, mỗi

người đều sẵn có cái chánh nhân Phật tánh. Hay ai cũng sẵn có tự tánh Di Ðà, duy tâm

Tịnh độ. Tự tánh Di Ðà là thể của muôn pháp, là một thực thể bất sinh bất diệt, vượt

ngoài đối đãi nhị nguyên. Là tự tánh thanh tịnh sáng suốt mà mỗi chúng sinh đểu sẵn có.

Nếu không có cái chánh nhân Phật tánh này, thì chúng ta dù có gia công nỗ lực tu hành

đến đâu đi nữa, rốt lại, cũng chỉ là phí công nhọc sức vô ích mà thôi. Khác nào như trong

cây không có lửa, thì dù mình có ra công cọ xát trải qua hằng ngàn năm, thì nó cũng trở

thành vô nghĩa. Bởi do trong cây vốn có lửa, nên khi chúng ta lấy hai thanh cây cọ xát vào nhau một hồi lâu, tất nhiên, tự nó sẽ phát ra lửa.

 

Thiền sư Khuông Việt ( 933 - 1011 ) đời nhà Ðinh, trước khi thị tịch, Ngài có để lại bài

kệ dạy chúng như sau:

 

Mộc trung nguyên hữu hỏa, Hữu hỏa hỏa hoàn sanh.

Nhược vị mộc vô hỏa, Toản toại hà do manh.

 

Nghĩa là:

 

Trong cây sẵn có lửa Có lửa, lửa lại sanh

Nếu bảo cây không lửa

- 43 -


Cọ xát làm gì sanh.

(Bản dịch của Thiền Sư Thích Thanh Từ )

 

Hành động cọ xát hai thanh cây vào nhau, đó là nói lên ý nghĩa của sự thật hành hay còn gọi là duyên nhân Phật tánh. Duyên nhân là điều kiện tối cần thiết để làm hiển lộ chánh

nhân Phật tánh. Biết rõ trong quặng sẵn có chất vàng ròng, nhưng nếu chúng ta không gia

công nỗ lực nấu lọc để cho sạch hết những thứ quặng nhơ, thì chất vàng ròng kia cũng

không làm sao hiển lộ ra được. Quặng nhơ phủ dày vàng ròng là dụ cho bao thứ vô minh

phiền não phủ mờ Phật tánh. Thế nên, muốn Phật tánh hiển lộ là chúng ta phải chuyển hóa sạch hết vô minh phiền não. Ðó là điều thiết yếu trong sự tu hành vậy.

 

Thứ hai là tin cõi Phật.Tin cõi Phật là tin Phật A Di Ðà ở trong nhiều đời lâu xa, cũng là phàm phu như chúng ta, Ngài bỏ địa vị quốc vương, theo Phật xuất gia, phát tâm đại

Bồ đề rất kiên cố, lập 48 nguyện lớn, nhiều công thật hành, nhiều đời không lui sụt. Nhờ vào hạnh nguyện cao cả và sức giáo hóa thành tựu các chúng sinh, có thiện căn mà trang sức thành cõi Tịnh độ hoàn toàn yên vui và những người chung hạnh nguyện đồng sanh

về trong cõi ấy thành vô thượng chánh đẳng chánh giác, sống lâu vô lượng, nên gọi là thế

giới Cực lạc của Ðức phật A Di Ðà. Một thế giới trang nghiêm rất là thù thắng vi diệu đẹp đẽ.

 

Tại sao chúng ta phải tin như thế? Là vì chúng ta y cứ vào lời giới thiệu của Ðức Phật

Thích Ca Mâu Ni. Ðức Phật đã trình bày giới thiệu rất rõ về "Chánh báo và Y báo" ở cõi

Tây phương Cực lạc trong Kinh A Di Ðà. Kinh A Di Ðà là quyển kinh gọi là vô vấn tự

thuyết, nghĩa là tự Ðức Phật nói ra không ai thưa hỏi. Lời Phật nói gọi là thánh giáo

lượng. Phật không bao giờ nói dối lường gạt chúng sanh. Do đó, mà chúng ta tin chắc

chắn như thế. Ðó là chúng ta đã đặt định niềm tin trên cơ sở có luận cứ hẳn hoi. Niềm tin được xây dựng trên căn bản như vậy, thì chúng ta mới không bị lung lạc lệch hướng.

 

Thứ ba là tin pháp môn. Tin pháp môn là chúng ta tin chắc vào pháp môn niệm Phật mà chúng ta đã và đang hành trì, ngày đêm niệm sáu chữ Nam Mô A Di Ðà Phật. Ðây gọi là pháp môn trì danh niệm Phật. Pháp môn này rất dễ tu nhưng lại khó tin. Người tin pháp

môn này, phải là người có thiện căn sâu dày trong nhiều đời nhiều kiếp mới có thể tin

được. Nhưng tin đây không phải là tin suông qua văn tự chữ nghĩa, mà phải có một niềm tin vững chắc, không gì có thể lay động làm cho chúng ta thay đổi được.

 

Tin niệm Phật vãng sanh Cực lạc lý tánh ấy không thể cùng tận, công đức không thể nghĩ bàn, Phật A Di Ðà trong lúc tu nhân có phát nguyện: nếu chúng sanh trong mười phương,

có ai xưng niệm danh hiệu ta, người ấy được tiếp dẫn vãng sanh về cõi Cực lạc; được

thành Phật, không có lui sụt, chỉ cần trong tâm nhớ sáu chữ Nam Mô A Di Ðà Phật không quên sẽ được đầy đủ công đức không thể nghĩ bàn.

 

Phương pháp này rất dễ làm chỉ cần mỗi buổi sáng xưng niệm hồng danh Nam Mô A Di

Ðà Phật chừng mười hơi thở cũng chắc được vãng sanh vào địa vị không lui sụt, vĩnh

viễn thoát khỏi luân hồi, thẳng đến thành Phật. Vì thế cho nên, đây là một pháp môn vượt

tắt 3 cõi, chỉ một đời vào thẳng quả Phật, ngoài pháp môn này không còn pháp môn nào

được thù thắng như thế. Bởi thế, từ xưa tới nay, có rất nhiều liên hữu niệm Phật được

- 44 -


vãng sanh đúng theo như ý nguyện. Như trường hợp bà Bá Bất Quản mà sách sử đã nêu

ra và thường ca tụng sự nhứt tâm niệm Phật của bà.

 

Ngoài ba điều tin cơ bản đó ra, chúng ta cũng nên tin sâu vào lýNhân Quả, và tin chắc vào Sự Lý niệm Phậtmột cách rõ ràng.

 

Tin nhân là thế nào?Nhân là hạt giống. Chúng ta tin chắc rằng, hôm nay chúng ta gây

nhân chủng niệm Phật, thì trong tương lai chúng ta sẽ thành Phật. Hằng ngày, chúng ta nỗ

lực công phu niệm Phật cho thật già dặn miên mật, đó là chúng ta đã gieo hạt giống sâu

dày với pháp môn niệm Phật. Gieo nhân tốt, tất nhiên, chúng ta sẽ gặt hái quả tốt. Nói

rộng ra, hiện đời, nếu chúng ta cố gắng tu hành gây nhân lành, thì chắc chắn chúng ta sẽ hưởng được quả lành, chẳng những trong hiện đời mà đời sau chúng ta cũng hưởng được quả báo tốt đẹp.

 

Tin Quả là sao?Quả là trái. Quả thì bao giờ cũng đáp đúng lại với cái nhân đã gây.

Ngoại trừ khi bị nghịch duyên. Cổ đức thường nói: "chủng hoa đắc hoa, chủng đậu đắc

đậu".Câu nói này nhằm để xác minh nhân nào quả nấy. Tuy nhiên, nếu luận sâu hơn, thì

chưa hẳn hoàn toàn như thế. Nhưng trên nguyên tắc chung là như vậy. Nghĩa là gieo

giống nào, thì gặt hái quả nấy. Ðó là định luật chung. Ta không thể gieo hạt giống đậu mà lại kết thành quả bông. Có một vài trường hợp ngoại lệ, mà ta không để ý. Có khi ta gieo

hạt giống hoa mà lại kết thành quả cỏ. Lý do tại sao có sự trái ngược như thế? Ðó là vì khi gieo giống, ta không chăm sóc để ý đến lũ kiến. Nên để kiến tha hết hạt giống hoa, khi mọc lên ta chỉ thấy toàn là quả cỏ. Cho nên, từ nhân tới quả, nó còn đòi hỏi phải có

nhiều thứ trợ duyên tốt khác. Có thế, thì mới kết quả tốt đẹp được. Ngoài ra, nhân và quả bao giờ cũng phải tương đồng.

 

Nhìn vào quả báo hiện tại, ta cũng có thể biết được cái nhân quá khứ. Nay ta được báo thân người, là ta biết chắc rằng, đời trước ta đã có tu, gây tạo nhân lành. Tuy nhiên, cái quả báo tốt, xấu, lành, dữ hôm nay, nó còn tùy thuộc vào cái nhân lành dữ đời trước mà chúng ta đã gây tạo. Tin theo nhân quả, thì chính ta trọn quyền làm chủ đời ta. Ta phải

chịu trách nhiệm những gì mà ta đã gây tạo. Ta không đổ thừa đổ tháo cho ai cả. Vì luật nhân quả rất công bằng, như vang theo tiếng, như bóng theo hình. Ta không học, mà đòi

biết chữ hay có cấp bằng cao, thì đó là điều vô lý, không tưởng. Tất cả mọi việc xảy ra cho ta trong đời này, hoặc tốt, hoặc xấu, hoặc may hoặc rủi, đều do chính ta tạo ra cả.

Biết thế, thì ta không còn than trách, khi gặp quả báo xấu xa đến với ta. Ta hãy vui lòng và sẵn sàng chấp nhận để trả tất cả. Ngọt thì nhờ mà đắng thì chịu.

 

Thế nào là tin Sự?Sự tức là những việc hiện hữu, mọi hiện tượng hình tướng phô bày ra trước mắt ta. Tất cả danh ngôn sắc tướng, nói chung, nhà Phật gọi đó là Sự. Sự tướng

cũng có nghĩa là những phương tiện. Như tụng kinh, lạy Phật, lần chuỗi niệm Phật, bất cứ

cảnh tượng lễ nghi hình thức nào được diễn bày cụ thể, đều gọi chung là phương tiện sự tướng. Tin sự nói ở đây, tất nhiên, là ta phải tin vào Sự Tịnh độ. Nghĩa là Tin có cõi Cực lạc và gần nhứt là tin vào "sự niệm Phật nhứt tâm" của ta. Vì nhứt tâm có"Sự nhứt tâm

và Lý nhứt tâm".Khi niệm Phật, ta lấy câu Phật hiệu để cho tâm ta vin vào, nghĩa là ta chỉ một bề chuyên chú vào câu hiệu Phật sáu chữ Di Ðà, tâm không xao lãng nhớ nghĩ chuyện gì khác, chỉ có một câu niệm Phật hiện tiền, thì đó gọi là "Sự nhứt tâm"

- 45 -

Như vậy, tin sự là tin mọi hiện tượng bày ra mà tâm ta có thể nắm bắt vin vào, để khỏi bị

những vọng tưởng làm tán loạn nghĩ nhớ lung tung, thì đó là ta đã thật sự tin vào Sự niệm

Phật. Dù rằng, ta vẫn biết, mọi sự tướng đều là giả danh không thật. Nhưng nếu rời sự

tướng ra, thì ta cũng không thể nào đạt được thành tựu đạo quả. Ta phải có nhận định rõ

ràng rằng, sự tướng chỉ là phương tiện mà ta cần nương vào để tu học. Nương phương tiện để đạt cho được cứu cánh, như nương ngón tay để nhìn thấy mặt trăng. Mặt trăng không phải là ngón tay. Chấp chặt vào ngón tay, thì đó là kẻ khờ dại, vì muôn đời vạn kiếp, ta không bao giờ thấy được mặt trăng. Nương phương tiện để đạt cứu cánh, chính

đó là thái độ khôn khéo của người tu học Phật. Nên nói nương Sự để hiển Lý là lý do đó.

 

Tin lý là tin như thế nào?Lý là lẽ thật, là cái mà ta không thể thấy nắm bắt được. Lý nói

đủ là chân lý. Chân lý là một thực thể vượt ngoài khả năng nhận thức phân biệt của ý

thức. Ta chỉ có thể cắt nghĩa giải thích phân tích trên phần hình thức sự tướng. Ta không thể phân tích giải bày cái thực thể không hình tướng được. Không ai dại dột gì phân tích

giải thích hư không. Lý luận hay phân tích hư không, đó là thái độ việc làm của những con người ấu trĩ vô trí.

 

Bất cứ pháp môn nào Phật dạy, cũng đều có Sự và Lý rõ ràng. Ðiều ta nên biết rõ, là Sự và Lý hay Tánh và Tướng không bao giờ rời nhau. Ngay trong sự đã có lý và ngược lại

ngay trong lý đã có sự. Tức sự và lý phải viên dung. Khác nào như nước với sóng không thể ly khai nhau mà có. Ngay trong sóng đã có nước, hay ngược lại cũng thế

Cụ thể như pháp môn Tịnh độ, cũng có sự tịnh độ và lý tịnh độ. Sự tịnh độ như đã nói ở

trên. Về lý tịnh độ, như trong Kinh Duy Ma Cật đã nói: "Tùy kỳ tâm tịnh, tức Phật độ

tịnh".Tâm tịnh thì cõi nào cũng tịnh. Khi tâm ta được an tịnh rồi, thì dù chúng ta đang

sống trong cõi đời đầy ô trược nhiễm ô này, chúng ta cũng vẫn cảm thấy an vui giải thoát. Nghĩa là không có gì ràng buộc được tâm ta. Ta là người hoàn toàn tự do, tự tại. Lúc nào và ở đâu, ta cũng là người thảnh thơi cả. Nếu ta chưa đạt được tâm tịnh như thế, thì ta cần phải nương sự. Chưa được cá mà vội quăng nôm, thì đó là tâm trạng của kẻ bệnh hoạn.

Hiểu được sự lý rõ ràng, thì sự tu hành của chúng ta mới không bị sai lệch. Ta phải khéo léo dung hợp giữa sự và lý, không nên chấp chặt thiên lệch một bên.

 

Khi đã có đủ lòng tin rồi, điều kiện ắt có là ta phải hết lòng chuyên nhất xưng niệm danh hiệu sáu chữ hồng danhNam Mô A Di Ðà Phật. Chuyên là chuyên cần niệm Phật không

xen hở, còn nhất là chỉ có một câu danh hiệu Phật trong tâm. Tuyệt đối, ta không nhớ

nghĩ chuyện gì khác. Nếu ta chưa thật sự niệm Phật liên tục, tức tịnh niệm chưa được nối

luôn trong suốt mọi thời gian, thì Phật khuyên bảo chúng ta nên phân định thời gian ra làm sáu thời để hành trì.

 

Ngày xưa, vua Trần Thái Tông, tuy bận rộn với nhiều công việc triều chính, nhưng nhà

vua vẫn tinh tấn chia thời gian trong ngày ra làm sáu thời để hành thiền. Vì chuyên tu thiền tập, nên nhà vua phải thiền tọa sáu lần trong một ngày. Mỗi thời, ngài hành thiền khoảng 15 hay 20 phút. Ta nên nhớ, nhà vua không có thời giờ rảnh rỗi nhiều, phải lo

giải quyết bao nhiêu công việc triều chính. Thế mà, nhà vua, ngoài việc chuyên chú thiền

- 46 -

tọa, ngài còn dành thời gian để lễ bái sám hối, gọi là lục thời sám hối khoa nghi. Thế mới

biết, sự gia công tinh tấn tu hành của nhà vua rất là miên mật.

 

Nay đây, chúng ta cũng nên cố gắng bắt chước, nhất là đối với những người trọng tuổi, ít bận rộn công việc mưu sinh, nên dành thời giờ để chuyên cần niệm Phật. Ðiều quan trọng là phải giữ thời khóa trọn đời. Cho nên mới có câu nói: "niệm Phật không khó, mà khó ở

bền lâu. Bền lâu không khó, mà khó ở nơi nhất tâm".Lời dạy này là một tiếng chuông

cảnh tỉnh chúng ta, phải nên gia tâm chú ý trong khi chuyên chú niệm Phật. Thật ra, niệm

Phật, ai cũng có thể niệm được, không khó gì hết. Nhưng cái khó là ở nơi giữ được thời khóa đều đặn bền lâu.

 

Bệnh nặng của chúng ta thời nay là thường hay giãi đãi. Lúc niệm, lúc không, khi thì tinh tấn, khi thì làm biếng, nghĩa là cứ làm từng chập từng hồi cho có lệ. Khi làm biếng, thì ta

viện đủ mọi lý do để nghỉ. Tu thì lai rai mà muốn vãng sanh gấp và đòi phải ở phẩm vị

cao. Phải là thượng phẩm thượng sanh mới chịu. Ðó là cái bệnh lười biếng trụy lạc mà lại

đèo bồng trèo cao. Thật nghĩ mà xấu hổ cho ta quá chừng!

 

Nếu hành giả nào giữ gìn thời khóa ngày đêm sáu thời trọn đời như thế, thì Phật nói:

"hiện tiền chiêu cảm được y báo, và chính báo của Phật A Di Ðà ở cõi Cực lạc". Lời

dạy này nghiền ngẫm ta thấy thật là chí lý. Khi niệm Phật được như thế, thì trọn ngày

cũng như trọn đời, tâm ta lúc nào cũng nhớ đến Phật. Khi nhớ Phật tha thiết như thế, thì

tâm ta chắc chắn là an lạc rồi. Ðược vậy, thì dù thân xác chúng ta đang sinh sống ở cõi Ta bà này, nhưng tâm ta đã giải thoát an lạc tại nơi đây. Như thế, thì ta đã vãng sanh Cực lạc hiện tiền rồi.

 

Tiếp đến Phật nói: "Lúc lâm chung cố giữ sao cho được mười niệm tiếp nối liền nhau, lập tức vào Phổ Ðẳng Tam Muội của Ðức A Di Ðà được Phật tiếp dẫn về Tịnh độ Tây

phương".Ðọc qua đoạn văn kinh này, ta không có gì phải nghi ngờ. Ta tin chắc lời Phật

dạy như thế. Tuy nhiên, một người sắp lâm chung mà giữ được mười niệm Phật trong chánh niệm, thật không phải là chuyện dễ dàng. Thử nghiệm lại, trong lúc ta còn minh mẫn tỉnh táo, nhưng trong mười niệm ( 10 câu hiệu Phật ), ta có thật sự giữ được hoàn toàn chánh niệm hay không? Chánh niệm là không có một niệm dấy khởi xen tạp. Tức

không có niệm quá khứ vị lai. Chỉ có một chánh niệm sáng rỡ hiện tiền. Hà tất gì, lúc sắp lâm chung, thân thể ta đau nhức rả rời, tâm trí ta thì hôn mê tán loạn, không phải chuyện dễ dàng giữ được mười niệm trong chánh niệm.

"Phổ Ðẳng Tam Muội", tức chánh định bình đẳng hiện tiền. Vì có chánh định là tâm ta

trùm khắp cả pháp giới, không có bị ngăn ngại, nên nói là Phổ Ðẳng. Phổ là khắp, đẳng là đồng, tức tâm thể bình đẳng. Chỉ có chánh định mới có được tâm thể bình đẳng như vậy. Ðược thế, thì hành giả đã tương ưng với bản nguyện của Ðức Phật A Di Ðà, tất nhiên, là sẽ được Ngài phóng quang tiếp dẫn về Cực lạc.

Muốn được lúc sắp lâm chung tâm ta luôn nhớ Phật, thì hằng ngày lúc còn khỏe mạnh, ta

phải hết lòng chí thành niệm Phật. Niệm Phật một cách liên tục sâu dầy, gọi là lão thật

niệm Phật. Niệm Phật phải là tâm niệm thiết thiệt cho già dặn chớ không phải chỉ có khẩu

niệm. Nếu chí có miệng niệm mà tâm không niệm, thì quả thật không khác gì cái máy

- 47 -

niệm Phật. Xin mỗi người đừng biến mình thành một cái máy niệm Phật, thì thật là tai hại

biết bao! Vì cái máy chỉ là cái công cụ vô tri giác. Nó chỉ có công dụng là thức nhắc tâm ta nhớ niệm Phật mà thôi. Ngoài ra không giúp ích gì khác. Nếu ỷ lại vào cái máy, thì rất là nguy hiểm vô cùng. Chúng ta phải hết sức chú ý về điểm này.

Nhờ sức huân niệm sâu dầy này, mà lúc lâm chung câu hiệu Phật từ trong vô thức của ta

hiện lên. Chính đây mới là điều đúng theo Phật dạy "Phật mình tự cứu lấy mình". Phật

bên ngoài chỉ cứu mình một phần. Nếu không có phần tự lực huân niệm mạnh mẽ này, thì

Phật ngoài cũng không thể nào cứu mình nổi. Hành giả niệm Phật phải lưu tâm đến lời Phật dạy ở trên mà gia công chuyên cần niệm Phật cho thật miên mật sâu dầy.

Khi đã được vãng sanh về Tây phương Cực lạc, thì chúng ta sẽ dứt hết mọi khổ đau ràng buộc. Ở cõi Cực lạc, tên ác đạo còn không có, có đâu đọa lạc vào các đường ác. Như thế,

là ta đã đoạn dứt mầm mống sanh tử luân hồi rồi. Vì sao? Vì đã chứng ngôi Bất Thối Chuyển, tức không còn lui sụt như ở cõi này.

Từ đó về sau chỉ có một bề tiến tu, vượt qua hàng Thập Ðịa Bồ tát và tốc chứng quả vị

Bồ Ðề. Ðó là một thắng duyên hy hữu rất lớn khi một người đã được vãng sanh về Cực lạc.

Kinh Văn

Diệu Nguyệt nên biết,đây thật là pháp vi diệu thù thắng đệ nhất, mà chư Phật dùng để cứu độ khắp hết thảy chúng sinh.Ðây thật là môn tu thích đáng khế hợp mọi căn mà chư Phật dùng để đưa hết thảy muôn loài xa rời nẻo khổ, chứng đắc Niết bàn

tại thế, thành Phật trong một đời. Ðây là môn tu đại oai lực, đại phước đức mà chư

Phật giúp chúng sinh vượt thắng thân phàm phu, mà thâm nhập cảnh giới Chơn thường.

 

Giảng giải

 

Ðến đây, Phật xác định rất rõ cho cư sĩ Diệu Nguyệt cũng như chúng sinh đời sau biết:

"Ðây là pháp vi diệu thù thắng đệ nhất".Nói vi diệu thù thắng, là vì chỉ có niệm sáu chữ Di Ðà mà kết quả mau chóng được thành Phật. Thật là đơn giản, thật là dễ hành trì. Hành giả không phải tốn công lao mệt sức để tìm tòi tra cứu chi hết. Cứ ngày đêm chuyên niệm sáu chữ Di Ðà mà không niệm gì khác. Ðược thế, thì lo gì không được an lạc giải thoát.

Pháp vi diệu này là pháp mà không phải chỉ riêng có Ðức Phật Thích Ca mới sử dụng để

cứu độ chúng sinh, mà thập phương chư Phật đều phải dùng đến. Vì sao? Vì pháp môn

niệm Phật này rất thích hợp mọi căn cơ, thời đại. Bất luận căn cơ nào, thời đại nào, ai

cũng có thể tu niệm được cả. Thật hành đơn giản mà kết quả lại cao. Nên dễ phổ cập hết mọi căn cơ chúng sinh.

 

Chúng sinh nhờ nương pháp môn niệm Phật kỳ diệu này mà thoát khổ và mau chứng đắc

Niết bàn. Không phải tìm Niết bàn ở đâu khác, mà Niết bàn có ngay trong khi chúng ta niệm Phật. Mỗi câu Phật hiệu mà ta niệm thiết thiệt chính chắn đàng hoàng, thì ngay đó

- 48 -

là Niết bàn rồi. Vì Niết bàn là an lạc, là tịch diệt vô sanh. Tâm và Phật cả hai đều khắn

khít nhau, không sanh khởi một niệm gì khác, thì đó là an lạc, là vắng lặng là vô sanh rồi.

Thật là mầu nhiệm vô cùng!

Nếu chúng ta cố gắng chuyên tâm niệm Phật miên mật như thế, thì chúng ta sẽ có đầy đủ

đại oai nghi, đại phước đức, không thể lường được. Ngay khi niệm Phật là đã có đầy đủ "Giới, Ðịnh, Huệ", tức gồm đủ ba môn học siêu thoát rồi. Thế là chúng ta sẽ vượt thắng

thân phàm phu mà thâm nhập cảnh giới Chơn thường. Chơn thường là một trong Tứ Ðức Niết Bàn:"Chơn thường, Chơn lạc, Chơn ngã và Chơn tịnh".

 

Kinh Văn

 

Ðây là môn tu đại bát nhã, đại thiền định, mà chư Phật dùng làm thuyền bè đưa hết

thảy chúng sinh qua thấu bờ bên kia, không còn sinh già bệnh chết, hoàn toàn

hưởng dụng pháp lạc.Ðây là môn tu đại trang nghiêm, đai thanh tịnh, mà chư Phật dùng để đưa hết thảy vào giới luật, nhiếp chúng sinh vào oai nghi, an ổn khoái lạc.

Ðây là một môn tu đại nhu hòa, đại nhẫn nhục,mà chư Phật giúp hết thảy chúng sinh tự tại giữa khổ và vô thường mà thành tựu Tri Kiến Phật.

Ðây là môn tu đại Bồ Ðề, đại siêu việt, mà chư Phật dùng làm cứu cánh để giúp hết thảy chúng sinh thành Phật, như Phật ngay trong một kiếp.Ðây là môn tu đại từ bi,

đại dũng mãnh, mà chư Phật dùng để giúp chúng sinh có được cái Tâm bằng Tâm chư Phật, có được cái Nguyện bằng Nguyện chư Phật, mau chóng vượt qua địa vị phàm phu và tự chứng Pháp Thân từng phần.

Giảng giải

Tại sao chỉ có sáu chữ Nam Mô A Di Ðà Phật, mà Phật nói lại gồm thâu tất cả các pháp môn khác? Như các môn: "đại bát nhã, đại thiền định, đại trang nghiêm, đại thanh tịnh,

đại nhu hòa, đại nhẫn nhục, đại Bồ Ðề, đại siêu việt, đại từ bi, đại dũng mãnh",đều

được chư Phật sử dụng sáu chữ này để độ cho hết thảy chúng sinh chóng vượt thoát khỏi bến mê sinh tử mà mau đến bờ giác thể nhập chứng đắc quả vị Vô Thượng Bồ Ðề.

Chúng ta nên nhớ rằng, những pháp môn tu trên, đều là của các bậc Bồ tát ứng dụng, thật hành. Như vậy, cho chúng ta thấy rằng, lực dụng thù thắng của sáu chữ Di Ðà thật đầy đủ

công đức diệu dụng vô lượng vô biên, không thể nghĩ bàn. Ðiều này, với trí phàm phu của chúng ta xét nghĩ, cũng khó mà hiểu cho thấu đáo tường tận được. Tuy nhiên, nếu

bình tâm quán chiếu thật kỹ, ta thấy trong lúc chúng ta thiết tha chí thành niệm danh hiệu Phật, không dấy khởi một tạp niệm nào khác, dù là rất vi tế nhỏ nhiệm, ngay lúc đó trong

tâm ta có đầy đủ lục độ vạn hạnh của Bồ tát. Nói lục độ vạn hạnh là bao gồm tất cả các pháp môn khác. Lý do tại sao? Xin thưa, dù hành giả tu bất cứ pháp môn nào, mục đích nhắm tới cũng là muốn cho tâm ta được an định và trí huệ khai phát.

Ngẩu Ích Ðại Sư có nói: "người niệm Phật không trụ tâm, buông bỏ thân và thế giới, đó là Ðại Bố Thí". Ý nói, trong lúc chúng ta chí thiết niệm Phật không có tạp niệm nào xen vào, thì ngay giây phút đó, chúng ta đã quên thân và thế giới bên ngoài, mặc dù thân của

- 49 -

chúng ta vẫn ngồi đó, mà tâm ta không nghĩ đến, thì có đó cũng như không. Cảnh vật

chung quanh bên ngoài cũng thế.

 

"Niệm Phật không khởi tham sân si là Ðại Trì Giới". Lý do là vì đương khi niệm Phật, chỉ một bề nhớ Phật tự tâm tha thiết, thì lúc đó làm gì có tham sân si nổi lên, mà không có phiền não dấy khởi, thì mới thiệt là trì giới.

"Niệm Phật không còn tính chuyện thị phi nhân ngã là Ðại Nhẫn Nhục".Vì trong khi

niệm Phật, mình đâu có nghĩ gì đến ai, và cũng không có buồn phiền ai, nếu như có buồn phiền giận tức ai, thì lúc đó là niệm người khác chớ đâu phải là niệm Phật.

 

"Niệm Phật thuần nhất tâm không gián đoạn là Ðại Tinh Tấn".Tinh tấn có nghĩa là chuyên tinh ròng rặt, một mặt tiến tới không hề lui sụt. Người niệm Phật mà còn gián

đoạn khi niệm khi không, thì người đó chưa phải là tinh tấn. Tinh tấn nói ở đây, là tinh

tấn ở nơi tự tâm ta. Tâm ta chỉ hằng nhớ đến Phật trong mọi động tác thi vi, mà tuyệt

nhiên không nhớ thứ gì khác, từng niệm Phật nối luôn không xen hở, đó mới thật là Ðại Tinh Tấn.

"Niệm Phật không theo đuổi vọng tưởng là Ðại Thiền Ðịnh".Còn vọng tưởng dấy khởi

là chưa phải thiết thiệt niệm Phật và như thế, tất nhiên là tâm ta không an định rồi.

"Niệm Phật có tâm tịch chiếu, tịch là định, chiếu là huệ, có định huệ, tất nhiên là không bị mê hoặc lôi cuốn đó là Ðại Trí Huệ. Cốt yếu là một lòng không loạn động chứ không có gì lạ cả.

Nói tóm lại, khi niệm Phật miên mật chí thiết như thế là hành giả đã giữ giới nghiêm

nhặt, vì ba nghiệp thanh tịnh. Khi niệm Phật dùng trí huệ nhận biết rõ từng chữ, từng câu,

từng vọng tưởng sinh diệt, đó là đại trí huệ. Khi niệm Phật, mọi vọng tưởng không sinh khởi, đó là đại thiền định v.v¼Cứ thế mà suy ra, tất cả các môn khác cũng đều có đầy đủ trong câu hiệu Phật.

Như vậy, không cần phải nhọc công tu môn nào khác, chỉ một lòng chí thành tha thiết niệm hồng danh:Nam Mô A Di Ðà Phật là gồm thâu tất cả. Ðiều này, không phải là

việc suy luận mà là một chứng nghiệm cụ thể. Hành giả nào niệm Phật gồm cả "Sự lẫn

", khéo léo dung hợp tương tức, tương nhập cả hai, cho đến khi thành một khối, lần đạt đến lý"Nhất tâm bất loạn", thì đó là kết quả Phật tại kỳ tiền rồi.

Như thế, thì hành giả đã giải thoát sinh tử ngay trong lòng cuộc đời này. Dù hành giả

không muốn vãng sinh cũng đã vãng sinh. Ðó là Cực lạc tại Ta bà không cần phải lặn lội tìm kiếm ở đâu xa cho thêm hao hơi mệt sức.

Kinh Văn

Lại nữa trong quá khứ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nhẫn lại đến nay, chư Phật cũng chỉ dùng một pháp Niệm Phật này để độ khắp chúng sinh. Trong hiện tại cũng

- 50 -

có vô lượng vô biên hằng hà sa chư Phật ở mười phương cũng đang thuyết giảng

giáo nghĩa Niệm Phật này để rộng cứu vớt chúng sinh.

Trong đời vị lai, tất cả chư Phật nếu muốn cứu vớt hết mọi chúng sinh, thì cũng

phải do nơi pháp Niệm Phật này. Do đó mà Như Lai bảo rằng Niệm Phật là vua của tất cả các pháp.

Giảng giải

Khi đọc đến đoạn văn Kinh này, gây cho chúng ta một thắc mắc, tại sao Phật lại đề cao pháp môn niệm Phật này vượt trội hơn các pháp môn khác như thế? Ai cũng biết, những

pháp môn khác cũng chính do Phật nói ra. Không lý nào Phật lại phủ bác hạ thấp các

pháp môn khác mà do Phật đã tuyên bày hết sao? Như vậy, thì những chúng sinh lỡ đã tu các pháp môn khác thì sao? Và nếu chỉ có pháp môn niệm Phật này cao tột và gồm thâu

hết các căn cơ, thì Phật lại nói các pháp môn khác làm chi nữa?

Trước sau Phật chỉ cần nói một pháp môn Niệm Phật này thôi là đủ để độ thoát hết thảy

chúng sinh được rồi. Phật nói chi các pháp môn khác để chúng sinh phải trải qua bao

nhiêu công lao cần khổ tu hành mà không đạt được kết quả cao. Như thế, thì có phải là

bất tiện lợi lắm không? Chi bằng, chúng sinh chỉ cần niệm danh hiệu Phật sáu chữ Di Ðà

thôi, thì sẽ chóng được thành Phật. Như thế, có phải là tiện lợi lắm không? Thật là quá đơn giản, quá khỏe khoắn, tội gì phải tự tìm tòi nghiên cứu mò mẫm tu học chi cho nó

phải chịu lắm nỗi mệt xác. Hơn nữa, tự tu, tự hành như thế, chắc gì đảm bảo là mình đã đi

đúng hướng chánh pháp Phật dạy. Nếu không khéo, thì dễ bị sai lầm rơi vào con đường tà kiến.

Vả lại, khi tụng đọc Kinh Pháp Hoa, Phật cũng nói kinh này là vua của các kinh. Ở đây, Phật lại nói Niệm Phật là vua của tất cả các pháp. Thế thì, biết tin cái nào đây? Vì Kinh Pháp Hoa Phật dạy cũng nhằm mở bày tuệ nhãn cho chúng sinh mau chứng đạt Phật Tri Kiến. Mục đích là để chúng sinh y cứ nơi đó mà tu hành chóng được thành Phật.

Ngoài Kinh Pháp Hoa ra, các kinh điển Ðại thừa khác, Phật cũng đều nhắm thẳng cái tiêu

đích chính đó mà chỉ dạy cho chúng sinh. Như vậy, kinh nào cũng là vua hết, pháp môn

nào cũng là cao siêu tuyệt diệu hết. Thế thì, chúng ta biết tu theo pháp môn nào mới đúng

pháp đây? Phật dạy như thế, có phải là làm rối trí lộn xộn thêm cho chúng sinh, khi họ chọn lựa một pháp môn tu học không? Ðó là những điều, thiết nghĩ, chắc hẳn ít nhiều gì chúng ta cũng đâm ra hoang mang nghi ngờ thắc mắc và tự hỏi như thế.

Sự thắc mắc đó không phải là vô lý, nhưng, theo chỗ hiểu nông cạn của chúng tôi, thì

không hẳn là như vậy. Vì sao? Vì các kinh điển Phật dạy là tùy theo đối cơ mà Phật nói. Luận về căn cơ trình độ hiểu biết của chúng sinh thì có muôn ngàn sai khác. Ðó là chưa

nói đến, chúng sinh có nhiều loại chủng tánh khác nhau. Ðại loại, trong Kinh thường nêu

có 5 loại chủng tánh:

-     Chủng tánh phàm phu. -            Chủng tánh Nhị thừa.

- 51 -

-     Chủng tánh Ðại thừa.

-     Chủng tánh ngoại đạo. -            Chủng tánh bất định.

Chúng sinh có nhiều loại căn cơ chủng tính, thì Phật nói pháp cũng phải theo đó mà cho nó thích hợp. Vì thế, kinh Phật còn gọi là khế lý và khế cơ. Khế lý là hợp với chân lý vũ

trụ. Khế cơ là hợp với mọi trình độ căn cơ hiểu biết của mỗi chúng sinh và ở mỗi thời đại.

Sự đề cao của mỗi pháp môn tu hay mỗi bộ kinh là tùy theo đối cơ mà Phật nói. Vì có

loại chúng sinh căn cơ trình độ chủng tánh Ðại thừa, họ có khả năng tiếp thu giáo lý cao

siêu, thì Phật trình bày cảnh giới tu chứng cao. Nghĩa là giáo lý vượt ngoài sự đối đãi tầm

thường. Phật chỉ bày một thực thể siêu việt không nằm trong phạm trù sinh diệt. Giáo lý này thuộc về liễu nghĩa kinh.

Thí như môn học ở thế gian, có những người trình độ của họ là cử nhân, tiến sĩ, mà ông giáo sư lại đem chưong trình ở cấp bậc tiểu học ra thuyết giảng, như thế thử hỏi có thích hợp với họ không? Và người ta sẽ đánh giá ông giáo sư đó như thế nào? Hẳn nhiên, chỉ có mấy ông giáo sư gàn dở mới làm như thế. Muốn cho buổi thuyết giảng thích hợp với trình độ của họ, tất nhiên ông giáo sư phải thuyết giảng chương trình ngang với trình độ của họ. Có thế, thì người nghe mới không chán và họ mới thực sự có lợi ích. Sự thuyết giáo của Ðức Phật cũng lại như thế.

Ngược lại, đối với hàng căn cơ và chủng tánh ở trình độ thấp, họ chỉ có khả năng tiếp

nhận giáo lý thông thường, thì Phật dạy cho họ giáo lý thấp hơn. Giáo lý này nằm trong phạm trù duyên sinh đối đãi. Họ nghe qua dễ hiểu dễ nhận. Ðây thuộc về Bất liễu nghĩa kinh. Như vậy, thấp hay cao rõ ràng là do trình độ nhận hiểu của chúng sinh, chớ không

phải giáo lý của Phật có cao, có thấp. Thấp cao chẳng qua chỉ là tạm dùng phương tiện đó

thôi. Cũng như thuốc uống trị bệnh, không nói thuốc nào hay thuốc nào dở. Thuốc nào

chữa lành bệnh là thuốc hay. Quan trọng là ở nơi chữa lành bệnh mà thôi. Giáo pháp của Phật dạy cũng lại như thế.

Chúng ta còn nhớ, trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm Dược Thảo Dụ thứ năm, Phật có nêu

bày một thí dụ cỏ thuốc. Phật nói giáo pháp của Phật nói ra khác nào như một đám mưa.

Mưa thì không phân biệt cỏ cây. Nghĩa là nước mưa từ trên trời rơi xuống thì không

khác, nhưng các loại cỏ cây ở dưới đất thì có sai khác. Và sự hấp thụ nước mưa của các loại cỏ cây đó nhiều ít khác nhau. Giáo pháp Phật dạy cho hết thảy chúng sinh cũng như

thế. Phật nói pháp chỉ thuần một vị, đó là vị giải thoát. Nhưng tùy theo trình độ nhận hiểu

của mỗi chúng sinh sâu cạn mà có khác nhau. Giống như cỏ cây hấp thụ nước mưa lớn nhỏ nhiều ít khác nhau vậy.

Thế thì, tùy trình độ và tùy theo thời đại mà Phật thuyết giáo có sự ca ngợi tán thán khác nhau. Sở dĩ Phật nói kinh Pháp Hoa là vua trong các kinh, bởi vì những hệ tư tưởng trước kia, Phật chưa chỉ bày đến chỗ cùng tột. Mà tất cả Phật chỉ dùng phương tiện , tạm chia ra

có các thừa, để dẫn dắt chúng sinh dần lên mà thôi. Ðến thời Pháp Hoa, Ðức Phật mới

thật sự chỉ bày đến chỗ cùng tột, mà trong Kinh gọi là "Bảo Sở". Ngược lại, đối với các

- 52

thời kinh mà Phật đã nói trước kia chỉ có thể gọi là"Hóa Thành" mà thôi. Nói cách khác

từ thời Pháp Hoa trở về trước gọi là quyền phương tiện, đến thời Pháp Hoa mới gọi là chơn thật cứu cánh. Vì sao? Vì đến đây, Phật quy Tam thừa về ở nơi Nhứt thừa, hay

Phật thừa. Thế nên, Phật nói Kinh Pháp Hoa là vua trong các Kinh là ý đây vậy. Ðó là

nói thời chánh pháp Phật còn tại thế. Còn thời đại mạt pháp thì sao?

Ðối với thời đại mạt pháp hiện nay, căn cơ trình độ của chúng sinh, dĩ nhiên khác xa với

thời đại chánh pháp. Ðối với thời chánh pháp, những chúng sinh có duyên gặp Phật thì Phật độ họ tu mau giải thoát. Lý do tại sao? Vì họ đã từng trải qua nhiều đời gieo trồng

hạt giống thiện căn rất sâu dày với Phật pháp. Vì thế, nên đời nay những vị đó mới được như thế.

Ngược lại, chúng sinh hiện nay, phải nói, phần nhiều là căn tánh hạ liệt, ám độn, thiện căn cạn mỏng, nghiệp chướng sâu dày, sức hiểu biết rất là thô sơ nông cạn, nên đối với

các pháp môn khác thì nghiêng nặng phần tự lực, khác nào như con mọt phải đục từ mắc

tre bò lên. Vì thế cho nên phải trải qua thời gian dài lâu và rất khó đảm bảo cho sự tu

hành giải thoát. Chỉ có pháp môn Niệm Phật, ngoài phần tự lực ra còn có nhờ phần tha lực.Tha lực là nương theo bản nguyện của Ðức Phật A Di Ðà mà được vãng sinh. Khác nào như con mọt đục ngang hông ống tre mà bò ra. Vừa rút ngắn thời gian và cũng vừa

đảm bảo cho việc tu hành nhanh chóng tiến lên thành quả vị Phật. Vì Phật nói, chúng sinh nào đã được vãng sinh về Cực lạc, thì không còn bị lui sụt. Tức đã được lên ngôi Bất thối

chuyển. Dù vậy, nhưng Ðức khuyên chúng ta không nên ỷ lại vào tha lực, mà phải tự

mình nỗ lực chuyên cần niệm Phật. Ðược thế, thì chúng ta mới đạt được kết quả như ý muốn.

Hơn thế nữa, đối với pháp môn Niệm Phật này, so với căn tánh chúng sinh hiện nay, thì rất thích hợp với thời đại và nhất là rất phù hợp với hầu hết mọi căn cơ. Vì lý do đó, mà Phật đề cao pháp môn niệm Phật này. Mục đích đề cao là để chúng sinh có đầy đủ niềm

tin vững chắc mà y cứ vào đó nỗ lực tu hành mau thành Phật quả. Ðây không phải là điều

khuyến dụ mà là một thực tế lợi ích thiết thiệt của sự tu hành trong thời kỳ pháp nhược ma cường này.

Bởi thế, nên Phật nói từ vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp, nhẫn lại đến nay, chư Phật cũng

chỉ dùng một pháp niệm Phật này để độ khắp chúng sinh. Trong hiện tại cho đến vị lai, muốn độ khắp chúng sinh mau thoát khỏi sinh tử khổ đau, chóng đạt thành Phật quả, thì chư Phật áp dụng dạy dỗ chúng sinh duy nhất cũng chỉ có pháp môn niệm Phật này. Ngoài ra, không còn pháp môn nào thắng diệu hơn nữa.

Kinh Văn

Này Diệu Nguyệt cư sĩ, hãy một lòng tin nhận lời dạy của Như Lai. Hãy ghi nhớ kỹ lời

dạy của Như Lai. Hạy thực hành theo lời dạy của Như Lai, và hãy chứng đắc Pháp Nhẫn tối tôn, tối diệu, đệ nhất này mà Như Lai đã ban cho.

Vì sao vậy? Vì pháp của NHư Lai là chân thật, là giải thoát, là an vui, là thuận theo

sở cầu, sở nguyện của mọi chúng sinh. Vì pháp của Như Lai là vắng lặng, không

- 53 -

dính mắc, vô cấu nhiễm, thuận theo tình và tưởng của chúng sinh mà vẫn giúp

chúng sinh thành tựu địa vị Phật Ðà, không bị hư hoại, cho nên chẳng cần phải

chán ghét lìa bỏ thế gian, ở trong chỗ ràng buộc mà tâm vẫn tự tại, thọ dụng pháp lạc. Và sau khi lâm chung được sinh về cõi Phật A Di Ðà.

Giảng giải

Sau khi trình bày pháp môn niệm Phật Ba La Mật là vua của các pháp nói trên, đến đây,

trước khi kết thúc phẩm Duyên Khởi này, Ðức Phật đã ân cần khuyến giáo cư sĩ Diệu

Nguyệt cũng như thính chúng đương hội và các chúng sinh đời sau, hãy ghi nhớ những lời Phật dạy.

Lời dạy bảo thứ nhứt là Phật khuyên chúng ta:"hãy một lòng tin nhận lời dạy của Như Lai".Qua lời dạy bảo thức nhắc trước tiên này, chúng ta cần để ý đến cụm từ:"một lòng

tin nhận".Nghe qua lời Phật dạy là một chuyện, nhưng nếu chỉ nghe qua mà không có

lòng tin nhận, thì sự nghe pháp đó thật là luống uổng. Chúng ta chỉ nghe suông có lệ mà

thôi. Như vậy, thì chưa đúng nghĩa của người Phật tử khi nghe pháp. Khi nghe pháp, người Phật tử phải giữ yên lặng cả thân lẫn tâm, để một lòng chăm chú lắng nghe. Có chăm chú lắng nghe, thì ta mới lãnh hội những gì Phật nói. Bằng ngược lại, nghe pháp

với một tâm tư xao lãng, nghĩ nhớ chuyện không đâu, tất nhiên là ta chẳng những không được lợi ích cho bản thân ta, mà còn phải bị phạm vào cái tội khinh pháp.

Thế nên, ở đây Phật nhắc nhở dạy bảo chúng ta phải một lòng tin nhận. Tin là tin chắc lời Phật nói không còn nghi ngờ. Vì sao vậy? Vì pháp môn Tịnh độ như đã nói, là một pháp

thật khó tin. Khó tin, vì pháp môn thật quá đơn giản, dễ hành trì mà kết quả lại cao. Có thể nói, đây là một pháp môn tối thù thắng hơn tất cả các pháp môn khác. Chính vì thế,

nên trước hết Phật bảo chúng ta phải một lòng tin nhận, đừng có sinh tâm nghi ngờ. Nếu khởi tâm nghi ngờ, thì đó là một chướng duyên rất lớn trên bước đường tu tập của chúng ta.

Lời dạy bảo thứ hai là Phật khuyên chúng ta:"hãy ghi nhớ kỹ lời dạy của Như Lai". Lời

dạy này Phật nhằm thức nhắc chúng ta phải nên lưu tâm ghi nhớ những gì Phật dạy. Bởi

Phật thừa biết tâm tánh của chúng ta ít khi nào nhớ nghĩ đến chánh pháp. Mà thông

thường chúng ta hay thích nhớ nghĩ đến những chuyện tào lao, những chuyện thị phi bù khú ở thế gian. Những chuyện đó, thì ta nhớ rất giõi. Còn bảo ta ghi nhớ vào kinh điển

Phật dạy, sao cảm thấy khô khan nhạt nhẻo, không có gì hấp dẫn. Phật biết rõ căn nghiệp

chúng sinh sâu dày như thế, nên Phật bảo chúng ta khi nghe pháp không nên lơ là xao lãng, mà phải hết lòng chăm chú lắng nghe và ghi nhớ kỹ càng lời Phật dạy.

Lời dạy bảo thứ ba là Phật khuyên chúng ta:"hãy thực hành theo lời dạy của Như Lai". Ðây là lời chí tình chí thiết của Ðức Phật. Nếu chúng ta chỉ nghe không chưa đủ, mà nghe rồi phải ghi nhớ tư duy chín chắn rồi cần phải đem ra ứng dụng thật hành. Ðó là chúng ta

đã thực hiện đú theo phương pháp học Phật qua ba lĩnh vực thiết yếu: "Văn huệ, Tư huệ

và Tu huệ". Có thật hành đúng như thế, thì sự nghe pháp học hỏi, tu tập của chúng ta mới chóng đạt được kết quả tốt đẹp.

- 54 -


Ðến lời dạy thứ tư Phật bảo chúng ta:"hãy chứng đắc Pháp Nhẫn tối tôn, tối diệu, đệ

nhất này mà Như Lai đã ban cho".Pháp nhẫn nói đủ là Vô sanh pháp nhẫn. Vô sanh tức

là không sanh không diệt. Nhẫn có nghĩa là tin nhận giữ gìn; là nói dùng trí vô lậu an trú trong thể chơn lý bất sanh bất diệt, tâm không lay động. Trong Ðại Trí Ðộ luận, quyển 50

nói: Ðối thật tướng vô sanh diệt của các pháp, tin nhận thông suốt, không ngăn ngại, không thối lui, gọi là Vô sanh nhẫn.

Chứng đắc có nghĩa là thể nhận thực nghiệm, là sống hòa nhập vào bản thể bất sanh bất diệt. Thí như muốn biết mùi vị sầu riếng như thế nào, thì chúng ta cần phải nếm thử mới có thể nhận biết trọn vẹn. Ngoài ra, không một ai có thể diễn tả mùi vị của nó cho người khác biết được. Chính vì thế, nên những lời Phật dạy là cốt để chúng ta thật hành, không phải là lý thuyết suông. Có thật hành đúng pháp, thì chúng ta mới được lợi ích thiết thiệt. Nếu không như thế, thì chúng ta chỉ là mang thân phận của những kẻ ăn toàn là bánh vẽ

mà thôi. Rốt lại, bụng đói meo!

Ðiều quan trọng mà chúng ta cũng cần nên lưu ý, là Phật nói Pháp Nhẫn tối tôn, tối diệu,

đệ nhất là vì pháp này siêu việt vượt ngoài đối đãi. Ðã thế, thì không thể dùng ngôn từ,

luận thuyết hay tâm duyên lự đến được. Pháp tối tôn vi diệu đệ nhất này, mỗi chúng sinh

đều sẵn có, nên không có ai ban cho ai. Chỉ cần mỗi người hồi quang trực nhận lại bản

tâm của chính mình mà thôi. Hiểu thế, thì ta không nên ỷ lại vào bất cứ ai, thậm chí ngay

cả chư Phật và Bồ tát cũng vậy. Nên nhớ, trong đạo Phật tuyệt đối không có vấn đề ban phước giáng họa. Vì Phật hay Bồ tát không phải là những vị thần quyền. Các Ngài chỉ là

một con người bình thường như chúng ta. Các Ngài chỉ khác hơn chúng ta là ở chỗ các

Ngài đã thực sự giác ngộ. Giác ngộ từng phần, thì gọi là Bồ tát, còn giác ngộ toàn triệt thì

gọi là Phật. Như vậy, giải thoát hay khổ đau là do chính ta định đoạt lấy đời ta. Nói ban

cho, đó chẳng qua chỉ là một cách nói trong ngôn từ giả lập mà thôi. Chớ tự bản chất của nó không có thật. Xin chớ lầm nhận Phật hay Bồ tát ban cho chúng ta sự an lạc giải thoát.

Sau khi nêu ra bốn điều hệ trọng thức nhắc trên, Ðức Phật lại e sợ chúng ta chưa hiểu rõ,

nên tiếp theo, Phật tự giải bày duyên do thẩm định rõ hơn về cái Diệu Pháp mà Phật đã nêu trên. Phật tự hỏi:"Vì sao vậy?" Lời hỏi này có nghĩa là Phật nêu ra vì duyên cớ gì mà Phật lại quá đề cao cái Pháp Nhẫn tối tôn, tối diệu, đệ nhất đó. Phật giải thích: "

pháp của Như Lai là chân thật, là giải thoát, là an vui, là thuận theo sở cầu, sở nguyện của mọi chúng sinh".

Tại sao nói pháp Phật dạy là pháp chân thật? Vậy pháp đó là pháp gì? Xin nhắc lại, nói

pháp chân thật là đề cập đến cái "Diệu Pháp" mà nó không nằm trong phạm trù duyên sinh đối đãi. Nói thế để khẳng định rằng, bất cứ pháp nào mà còn nằm trong phạm trù

duyên sinh đối đãi, tất nhiên, là chúng không thật. Ðã không thật, thì làm gì có được sự an vui chân thật và làm gì có chuyện đáp đúng sở cầu, sở nguyện. Chỉ có pháp bất sanh bất diệt, pháp không hình tướng, giống như hư không, và chỉ có pháp đó mới trùm khắp, không bị hạn cuộc và tùy duyên mà thuận theo mọi sở cầu, sở nguyện của chúng sinh.

Phật nói tiếp: "Vì pháp của Như Lai là vắng lặng, không dính mắc, vô cấu nhiễm, thuận theo tình và tưởng của chúng sinh mà vẫn giúp chúng sinh thành tựu địa vị

- 55 -

Phật Ðà, không bị hư hoại, cho nên chẳng cần phải chán ghét lìa bỏ thế gian, ở trong

chỗ ràng buộc mà tâm vẫn tự tại, thọ dụng pháp lạc".

Ðọc kỹ lời Phật dạy đây, ta thấy Ðức Phật đã chỉ bày cho chúng sinh một hướng tiến giải

thoát rõ rệt. Nõi rõ hơn, Phật chỉ cho chúng ta một nghệ thuật sống. Sở dĩ chúng ta trôi

lăn trong vòng sanh tử khổ đau là tại vì chúng ta quên mất cái bản tâm chân thật của

chính mình. Cái bản tâm chân thật hay pháp thân, không hình, không tướng, không sinh,

không diệt, không đến, không đi. Không thường, không đoạn, không cấu, không tịnh. Nói tắt một lời, là "Tánh Không"của vạn pháp. Pháp này hằng thanh tịnh sáng suốt của chúng

ta, mà Phật nói là:Pháp của Như Lai vắng lặng, không dính mắc, vô cấu nhiễm. Chính

cái thực thể không cấu nhiễm này, tùy duyên nghiệp của mỗi chúng sinh mà nó hiện ra có

các hình tướng sai biệt. Tuy hiện ra có các tướng sai khác, nhưng tánh thể thì vẫn đồng.

Thí như, chúng ta nhìn thấy có nhiều cục nước đá lớn nhỏ khác nhau, nhưng tất cả cũng

do chất nước đông đặc lại mà thành. Như vậy, tướng và tánh không rời nhau. Chính vì vậy, nên Phật nói: "Cái thực thể này "thuận theo tình và tưởng của chúng sinh, mà vẫn

giúp chúng sinh thành tựu địa vị Phật Ðà¼"

Nói nghệ thuật sống là vì khi chúng ta không còn dính kẹt vào danh ngôn sắc tướng, thì

dù cho có tiếp xúc với 6 trần, nhưng tâm ta vẫn an nhiên giải thoát. Chính vì vậy, nên Phật nói:"Ở trong chỗ ràng buộc mà tâm vẫn tự tại, thọ dụng pháp lạc". Như vậy,

muốn thọ dụng pháp lạc, không phải chạy trốn ở nơi 6 trần ( sắc, thinh, hương, vị, xúc,

pháp ), mà khi tiếp xúc với 6 trần, điều quan trọng là ta giữ tâm không đắm nhiễm, không

có niệm thủ xả, thì ngay đó là ta đã an lạc, là đã thọ dụng pháp lạc rồi. Pháp lạc là Niết bàn, là Cực lạc. Hiểu theo lý này, thì ta không cần tìm Niết Bàn, hay Cực lạc ở đâu xa,

mà phải tìm lại ở nơi chính lòng ta. Giây phút nào tâm ta vắng lặng sáng suốt, không một niệm dấy khởi, thì giấy phút đó là ta đang trọn hưởng Niết bàn. Trên ngôn từ nói nghe thì dễ, nhưng thực tế đạt được như thế, thì thật là khó khăn vô cùng. Tuy khó, nhưng không

phải là không thật hành được. Nếu chúng ta có quyết tâm kiên cố nỗ lực công phu già dặn, thì chắc chắn thì chúng ta sẽ đạt được.

Chúng ta cần minh định rõ thêm, tuy cái thực thể siêu việt bất biến này sẵn có, nhưng vì

bị bao thứ phiền não che ngăn phủ mờ. Trong kinh thường gọi là Như Lai tại triền. Dụ

như vàng y còn ở trong quặng. Bởi do vô minh bất giác, nên ta cứ cấm đầu chạy theo trần

cảnh làm nô lệ cho vô minh dục vọng sai khiến. Từ đó, gây bao thứ nghiệp bất thiện rồi

phải nhận lãnh bao thứ quả báo khổ đau. Nay nếu chúng ta thức tỉnh hồi đầu, bối trần

hiệp giác, không chạy theo trần lao, không làm nô lệ cho dục vọng sai khiến, nghĩa là ta

phải hằng sống trong tỉnh thức có ngọn đuốc chánh niệm chánh quán soi sáng, sống đúng

theo tinh thần Bát chánh đạo mà Phật đã chỉ dạy, thì ngang đó, chắc chắn đời ta sẽ hết khổ.

Trong Tín Tâm Minh, Tổ Tăng Xán có dạy:

Dục thú nhất thừa

Bất ố lục trần Lục trần bất ố

- 56 -

Hoàn đồng chánh diác.

Nghĩa là:

Muốn hướng đến nhất thừa ( Phật thừa )

Thì không nên ghét lục trần

Nếu không khởi niệm ghét lục trần

Thì ngay đó là hoàn đồng chánh giác.

Lời dạy trên, cái chỗ quan trọng là ở nơi ghét và thương. Bởi ghét là đối lại với thương.

Mà đạo lý nhất thừa, thì vượt ngoài đối đãi thương ghét. Còn ghét còn thương là còn sống

trong vòng vô minh nghiệp thức. Ðã thế, đối với lý nhất thừa, thì hởi ôi! thật là ngàn

trùng xa cách! Muốn hoàn đồng chánh giác, thì chúng ta hãy mạnh dạn dứt bỏ hay buông

xả niệm ghét thương. Muốn thể nhập đầu nguồn chánh giác, thì hãy dẹp bỏ ý niệm đối

đãi, ngay đó là hoàn đồng chánh giác. Hoàn đồng chánh giác toàn triệt, đến đây, mới thực sự là giải thoát hoàn toàn, tức đạt thành Phật quả, là Như Lai xuất triền.

Nếu chưa đạt đưọc như thế, đối với các hành giả tu theo pháp môn Tịnh độ, nhất là ứng dụng thật hành theo phương pháp niệm Phật Ba La Mật đây, thì Phật nói:"Sau khi lâm chung được sanh về cõi Phật A Di Ðà".

Tóm lại, qua chương Duyên Khởi này, chúng ta thấy Ðức Phật nói rõ duyên do phát khởi Phật nói kinh này. Nhân vật chính phát nguyên thưa hỏi là cư sĩ Bồ tát Diệu Nguyệt. Nhân vật thứ hai là bà Quốc Thái phu nhân Vi Ðề Hy. Nhân có hai vị này đứng ra đại

diện đương hội thưa hỏi, nên Phật mới trình bày rõ về pháp môn Niệm Phật Ba La Mật.

Duyên do phát khởi Phật nói kinh này là như thế. Nên nói phẩm này là phẩm Duyên Khởi.

Từ khóa
Xem tin tức theo ngày:

Tin tức liên quan