Tịnh độ

Tịnh độ Thiền, pháp môn tu thành Phật

nguoiphattu.com - Người tu Tịnh độ hiện nay muốn trừ nghi phải niệm Phật phải đạt được công phu thành phiến, tức là cảnh giới bất niệm tự niệm cũng là mức cạn nhất của Sự Nhất tâm bất loạn. Hay ít nhất cũng được thấy Phật A Di Đà hiện đến thọ ký cho biết trước ngày giờ vãng sinh.

Lời tựa

Sáng dậy đọc xong cuốn Phật thuyết A Di Đà Kinh Yếu giải của đại sư Ngẫu Ích Trí Húc, được pháp sư Tịnh Không giảng thuật bỗng dâng lên nỗi cảm khái.

Ngẫm lại, Phật giáo ngày nay đã đi sâu vào đời sống. Số lượng người đi chùa lễ Phật, quy y Tam bảo cũng nhiều. Xã hội ngày nay công việc bận rộn, người học Phật đa phần tu theo pháp môn Tịnh độ, đơn giản vì nó giản dị, dễ tu, hơn nữa cũng không có thời gian tham Thiền hay tu các môn khác.

Tổ Vĩnh Minh có nói: “Tịnh độ vạn người tu, vạn người vãng sinh”.

Vậy mà bây giờ theo lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam vạn người tu chỉ 2, 3 người vãng sinh, thật đáng suy ngẫm.

Đọc sách Yếu giải của Ngẫu Ích đại sư thấy ngài rát lòng buốt miệng, “mổ tim vấy máu” khuyên người niệm Phật; mới thấy người đời nay quả thật đã phụ tấm lòng của các Tổ sư, Bổn sư Thích Ca Mâu Ni và Đức Phật A Di Đà. Vì vậy tôi chẳng ngại mình vô minh tối tăm, kiến thức nông cạn, cũng xin góp chút sức mọn cho sự nghiệp hoằng pháp lợi sinh.

Lại nữa, lúc trước có viết quyển “Vãng sinh Tịnh độ - Chắc chắn đừng nghi” nêu ra nửa ý về Sự niệm, nay cảm thấy cần viết nốt nửa ý còn lại về Lý; trước là mong báo đáp đại hiếu, ơn sâu cha mẹ hai lần sinh thành, sau nguyện những người hữu duyên đọc được khởi được Chân Tín Nguyện Hạnh, thấy được Bản tâm tự tánh, xuôi thuyền Đại nguyện vượt biển sinh tử về cố hương.

CHƯƠNG1: TỊNH ĐỘ THIỀN

Pháp môn Niệm Phật quả là vua báu vô thượng trong các pháp môn, cực viên cực đốn, tại sao người tu hiện nay chẳng được thành tựu.

Theo ý riêng của tôi thì có hai nguyên nhân:

Thứ nhất: Là chẳng biết giá trị thật sự của pháp môn này nên chẳng có tâm cầu pháp.

Đọc lại truyện xưa khi tổ Huệ Khả của Thiền tông cầu pháp với Tổ Đạt ma. Ngài đứng bên Tổ Đạt ma suốt đêm dưới trời mưa tuyết chẳng hề đổi sắc mặt mà vẫn chưa được Tổ chấp thuận. Cuối cùng, ngài chặt cánh tay trái mình lên cúng dường mới được Tổ chấp nhận. Quả thật tâm cầu pháp bên Thiền tông thật dũng mãnh phi thường.

Ngài Huyền Trang đời Đường một mình một ngựa rong ruổi mấy chục năm sang tận đất Ấn Độ thỉnh kinh mới được hơn 600 bộ. Như kinh Thủ Lăng Nghiêm xưa chỉ có vua chúa mới được đọc, coi là quốc bảo, khi đọc phải trai giới thanh tịnh.

Giá trị thật sự của pháp môn Niệm Phật chỉ Phật với Phật mới biết được.  Đức Phật đã nói dù cho lửa cháy khắp thế giới này mà vì cầu pháp môn Tịnh độ này thì cũng phải băng qua đủ nói lên giá trị thật của nó.

Không có tâm cầu pháp tất chẳng biết giá trị của Phật pháp, vậy nên không sinh niềm tin chân thật. Không sinh niềm tin chân thật tất Tín Nguyện Hạnh khó thành, không được vãng sinh cũng là điều dễ hiểu.

Thứ hai là lòng nghi.

Đây chính là mấu chốt của vấn đề.

Thật ra chúng sinh trong chín pháp giới từ Bồ tát Đẳng giác đến chúng sinh cõi địa ngục đều còn lòng nghi. Có nghi mới có hỏi. Có hỏi mới có đáp. Phật chính là người giải đáp mọi vấn đề.

Có vô minh tức là có nghi.

Tịnh tông thường khuyên người niệm Phật chớ xen tạp, chớ hoài nghi nhưng thật ra chỉ là dằn lòng nghi xuống mà thôi. Chứ bảo không nghi chẳng thể được.

Thiền tông nhìn thẳng vào vấn đề, tập trung mối nghi thành một khối, phát huy trí huệ phá tan mối nghi, tức là khai ngộ.

Người tu Tịnh độ hiện nay muốn trừ nghi phải niệm Phật phải đạt được công phu thành phiến, tức là cảnh giới bất niệm tự niệm cũng là mức cạn nhất của Sự Nhất tâm bất loạn. Hay ít nhất cũng được thấy Phật A Di Đà hiện đến thọ ký cho biết trước ngày giờ vãng sinh.

Theo pháp sư Đàm Hư thì hiện giờ người tu Thiền đắc được Thiền định giống như lông phượng sừng thỏ, huống là người tu Tịnh độ đạt được công phu thành phiến vạn người chưa được một.

Chưa đạt được công phu thành phiến, chưa gặp được Phật thọ ký thì chẳng có cách nào chắc chắn vãng sinh, đành chờ may rủi lúc lâm chung. Vậy nên cứ tà tà mà niệm Phật, đến lúc lâm chung hẵng hay, nên chẳng thật thà niệm Phật.

TỊNH ĐỘ THIỀN LÀ GÌ?

Về nguồn chẳng hai, phương tiện có nhiều cửa.

Hiện nay, Phật pháp được chia thành 10 tông phái, trong đó thịnh hành nhất là Tịnh tông và Thiền tông.

Theo quan điểm hiện nay thì Tịnh và Thiền có khá nhiều điểm khác biệt.

Tịnh độ Thiền được hiểu khi tu Tịnh độ và Thiền định ở mức độ khá cao mới có thể gặp nhau.

Như các thiền sư đạt được mức minh tâm kiến tánh, đại triệt đại ngộ chuyển sang chuyên tu Tịnh độ, hoằng dương Tịnh độ như các đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ, Mã Minh, Long Thọ...

Hay tu Tịnh độ đạt được công phu thành phiến, tức đạt được Định sơ cấp mới có thể coi là Tịnh độ Thiền.

Còn dưới mức ấy thì Tịnh vẫn là Tịnh, Thiền vẫn là Thiền, là 2 pháp môn khác biệt.

Nếu có chăng đi nữa thì chỉ là Thiền Tịnh song tu.

Chủ trương của Thiền tông là “Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”.

Tuy nhiên thời này đã đi sâu vào thời Mạt pháp, tà kiến trùng trùng, kiến tánh thật chẳng dễ dàng. Người thời nay Phật là gì, tánh là gì còn chẳng hiểu, thì kiến tánh chỉ là hý luận suông, cam chịu luẩn quẩn trong tam giới lục đạo mà thôi. Những kẻ sơ cơ học Thiền ưa lý luận còn chê bai pháp môn Tịnh độ nông cạn chỉ thích hợp với ông già bà cả. Họ thật chẳng hiểu mục đích của Thiền là minh tâm kiến tánh. Kiến tánh mới biết tánh tức là Phật, Phật tức là toàn thể.

Kiến tánh là niệm niệm khởi từ tự tánh, niệm niệm tương ưng với niệm Phật. Phật ở đây là tự tánh, không mang danh hiệu tánh đức nhất định.

Chê bai niệm Phật nông cạn cũng giống như thấy người trồng cây tỉa cành lá cho cây mau lớn, lăng xăng cầm dao chặt đứt ngọn.

Cần phải hiểu rõ tông chỉ của Thiền chính là niệm toàn thể pháp giới, vậy nên chỉ có bậc thượng thượng căn mới hy vọng có phần, hàng trung hạ căn chẳng thể chú tâm.

Than ôi! Đã biết Tâm là Phật, mà sao chẳng thông Phật là Tâm, niệm Phật cũng chính là niệm Tâm? Pháp vốn thông đạt sao tâm chẳng tự thông mà tự hại mình mất đi lợi ích lớn vậy?

Người niệm Phật ngày nay lại trì trệ nơi Sự, chỉ biết Phật là Phật A Di Đà, chẳng biết toàn thể là Phật, chẳng biết chân giá trị của pháp môn niệm Phật.

Nên biết rằng Phật là toàn thể, toàn thể là Phật. Niệm một câu Phật hiệu tức niệm toàn thể chư Phật mười phương ba đời. Tài sản của 200 quốc gia trên thế giới chẳng bằng một câu niệm Phật.

Vì sao? Vì chư Phật mười phương ba đời vốn chỉ do tự tánh biến hiện. Niệm một câu Phật hiệu tức niệm tự tánh Di Đà, cũng chính niệm danh hiệu mười phương ba đời chư Phật. Lợi ích câu Phật hiệu thật chẳng thể nghĩ bàn.

Nếu biết được giá trị như vậy sẽ dứt tuyệt mọi mong ngóng so đo, chuyên tâm niệm Phật.

Mười hai bộ kinh, tám vạn bốn ngàn hạnh đều rốt ráo trọn vẹn trong một câu Phật hiệu, thật chẳng thể nghĩ bàn. Chẳng cần tốn công tham cứu, quán tưởng gì khác. Đây là giá trị thực của câu Phật hiệu, chẳng phải khoa trương, chẳng phải là quyền biến.

Kẻ học Thiền cậy tự lực chẳng nương tha lực.

Người niệm Phật nương tha lực chẳng thấy tự lực.

Cả hai đều khiếm khuyết. Cần biết tha tự chẳng hai chẳng khác.

Chẳng bằng tuyệt đối tin nơi Tự, tuyệt đối tin nơi Tha, niệm Phật với niềm tin chắc chắn vãng sinh, chân Tín Nguyện Hạnh viên mãn trong một câu Phật hiệu.

Làm sao để được chắc chắn vãng sinh?

Nếu chưa chắn chắn vãng sinh tất có điều nghi. Hãy lặng tìm nơi tâm xem mối nghi là gì. Nghi ở đây thường có hai mối nghi lớn là:

-          Nghi Phật

-          Nghi mình.

(Tôi đã đề cập trong quyển “Vãng sinh Tịnh độ- Chắc chắn đừng nghi”).

Nếu có điều nghi cứ để tự khởi, một lòng dùng câu Phật hiệu như bảo kiếm vương chặt đứt mối nghi.

Đây chính là Thiền trong Tịnh độ, là Tịnh độ Thiền chẳng phải là Thiền Tịnh song tu. Dùng câu Phật hiệu dứt trừ lòng nghi, phá vô minh hiển Phật tánh, đó là Tịnh độ Thiền.

Tại sao lại niệm A Di Đà Phật?

Đại sư Ngẫu Ích có nói: “Nhằm làm cho hàng sơ cơ dễ biết chỗ để chú tâm, do A Di Đà Phật có bổn nguyện thù thắng, do Phật đặc biệt có duyên với chúng sinh cõi này, có thể làm cho chúng sinh vui vẻ tin tưởng, chứng nhập, có thể dấy động chủng tử Phật từ trong quá khứ, có thể làm cho ma khó có thể gây chướng ngại, ngăn trở, làm cho thể tánh dễ khai phát”.

Chớ nên chỉ hiểu theo mặt sự A Di Đà Phật chỉ là vị Phật ở thế giới Tây Phương Cực Lạc cách đây mười vạn ức cõi Phật. Nên hiểu sâu về mặt Lý: A Di Đà Phật chính là tánh đức của tự tánh chính mình, hay thường gọi là tự tánh Di Đà.

Cũng vậy, chớ nghĩ Phật Thích Ca Mâu Ni chỉ là vị Phật ở Ấn Độ cách đây 2500 năm. Thích Ca Mâu Ni cũng chính là tánh đức Nhân từ, Tịch mịch của tự tánh. Hiểu được như vậy thì cách Phật chẳng xa.

A Di Đà dịch là Vô lượng: Vô lượng Thọ, Vô lượng Quang, Vô Lượng Phật... đan xen trọn khắp pháp giới.

Tự tánh vốn như tấm gương bị bụi vô minh phủ kín từ vô thỉ kiếp đến nay. Danh hiệu A Di Đà Phật như tấm lưới đan xen trọn khắp tấm gương. Kéo một mắt lưới tức thì cả tấm lưới được nhấc lên, dễ nhận thấy tấm gương bị lấp kín, do vậy gọi là làm cho thể tánh dễ khai phát.

Danh hiệu các vị Phật khác chẳng được thù thắng như vậy.

A Di Đà Phật hiện ở cõi Tây Phương Cực lạc, Thích Ca Mâu Ni Phật ở Ấn Độ cách đây 2.500 năm chỉ là ứng hoá thân, là bóng trăng trên mặt sông mà thôi.

Nói diệt độ chỉ là giả nói đối với hàng trung hạ căn. Như người vô trí đến ngày rằm thấy bóng trăng tròn sáng vằng vặc trên mặt sông. Hôm khác không thấy bóng trăng trên sông nghĩ trăng mất rồi. Thật ra, trăng trên cao vẫn luôn ở đó. Cũng vậy, Phật thật chẳng diệt độ, chẳng từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu; vốn là toàn thể pháp giới gồm cả hữu tình lẫn vô tình, chẳng có quá khứ, hiện tại, vị lai.

Hiểu được như vậy thì ta, tức là cái thân này hoàn toàn đang sống trong tự tánh, Phật tâm của chính ta. Một hơi thở ra hít vào, mọi hoạt động đi đứng nằm ngồi, cười nói giận dữ, không đâu chẳng phải là Phật pháp.

Biết được như thế thì thời này chẳng còn là thời Mạt pháp nữa, chẳng phải là cách Phật 2500 năm. Phật hiện tiền ngay đây từng trong hơi thở, từng cử động, từng sátna. Thời gian, không gian vốn chỉ do tự tánh biến hiện ra mà thôi.

Nhận lấy tự tánh khởi tu thì một niệm tương ưng một niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật.

NIỆM PHẬT LÀ GÌ?

Niệm là tư duy, nghĩ tưởng.

Phật về Sự tướng thì là Phật A Di Đà, Phật Thích Ca, hay chư Phật mười phương.

Về lý thì là tự tánh, là toàn thể pháp giới.

Niệm Phật tức là tư duy về tự tánh, tư duy về tự tánh tức là Niệm Phật.

Vì vậy dám nhận tự tánh, từ tự tánh khởi niệm thì niệm nào cũng là niệm Phật. Đó là Lý Niệm Phật.

Do đó, tham Thiền cũng là niệm Phật.

Tu bất cứ pháp môn nào chung quy cũng là niệm Phật. Người học Phật nên tự suy nghĩ sâu xa.

Bất cứ vị Phật nào viên thành Phật đạo cũng do tu pháp môn Niệm Phật là lý này. Chẳng nên có ý niệm phân biệt các pháp môn, càng chẳng nên chê bai lẫn nhau mà tự đoạn mất thiện căn của chính mình.

Từ tự tánh khởi niệm mới thấy rõ thân này quả thật vô ngã, không có chủ thể. Là Kiến giải sai lầm cảm vời Ngũ uẩn thô tệ, bản chất là Không.

Chân ngã là tự tánh, là toàn thể pháp giới, là Nhất chân pháp giới.

Thân này chỉ là bóng trăng trên mặt nước, có rồi mất, mất rồi lại có, xưa vốn chẳng sanh, nay cũng chẳng diệt.

Thân này chỉ là vật thị hiện, biểu diễn theo dòng nghiệp lưu chuyển, giống như  vai diễn trong một bộ phim mà thôi.

Nhận được vai ác thì đóng vai ác, nhận được vai thiện thì đóng vai thiện. Nhận vai Trời thì đóng vai Trời, nhận vai súc sinh đóng vai súc sinh...

Tất cả chỉ là những bóng ảnh.

Thật sự chẳng có thiện ác, sướng khổ, mười pháp giới cũng chỉ là giả, vốn là Nhất chân pháp giới, cũng là ảnh trong gương.

Mê thì chẳng biết ta đang diễn. Tỉnh ra mới nhận ra ta đang diễn, mà cũng chẳng phải là ta, tuỳ duyên tự tại chẳng cần tác ý.

Phật Hoàng Trần Nhân Tông có trứ tác hai câu thơ:

“Trong nhà sẵn ngọc thôi tìm kiếm

Đối cảnh tâm không khỏi phải thiền”

Tâm không ở đây chẳng phải là tâm không khởi niệm mà chính là tâm không tác ý.

Tuỳ duyên tự tại không tác ý chính là tham thiền ở cảnh giới cao.

Biết được thân này chỉ là bóng ảnh thì chẳng nên bám víu, tô điểm chăm chăm chút chút để mê càng thêm mê.

Biết được thân này vốn đang diễn, kiếp này diễn thành vợ chồng; kiếp sau diễn thành anh em, bạn bè, thậm chí kẻ thù chẳng nhất định. Vì vậy chũng chẳng nên bám víu nơi gia đình, bạn bè để tình nhiễm sâu nặng chẳng rút chân nổi khỏi cõi Ta bà uế trược này.

Hỏi: Nếu biết mình đang diễn thì được lợi ích gì?

Đáp: Lợi ích rất lớn! Như ta xem một bộ phim, vai diễn có thể có sống chết nhưng người diễn viên thì không. Khi ấy nhận ra nơi cái thân xác sinh diệt này có cái chẳng sinh diệt, đó mới thật là ta. Nhà Phật có nhiều danh xưng chỉ cái này như: Bản lai diện mục, tự tánh, Phật tánh,...Hay cũng có thể nói ngay khi ấy hiểu được rằng cái thật là ta vốn chẳng có sinh diệt vậy.

Đức Lục tổ Huệ Năng nói: “Vốn chẳng có một vật”

Kinh Phật nói: “Bồ tát còn thấy tướng nhân, ngã, chúng sinh, thọ giả thì chưa phải là Bồ tát.”

Qủa thật chẳng có ta, chẳng có người.

Còn thấy ta, thấy người vẫn còn mê.

Còn thấy chúng sinh để cứu độ vẫn chỉ là vọng tưởng.

Thật chẳng có ai lừa dối ta, chỉ có chính ta tự lừa dối ta mà thôi.

Vì chẳng có người nên chẳng thấy lỗi người.

Vì chẳng có ta nên vọng tưởng, phiền não chẳng thể bám vào đâu mà khởi.

Đó là kiến tánh khởi tu.

Lại nữa, toàn thể Tha chính là Tự, tất cả chúng sinh vốn chính là Ta.

Hại người chính là hại mình.

Lợi người chính là lợi ích chính bản thân.

Mê còn thấy đạo đời, chân vọng.

Tỉnh thì Chân tâm vọng tâm đồng Phật tâm.

Hữu tình vô tình cùng viên thành Phật đạo.

Toàn thể Phật là chúng sinh nên mỗi mỗi chúng sinh chính là Phật.

Thân này hoàn toàn dạo chơi nơi tự tánh nên chẳng lấy chẳng bỏ.

Lấy thì vốn chẳng có vật gì để lấy, bỏ thì bỏ đi đâu?

Một lấy một bỏ chẳng gì không phải là pháp giới.

Đến đây lời tuy nhiều nghĩa chỉ có một. Như tiếng trống, tiếng nào cũng giống nhau, phải đánh dồn dập để thức tỉnh cơn mê, nhận lấy tự tánh, bản lai diện mục, bộ mặt chân thật của mình.

Từ tự tánh khởi niệm thì niệm nào cũng là niệm Phật, niệm nào cũng viên mãn trọn khắp pháp giới 3 đời khứ lai hiện tại.

Lý là vậy nhưng rời câu Phật hiệu A Di Đà, chẳng cầu sanh Tịnh độ chẳng cách gì khế ngộ được lý ấy.

Dù hiểu sâu đến mấy thì cũng chỉ như thấy mây trên trời mà chẳng thể nào với tới, như khát nước thấy dòng suối trước mặt mà không có cách nào uống được, khát vẫn hoàn khát.

Tham thiền có thể kiến tánh thấy được Lý Phật, nhưng rốt cuộc vẫn phải trải qua giai đoạn minh tâm thì mới có thể kiến tánh, không phải bậc thượng thượng căn không thể nào làm nổi.

Nhưng suy đến cùng thì tham thiền vẫn là niệm Phật.

Tham thiền phải dùng gươm huệ của bản thân đoạn trừ phiền não vọng tưởng, lại chẳng thể bằng dùng chính bảo kiếm vương A Di Đà sắc bén vô thượng đã được hun đúc từ vô lượng kiếp đến nay đã hoàn thành mà đoạn phiền não vọng tưởng.

Hơn nữa dù chưa đoạn hết được phiền não vọng tưởng thì cũng vẫn có thể nương theo đại nguyện của Phật đới nghiệp vãng sinh, một đời thành Phật.

Thời Phật tại thế, người thời đó chấp Ngã nên Phật nói Vô ngã để phá chấp Ngã.  Sau đó lại nói kinh Kim cang phá chấp Vô ngã đi vào Trung đạo.

Sau khi Phật diệt độ, người đời sau đó trong thời Chánh Pháp dựa vào Giới để thành tựu.

Đến thời Tượng pháp, tu Thiền cũng được thành tựu, Thiền là Không môn.

Nhưng thời đó tự lực còn mạnh, tâm tánh còn thuần, lại vẫn còn nhiều Thánh tăng trực tiếp chỉ dạy.

Càng về sau, tâm tánh đã loạn, tự lực chẳng còn như xưa, các Tổ Thiền tông như đại sư Vĩnh Minh, Long Thọ... thấy được điều này đều kiêm tu Tịnh độ, hoằng dương Tịnh độ vốn thuộc Hữu môn, cũng là để phá chấp Không.

Khi đó Thiền Tịnh song tu cũng dễ thành tựu.

Ngày nay tà kiến trùng trùng, tự lực hèn kém, ngay cả niềm tin nơi Phật cũng bị coi là mê tín thì tham Thiền, niệm Phật hay Thiền Tịnh song tu thành tựu chẳng nhiều.

Ngẫm lại Sơ tổ Thiền tông là ngài Maha CaDiếp cũng chính là đương cơ tiếp nhận pháp môn Tịnh độ. Quả thật Thiền Tịnh chẳng hai, chẳng khác.

Thời gian thấm thoắt, từ Sơ tổ Ca Diếp Thiền tông đến nay cũng đã 2500 năm, Sơ tổ Huệ Viễn của Tịnh tông đến nay là 1500 năm. Nay cũng có thể đã là lúc hợp nhất Thiền Tịnh gọi là Tịnh độ Thiền, hợp nhất hai dòng lực lớn bị phân tán để quyết chắc sự thành tựu trong đời này, để câu Thánh hiệu A Di Đà  trở về lực dụng vốn sẵn, đó là dứt trừ lòng nghi, phá Vô minh hiển Phật tánh.

Thiền là Không môn, Tịnh là Hữu môn vốn là hai bờ của dòng sông pháp cuồn cuộn chảy, chớ nên phân chia, ngăn cách.

Không cũng tức là Có, Có cũng tức là Không, đó là trí huệ Bát nhã.

Ngăn cách thì cả Tha lẫn Tự đều khiếm khuyết, yếu kém; hợp lại lực dụng chẳng phải tăng theo cấp số cộng mà là cấp số nhân, quyết chắc thoát ly sinh tử, cập bến Tây Phương.

Pháp môn Niệm Phật cực viên cực đốn, là con đường thẳng tắt trong những con đường tắt, có thể vượt qua tam giới theo chiều ngang.

Tịnh độ Thiền lại là pháp môn thẳng tắt trong pháp môn Niệm Phật, có thể vượt qua Sự Niệm Phật khế hợp Lý Niệm Phật theo chiều ngang.

Tịnh độ Thiền lý tuy cao siêu nhưng sự lại vô cùng giản dị, dù là súc sanh mê mờ nhưng đủ thiện căn cũng có thể tiếp nhận, chúng sinh trong chín pháp giới đều có phần.

Chỉ cần tin chắc 10 niệm ắt vãng sinh là đủ. Chẳng cần, cũng chẳng nên nghĩ 10 niệm đó là lúc lâm chung.

Niệm Phật như vậy nhất định có thể ngộ được Lý niệm, nhận được tự tánh.

Tự tánh thì như mặt trăng kia, còn chúng sinh khắp pháp giới chỉ là bóng trăng trên mặt sông. Ta người chẳng hai chẳng khác mà cũng chẳng có ta có người.

Niệm như vậy thì nơi ao sen báu cõi Tây Phương Cực Lạc đã có bóng ảnh của tự tánh in xuống đó rồi, gọi là gửi thân nơi sen báu. Thật sự là đã vãng sinh ngay khi lúc còn sống, ngay khi thân này còn đang ở cõi Ta bà. Người xưa nói pháp môn này là pháp môn bất tử là vậy.

Phật và các đại Bồ tát có thể phân thân nhiều đến vô lượng.

Trăng thì chỉ một nhưng mỗi nơi có nước đều có thể in bóng trăng, số nhiều đến vô lượng.

Pháp sư Tịnh Không có kể rằng hơn 40 năm tại Liên xã của lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam, thầy của ngài Tịnh Không chỉ cử được 2 lần đả thất niệm Phật 7 ngày. Tức là niệm Phật liên tục 7 ngày đêm không ngừng nghỉ cầu chứng đắc. Kết quả đã có người bị ma dựa, tức là bị thần kinh, lão cư sĩ Lý phải trực tiếp chăm sóc chữa trị hơn 1 năm mới bình thường. Từ đó không tổ chức đả thất nữa.

Lực dụng của Tịnh độ Thiền niệm theo đúng pháp quả thật có thể thành công từ 1 đến 7 ngày. Người thượng căn có thể 1 ngày dùng câu Phật hiệu như bảo kiếm vương dứt trừ lòng nghi. Kẻ hạ căn có thể phải mất 7 ngày mới dứt nghi.

Dứt nghi nghĩa là chắc chắn vãng sinh, thành Phật trong một đời, thật chẳng thể nghĩ bàn.

Lại nữa từ dứt trừ lòng nghi đến ngộ lý Phật chẳng xa. Ngộ lý Phật tức nhận lại tự tánh, cũng có thể gọi là Tương tự kiến tánh.

Chủ trương của Thiền là “Minh tâm kiến tánh, kiến tánh thành Phật”.

Tịnh độ Thiền lại là pháp môn thẳng tắt, có thể vượt qua giai đoạn “minh tâm” thẳng đến “kiến tánh”, tức chưa minh tâm mà vẫn có thể kiến tánh.

Phải biết rằng giai đoạn minh tâm của Thiền tông thật sự nguy hiểm vô cùng trăm chết một sống, không thể nói cho hết, không thể hình dung cho nổi.

Chỉ có các thiền sư thực sự trải qua mới biết.

Khi kiến tánh, nhận lấy tự tâm thì chân tâm vọng tâm đồng Phật tâm, Phật lẫn ma đều do tự tánh biến hiện, đều là mộng huyễn, nên tâm được an định.

Khi chưa kiến tánh thì Phật vẫn là Phật, ma vẫn là ma. Phật thì đã cách xa đến 2500 năm rồi, ma thì bủa vây mọi thời khắc chống phá người tu.

Thân này là ngũ ấm ma, kinh Lăng Nghiêm nói có đến 50 thứ ấm ma phá hoại người tu. Trong quyển “Niệm Phật thập yếu” của thầy Thích Thiền Tâm trong chương biện ma cảnh cũng nói khá đầy đủ.

Vì thấy ma vẫn là ma nên dễ sinh tâm sợ hãi, nếu chẳng phải bậc thượng thượng căn tự lực phi phàm, giới luật tinh nghiêm thật khó có thể chống đỡ nổi sự chống phá của ma.

Người tu Thiền tâm không cầu thấy Phật mà Phật hiện ra thì biết đó là ma cảnh.

Người tu Tịnh tâm mong cầu chứng đắc gặp Phật cũng lại dễ tham đắm vào thần thông hay các cảnh giới lạ, ma cũng nhân đó mà phá.

Tịnh độ Thiền là trung đạo, chẳng mắc vào các nơi ấy, cũng chẳng mắc nhị biên.

Tâm chẳng cầu mà cầu, cầu mà chẳng cầu. Phật ma cũng chỉ là bóng trăng dưới nước, gặp Phật chẳng tham đắm, gặp ma chẳng kinh sợ, tâm được an nhiên.

Bước đầu của Tịnh độ Thiền là dụng công niệm Phật để biết chắc chắn vãng sinh.

Niệm Phật với niềm tin chắc chắn vãng sinh, quyết dùng câu Phật hiệu dứt trừ lòng nghi, chặt đứt xiềng xích trói buộc nơi tam giới để biết mình chắc chắn vãng sinh.

Dụng công trong Tịnh độ Thiền

Chuyển Ma thành Phật

Ma nghĩa gốc tiếng Phạn có nghĩa là chướng ngại. Có bốn thứ Ma là: Thiên ma, Ngũ ấm ma, Phiền não ma và Tử ma.

Nếu mê mờ chẳng nhận ra chướng ngại thì chẳng bàn đến làm gì, nếu đã nhận ra là chướng ngại nhất định có thể chuyển đổi nó.

Như chiếc gương chẳng thể chiếu nếu một mặt của nó không được sơn đen. Ví như một người ở mặt sau chiếc gương lớn thấy toàn màu đen liền lấy phương tiện cạo sạch nó đi. Tuy cái gương có thể sạch sẽ, chỉ có thể Tịch nhưng lại chẳng có tác dụng Chiếu. Đó ví như phương pháp tu Tiểu thừa đoạn sạch phiền não mà chẳng thấu “Tâm này là Phật, Tâm này làm Phật”.

Người thông minh chỉ cần xoay chiếc gương lại tức thì được mặt sáng của gương, Tịch Chiếu viên dung.

So ra thì thấy hai bên dụng công và đạt quả khác xa nhau như Trời với Đất vậy.

Thế gian khó đoạn không gì hơn Tình ái. Nếu biết rằng Tình ái là chướng ngại hãy nên khởi ý niệm sau: “Tôi yêu con tôi, yêu gia đình tôi, tôi thật không muốn thấy họ khổ. Ở cõi này, dù giàu sang nhất thế gian cũng chẳng thoát khỏi bốn thứ Ma, tám thứ Khổ. Chỉ có nơi Cực Lạc thuần những niềm vui, tôi phải nhất định vãng sinh và dẫn dắt mọi người cùng đoàn tụ nơi thế giới Cực Lạc.”

Biến nỗi khổ của chúng sinh thành động lực Chán lìa Ta bà, lấy sự mong mỏi hạnh phúc lâu dài của chúng sinh thành sự Ưa cầu Cực lạc; đó cũng là tự độ mà lợi ích hết thảy.

Nếu quán xét và làm được như vậy chính là biến chướng ngại thành động lực chán lìa Ta bà mà cầu sinh Tịnh độ vậy.

Tình ái như muôn sợi dây quấn chặt thân này với Ta bà mà khởi quán được như vậy, huống gì tội Ngũ nghịch Thập ác.

Người biết mình tạo tội Ngũ nghịch Thập ác mà có thể tin tưởng pháp môn Tịnh độ lại càng có thể chuyển tội Ngũ nghịch Thập ác thành động cơ phản lực rời khỏi Ta bà vãng sinh Cực Lạc.

Chính vì thế mà vua A Xà Thế giết cha, một lòng niệm Phật có thể đạt bậc Thượng phẩm Trung sanh. Pháp sư Oánh Kha thường ngày phá giới tạo đủ tội nghiệp, quyết chí dụng công niệm Phật 3 ngày liền có thể được Phật tiếp dẫn vãng sinh Tây Phương.

Đó thật là tấm gương biết niệm Phật vậy.

Tích luỹ thiện căn để Tin sâu, chuyển chướng ngại Ta bà thành động lực cầu sinh Tịnh độ là Nguyện thiết. Tin sâu Nguyện thiết tất khởi nên Chánh hạnh Niệm Phật vãng sinh.

Được như vậy gọi là Có Tịnh độ, vạn người tu vạn người vãng sinh trong bài Tứ liệu giản nổi tiếng của tổ Vĩnh Minh.

Lại hỏi rằng: Chuyển ma thành Phật, biến phiền não thành Bồ đề vốn đã là tông chỉ Thiền tông, cần chi phải cầu sanh Tịnh độ?

Đáp: Thật là câu hỏi rất hay! Phải nên biết rằng mặt gương sáng kia vốn do Phật Di Đà lau từ vô lượng kiếp nay đã hoàn toàn sạch sẽ rồi. Đây gọi là biến công đức của Phật Di Đà thành công đức của mình vậy.

Thiền tông dù nói: Chuyển ma thành Phật, biến phiền não thành Bồ đề, tức là có xoay chuyển được chiếc gương kia đi nữa thì đó mới chỉ là Ngộ lý Phật, nhận lấy tâm này là Phật, tâm này làm Phật; mặt gương bên kia vốn vẫn bị Vô minh phủ kín, vẫn còn phải tự mình đoạn sạch Vô minh mới được thành tựu.

Sự khác biệt hơn kém xin hãy tự suy nghĩ sâu xa.

Làm thế nào để biết chắc chắn vãng sinh?

Có thể có các dấu hiệu sau:

-Niệm Phật đến mức công phu thành phiến trở lên, hay thấy Phật A Di Đà hiện đến thọ ký, cũng tức là niệm Phật đến mức tánh đức hiển lộ là biết chắc chắn vãng sinh.

-Dù chưa thấy Phật thọ ký, chưa đến mức công phu thành phiến; nhưng cảm thấy như người khát nước được nếm pháp vị, những nỗi lo tiêu biến, như cá thoát khỏi lưới, như chim sổ lồng. Câu Phật hiệu niệm liên tục không tốn sức, nhẹ nhành bay bổng, tâm khởi niệm không cần động môi mà vẫn cảm nhận rõ ràng. Niệm Phật hay nghe câu Phật hiệu với cảm giác an lạc không thể nghĩ bàn tức là đã dứt trừ được lòng nghi, chắc chắn vãng sinh.

Thật ra Niệm Phật dứt trừ được lòng nghi khó có thể nói hết, như người uống sữa mới cảm nhận được hương vị sữa, người tu đạt được tức khắc nhận biết. Nói theo Thiền tông thì là tỏ ngộ.

Chẳng cần phải bận tâm đến thiện ác bản thân, có phước hay chẳng có phước, nghiệp báo ra sao. Tấy cả đều là mộng huyễn.

Chẳng nên lo chuyện bên ngoài, vì thật ra chẳng có chuyện bên ngoài mà lo. Dùng tâm hướng ra bên ngoài Niệm Phật chẳng thể gọi là dụng công niệm Phật, cũng có thể gọi là chẳng thật thà Niệm Phật. Đức Phật đã nói chẳng thể dùng chút ít thiện căn, phước đức mà có thể sinh về cõi Tây Phương được. Ít thiện căn, phước đức tức là chẳng biết giá trị của pháp môn Niệm Phật, tin hời hợt, nguyện hời hợt, trì danh hời hợt, dùng tâm hời hợt hướng ra bên ngoài niệm Phật thì gọi là ít thiện căn, ít phước đức.

Chẳng nên nghĩ việc độ chúng sinh vì thật ra chẳng có chúng sinh mà độ. Ta chính là người, người chính là ta, mà cũng chẳng có ta, có người. Đó mới thật là độ chúng sinh.

Vậy nên kinh Duy Ma Cật có nói: Bồ tát chẳng trụ thế gian, chẳng trụ Niết bàn.

Thế nào là Bồ tát chẳng trụ thế gian? Vì quyết định chẳng có ta, chẳng có chúng sinh, cõi Phật vốn trống không nên chẳng trụ thế gian.

Thế nào là Bồ tát chẳng trụ Niết bàn? Vì mang chí nguyện độ thoát tất cả chúng sinh nên chẳng trụ Niết bàn.

Chớ nên nghĩ rằng phải bám trụ thế gian mới độ được chúng sinh? Vì sao? Vì thật chẳng có chúng sinh mà độ. Bồ tát nếu còn khởi tư tưởng phân biệt và chấp tướng sẽ chẳng thể nào đạt được Vô sinh pháp nhẫn ở địa vị Bất thối chuyển.

Nên biết rằng vì thật chẳng có chúng sinh mới nên khởi tâm đại bi độ thoát tất cả chúng sinh. Vì sao? Vì còn thấy có chúng sinh ắt sẽ khởi tâm đại bi ái kiến, có tâm đại bi ái kiến ắt sẽ mỏi mệt chán ngán cuộc sinh tử mà  sinh lòng thối lui.

Điển hình là ngài Xá Lợi Phất trong những kiếp trước phát tâm Bồ tát, sau vì thấy chúng sinh khó độ nên thối thất tâm Bồ tát, trở lại con đường Thanh văn.

Đó là Bồ tát tự khởi ra pháp trói buộc vậy. Chính mình còn tự trói buộc mình lại có khả năng cởi mở cho người khác, độ thoát cho người khác được sao?

Vậy chẳng nên nghĩ đến việc thay đổi hoàn cảnh bên ngoài. Cổ đức nói: “Nếu hiểu được tâm, đại địa không còn một tấc đất”.

Chẳng nên nhìn lỗi người vì chẳng có người mà có lỗi.

Chỉ nên xoay lại bên trong, nhận lấy tự tánh, tuỳ duyên bất biến, tuỳ duyên tự tại chẳng vướng mắc. Thân này chỉ là bóng ảnh, vốn chẳng có gì có thể ràng buộc vướng mắc. Danh, lợi, ngũ dục chỉ là Không.

Thật tướng Niệm Phật là từ tự tánh khởi niệm.

Thấy rõ hữu tình lẫn vô tình đều là Phật mà niệm Phật thì là Thật tướng Niệm Phật

Thấy rõ toàn thể pháp giới là Phật mà niệm Phật thì là Thật tướng Niệm Phật.

Thấy rõ Phật pháp lẫn phi pháp, pháp thiện pháp ác đều là Phật pháp; Chân tâm vọng tâm đều là Phật tâm mà niệm Phật thì là Thật tướng Niệm Phật.

Biết rõ chẳng có người niệm Phật, chẳng có Phật được niệm, chẳng chấp nơi Sự tướng, cũng chẳng bỏ câu Phật hiệu A Di Đà thì là Thật tướng Niệm Phật.

Quán như vậy mà niệm Phật, quán như vậy mà khởi tu thì gọi là TỊNH ĐỘ THIỀN.

A DI ĐÀ PHẬT

CHƯƠNG2: THIỆN CĂN

Theo pháp sư Tịnh Không giảng, Căn như loại thảo mộc có rễ, có thể sinh trưởng, mang ý nghĩa gìn giữ phát triển nên gọi là căn.

Do đó, thiện nghiệp thế gian là hữu lậu, rơi rớt chẳng thể gìn giữ, phát triển nên chẳng thể gọi là thiện căn.

Chỉ có nghiệp vô lậu, không rơi rớt như chất kim cang mãi mãi chẳng hoại, gặp duyên thì khai phát mới có thể được gọi là thiện căn. Hay nói cách khác, tu pháp xuất thế gian thì tạo ra Thiện căn, tu pháp thiện thế gian thì sinh ra phước đức.

Lại nữa, nghiệp vô lậu vốn chẳng phân biệt thiện ác nên mới có thể gọi là Thiện.

Vì thế Đại sư Huyền Trang nói: Kẻ ngu chẳng phân biệt được Căn và Thức.

Căn sinh Thức, Căn là gốc, Thức là ngọn.

Căn mang hai ý nghĩa: gìn giữ và phát triển; gìn giữ là tự lợi, phát triển là lợi tha.

Những gì tương ứng với nghiệp vô lậu đều có thể được gọi là Chánh.

Những gì tương ứng với nghiệp hữu lậu đều có thể coi là Tà.

Ngay trong Nghiệp vô lậu lại cũng có thể phân làm Chánh và Trợ.

Nghiệp vô lậu của hàng Thanh văn nhị thừa đều có thể coi là Trợ vì con đường Thanh văn chẳng thể thành Phật. Do đó Thiền, Giới, Thí... đều có thể coi là Trợ đạo.

Nghiệp vô lậu hàng Thanh văn chỉ chú trọng nơi gìn giữ, tự lợi; chẳng mang tâm lợi tha nên chẳng thể goi là Thiện Căn chân chính.

Niệm một câu Phật hiệu là gieo một chủng tử Phật nơi tâm thức, quyết định mãi mãi không rơi rớt. Khi duyên thành thục sẽ do nhân này mà viên thành Phật đạo. Qủa thật là Chánh đạo Bồ đề, nhanh chóng, thẳng tắt, viên mãn ổn thoả kỳ diệu bậc nhất, thật chẳng thể nghĩ bàn.

Lại nữa, pháp môn Niệm Phật thù thắng chính là hiểu rõ Tha chính là Tự, Đạo cũng là đời, xuất thế gian cũng là thế gian, thiện căn cũng là phước đức.

Vì vậy niệm một câu Phật hiệu viên mãn đầy đủ thiện căn, phước đức, nhân duyên.

Hỏi: Lễ Phật so với Niệm Phật thì thế nào?

Đáp: Kinh Vô Lượng Thọ đã nói: “Kính Phật là điều đại thiện, niệm Phật quan trọng hơn, giúp cắt hết lòng nghi...”

Kính là Lễ; so với Niệm Phật, Niệm Phật là Chánh, Lễ Phật là Trợ.

So với Niệm Phật, quán tưởng tham cứu đều là Trợ.

Thế nên chỉ riêng kinh A Di Đà chỉ thẳng pháp môn Tín Nguyện Trì danh được chư Phật mười phương xưng tán, ngay cả các kinh Vô Lượng Thọ và Quán kinh trong Tịnh độ cũng đâu có chuyện này.

Người trồng rừng đều biết hạt của cây lim rất bền chắc, có thể tồn tại lâu dài dưới lớp đất mấy trăm năm. Khi rừng bị tàn phá, đất khô cằn nó nằm yên dưới đất. Đến khi đất được phủ xanh bởi cỏ cây, độ ẩm thích hợp thì nó mới bắt đầu nảy mầm.

Chủng tử Phật của câu Niệm Phật cũng lại giống như hạt lim vậy. Chủng tử của pháp Thiền, Giới, Thí.. như hạt cây cối xung quanh, là Trợ đạo để duyên khởi chủng tử Chánh đạo Bồ đề, quyết định thành Phật ngay trong một đời.

Đại sư Tịnh Không có nói: “Hoa Nghiêm, Pháp Hoa chỉ nhằm để dẫn dắt quy về Tịnh độ” là vậy.

Thế nên muôn kinh vạn hạnh là Trợ đạo, tích luỹ thiện căn phước đức nhằm đấy khởi chủng tử Niệm Phật từ trong qua khứ để đời này có thể tin sâu pháp môn Tịnh độ mà thôi. Nếu chẳng phải từ vô lượng kiếp tu Thiền, Giới, Thí...dựa vào đâu đời nay có thể gặp được và tin nhận được pháp môn kỳ diệu này. Nếu đất cằn khô, hạt giống lim đâu thể nảy sinh.

Gặp được pháp môn này tức là tiến thẳng đến Phật đạo chẳng còn lui sụt nữa, đừng nên thấy ngọc mà tưởng là sỏi đá mà bỏ qua, ngàn lần luyến tiếc.

Pháp môn này chớ thấy Sự vô cùng đơn giản mà sinh tâm kinh chê; chớ thấy Lý vô cùng sâu thẳm, mênh mông mà sinh lòng chùn bước.

CHƯƠNG3: THÀNH TỰU CÔNG ĐỨC

Trong Kinh A Di Đà, đức Bổn sư nhắc đi nhắc lại: “Cõi đó thành tựu công đức trang nghiêm như thế đó”.

ĐÃ THÀNH: nghĩa là tỳ kheo Pháp Tạng tu vô lượng kiếp Đã thành tựu được Thân – Cõi Tây Phương Cực Lạc như thế.

Một phần nơi tự tánh của ta đã được đức Phật A Di Đà thành tựu trang nghiêm như vậy, sanh về cõi Tây Phương là trở về với phần tự tánh ấy, khi ấy là biến công đức của Phật A Di Đà thành công đức của mình.

Lại nữa, mỗi niệm tương ưng mỗi niệm Phật thì chính niệm ấy ta đã sinh qua cõi Tây Phương, chứng nhập được Thân Cõi thành tựu trang nghiêm như vậy, là ĐÃ THÀNH, chẳng phải là sẽ thành hay đang thành, đó gọi là biến công đức của Phật A Di Đà thành công đức của mình.

Sau khi trở về cõi Tây Phương sẽ thấu suốt nguồn tâm, tự tánh hiển lộ hoàn toàn thì gọi là thành Phật.

Thật ra, thành Phật là trở về tự tánh, không gì chẳng phải chính ta nên chẳng luận thành Phật; lại mang nguyện độ sanh nên thị hiện thành Phật.

Phàm phu chúng ta mê mờ chỉ biết cõi Tây Phương do đức Phật A Di Đà tạo ra và đang là giáo chủ ở đó, mà chẳng biết thật ra toàn cõi Tây Phương chính là Thân của Phật A Di Đà.

Ta hàng ngày niệm A Di Đà Phật để mong vãng sinh qua cõi đó, thật ra đó là giai đoạn ta đang biến thân thành chính Phật A Di Đà vậy.

Các cõi Phật khác muốn thành Phật phải tuần tự trải qua các giai đoạn Tiểu thừa, qua năm mươi mốt địa vị Bồ tát đạo, nay nương vào Đại nguyện của Phật A Di Đà thẳng tắt siêu việt thành Phật.

Thật là sự khởi xướng lạ lùng, kỳ diệu chẳng thể nghĩ bàn, muôn kinh vạn luận khác đều chẳng thể đề cập đến được.

Vì thế kinh A Di Đà nói rằng: “Cõi đó thành tựu công đức trang nghiêm như thế đó”.

Vãng sinh qua cõi Tây Phương là đã hoàn thành được quá nửa chặng đường hoá thân thành Phật A Di Đà rồi.

Nếu chẳng phải Tỳ kheo Pháp tạng là bậc Pháp thân Đại sĩ, thấu suốt nguồn tâm, quán chiếu viên mãn các cõi Phật khắp 10 phương, lại còn phải mất đến 5 kiếp tư duy sao có thể phát ra Đại nguyện thù thắng đưa chúng sinh mê mờ biến thẳng thành Phật nhanh chóng thẳng tắt thế được?

Do vậy pháp môn này mới được gọi là pháp môn thành Phật trong một đời chân chính.

Trong sách Di Đà yếu giải, đại sư Ngẫu Ích có nói tất cả chư Phật mười phương đều lấy A Di Đà Phật làm Tự. Vì sao? Vì chư Phật đồng một Pháp thân vậy.

Chẳng phải tu pháp môn Tịnh độ này mỗi chúng sinh thành tựu Phật đạo, là hoàn tất quá trình Hoá thân thành Phật A Di Đà, mỗi mỗi đều là Phật A Di Đà đó ư? Chẳng phải chư Phật giáo hoá phương khác cũng chẳng phải chính là Phật A Di Đà sang phương khác giáo hoá đó ư?

Phẩm 46 Cần tu kiên trì kinh Vô Lượng Thọ, bổn sư Thích Ca dạy rằng: “Pháp của ta như vậy, làm như vậy, nói như vậy, Như Lai đã hành trì theo đó mà hành trì tu các phước thiện cầu sanh về cõi Tịnh độ”.

Kinh A Di Đà, đức Thế tôn cũng nói: “Này Xá Lợi Phất! Hãy nên biết: Ta ở trong đời ác ngũ trược, làm việc khó khăn này, đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, vì hết thảy thế gian nói pháp khó tin này, thật là rất khó”.

Vậy chẳng phải đức Thế tôn cũng chính là đức A Di Đà đến thế giới này giáo hoá đó ư? Còn nghi ngờ gì nữa!

Xin hãy suy nghĩ sâu xa!

Đại sư Thiện Đạo cũng từng nói: “Sở dĩ Phật Thích Ca xuất hiện ở đời nhằm nói Di Đà hải nguyện”.

Chư Phật mười phương đã đều lấy Phật A Di Đà làm Tự thì danh hiệu mỗi vị Phật đều chẳng phải danh hiệu A Di Đà tuỳ theo sự giáo hoá mỗi cõi Phật ở mỗi thời điểm, tuỳ theo sự ưa thích chúng sinh cõi đó mà đặt ra đó ư?

Do vậy niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật cũng chính là niệm danh hiệu mười phương chư Phật.

Lại nữa, vì Thân cũng chính là Cõi, nên danh hiệu A Di Đà Phật có vô lượng nghĩa thì tên Cõi cũng vậy.

Cõi Tây Phương nơi này dịch là Cực Lạc, Thanh Thái, An Dưỡng, Hương Quang Trang Nghiêm…vì dựa theo sự ưa thích của chúng sinh phương này mà lấy tên là Cực Lạc vậy thôi.

Đó là vì cõi Ta bà này toàn là Khổ.

Khổ thì là Khổ Khổ vì sự khổ bức bách nơi Tâm thân khó thể chịu nổi. Vui cũng là Hoại Khổ vì nó ngắn ngủi, ngay sau vui lại là Khổ. Đến ngay cả không khổ không vui cũng là Hành Khổ vì tính nó đổi dời liên tục chẳng thể nắm bắt.

Tuỳ theo mỗi cõi Phật sẽ có tên gọi tương ứng khơi gợi sự vui thích, ưa cầu, nhằm hướng chúng sinh nguyện sanh về đó.

Nên biết Tây Phương Cực Lạc thù thắng ở chỗ Thân Cõi chẳng hai vậy. Cõi Cực Lạc cũng chính là Thân Phật A Di Đà. Thân ấy là Báo thân cũng lại là Pháp thân cũng lại là Ứng hoá thân. Sanh qua cõi ấy cũng chính là nhận lấy Thân ấy, thật chẳng thể nghĩ bàn.

Lại có thể nói sâu hơn, Phật A Di Đà hiện nơi cõi Tây Phương là Thị sanh ứng hoá thân, nhưng thân cõi chẳng hai chẳng khác nên cõi Tây Phương cũng là Tha thụ dụng Báo thân, lại là Ly cấu Diệu cực Pháp thân.

Lại nữa, thuận theo phàm tình phương khác nên thị hiện thành Phật giới Hoá thân tức là Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp nơi ấy, và Tuỳ loại Hoá thân tức là vô lượng vô biên thánh chúng Thanh văn Bồ tát cùng các loại hữu tình lẫn vô tình.

Thật ra không gì chẳng phải chính là Phật A Di Đà.

Vì lẽ ấy mà các vị Tổ Thiền tông như Mã Minh, Long Thọ, Vĩnh Minh, Ngẫu Ích...sau khi đã đại triệt đại ngộ thấu rõ huyền cơ đều chuyển sang chuyên tu Niệm Phật cầu sanh Tịnh độ. Chẳng những vậy ngay cả các bậc Đẳng giác Bồ tát như Phổ hiền đều khuyên Thiện tài đồng tử cũng như bốn mốt địa vị Pháp thân đại sĩ trong Hoa tạng hải hội cầu sanh Tịnh độ là vậy.

Đó là vì từ Đẳng giác Bồ tát cho đến bốn mốt địa vị Pháp thân đại sĩ minh tâm kiến tánh đều muốn nhanh chóng thẳng tắt biến thẳng thành Phật, viên mãn thành Phật.

Nếu chẳng phải là bậc Đại trí huệ, thiện căn phước đức đầy đủ sao có thể hiểu và tiếp nhận được pháp môn này?

Đó là giá trị của pháp môn Niệm Phật, là cảnh giới của Phật, chỉ Phật với Phật mới có thể thấu hiểu, chẳng ai có thể hỏi.

Vì vậy nên biết rằng cần có đầy đủ thiện căn phước đức mới có thể tiếp nhận được pháp môn này, hành trì pháp môn này và được vãng sinh qua cõi Tây Phương.

Chẳng thể dùng chút ít thiện căn phước đức mà có thể tín giải hòng phát khởi nguyện lớn mà cầu sanh Tịnh độ được.

Những kẻ thiện căn thiếu kém chẳng tiếp nhận được Phật pháp chẳng nói làm gì.

Những người thiện căn nhiều hơn có thể hiểu được Phật pháp cũng chẳng thể tiếp nhận được pháp môn này mà đành phải đi theo các con đường Trợ đạo khác như Thiền, Giới, Thí... hòng tích luỹ thiện căn nhằm dấy động chủng tử Phật khởi phát để cuối cùng dựa vào chính pháp môn Niệm Phật mà viên thành Phật đạo.

Lại có hạng người thiện căn nhiều hơn một chút nữa, gặp được duyên nghe pháp môn này, tin và hành theo pháp môn này nhưng Tin hời hợt, Nguyện hời hợt cũng nên tự biết rằng thiện căn phước đức hãy còn chưa đủ.

Thiếu sót thì phải biết vun bồi.

Như ruộng khô thiếu nước kẻ lười nhác cứ chờ mưa, lại có người xách từng thùng nước đổ vào; kẻ thông minh thì dẫn thẳng nước từ hồ chứa vào ruộng nhà mình.

Cũng như vậy, thiếu phước đức thiện căn chẳng có cách nào vun bồi nhanh hơn Tín Nguyện Trì danh Thánh hiệu A Di Đà Phật, cầu Tam bảo gia hộ gặp được thắng duyên phát khởi chân tín nơi pháp môn sâu mầu kỳ diệu này.

Niệm đến khi nào tin chắc chắn vãng sinh tức là đã đủ.

Vì vậy cần phải tự phản tỉnh chính mình để nhận biết điều ấy, nếu không lại chỉ còn cách lăn lộn trong tam giới mà thôi! Rất khổ! Cớ sao chẳng chịu dốc lòng niệm Phật?

CHƯƠNG 4.             TÍN NGUYỆN TRÌ DANH

VÃNG SINH TỊNH ĐỘ

Kinh nói: Nếu tâm hành đạo thì thân đâu cần hành đạo.

Vì vậy thân xuất gia chẳng bằng tâm xuất gia. Thế nào là tâm xuất gia?

Xuất là xuất ly, rời bỏ.

Gia nghĩa hẹp là gia đình, nghĩa rộng là thế giới Ta Bà uế trược này.

Xuất ly gia đình thì là thân xuất gia.

Xuất ly Ta bà thì là tâm xuất gia.

Như vậy tâm xuất gia ắt phải Chán lìa cõi Ta bà này. Đã Chán lìa Ta bà ắt phải ưa cầu cõi khác, trong tất cả các cõi thì Tây Phương Tịnh độ thanh tịnh trang nghiêm bậc nhất, mỗi mỗi đều bậc nhất.

Do vậy tâm xuất gia tức là Chán lìa Ta bà, ưa cầu Tịnh độ.

Đó là Chánh đạo vô thượng Bồ đề.

Do vậy phát tâm Vô thượng Bồ đề là Niệm Phật cầu sanh Tịnh độ, biến thẳng thành Phật.

Chán lìa đến cùng cực thì chẳng còn gì để chán lìa.

Ưa cầu đến cùng cực thì chẳng có gì để ưa cầu.

Khi đó thì Duy tâm Tịnh độ, Tự tánh Di Đà hiện tiền, Chân tâm vọng tâm đồng Phật tâm.

Ngẫu Ích đại sư có nói: Được vãng sinh hay không hoàn toàn do có Tín nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp hoàn toàn do hành trì sâu hay cạn.

Chắn chắn vãng sinh là Tin sâu Nguyện thiết, cũng là khởi lên sự Chán lìa Ta bà Ưa cầu Cực lạc.

Như cái cân một đầu ở Ta bà, một đầu ở Cực lạc. Nảy lên nơi Ta bà thì đồng thời chúc xuống nơi Cực Lạc. Phải Chán lìa Ta bà thì mới có thể nảy lên nơi Ta bà, phải Ưa cầu Cực lạc mới có thể chúc xuống nơi Cực lạc.

Chẳng Chán lìa Ta bà, chẳng Ưa cầu Cực lạc sẽ chẳng thể vãng sinh.

Nên hiểu rõ Chán lìa chẳng phải là gặp việc gì, sự gì cũng chán nản ghê sợ.

Chán vì khéo hiểu rõ cõi Ta bà này vốn là Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã.

Lìa vì biết thân này chẳng phải là ta, chẳng phải của ta, chẳng để tâm vướng mắc nơi thân và các pháp thế gian.

Ưa vì tin sâu cõi Cực lạc có đủ bốn đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

Đến nơi đó mới ngộ nhập lời Lục tổ nói: Chẳng ngờ tự tánh vốn thanh tịnh, chẳng ngờ tự tánh vốn đầy đủ, chẳng ngờ tự tánh hay sinh vạn pháp.

Mới hay cõi Cực lạc là nơi thù thắng thanh tịnh trang nghiêm bậc nhất, do tâm ta cảm thành, tâm ta tạo nên.

Cầu là mong mỏi cầu sanh qua cõi ấy chẳng lúc nào tạm quên.

Người đời bám víu ngũ dục, thế gian như chim non bám tổ. Học Phật ban đầu phải Chán lìa ngũ dục, thế gian như chim non dũng cảm rời bỏ tổ ấm tung cánh bay. Dám rời tổ mới có thể nhận được cả bầu trời, không dám rời bỏ thì có thể đạt được gì đây? Đó gọi là bỏ tất cả để được tất cả vậy.

Vì vậy kinh Kim Cang nói: “Ưng vô sở trụ, nhi sinh kỳ tâm”.

Tam muội dịch là Chánh thọ, tức là sự thụ hưởng chính đáng.

Học Phật nói chung hay Tịnh độ Thiền nói riêng cứu cánh là chứng nhập được Phật tánh. Khi đó sẽ đạt được những lợi ích lớn sau:

Thứ nhất, là nhận ra toàn thể pháp giới vũ trụ đều là chính ta, của ta.

Thứ hai, là nhận ra sự bất sinh bất diệt ngay nơi thân xác giả tạm này.

Qủa thật đó là sự thụ hưởng vô cùng tận và vĩnh cửu. Đó là ý nghĩa của sự thụ hưởng chính đáng.

Nếu sự thụ hưởng chỉ trong đời này thì Đức Thế tôn ta đâu cần phải thị hiện bỏ ngôi Thái tử hành khổ hạnh 11 năm ròng để tìm ra chân lý. Phật Hoàng Trần Nhân Tông đâu cần bỏ ngôi vương vào nơi rừng thiêng nước độc Yên Tử cầu đạo?

Người học Phật cũng nên biết điều này. Niệm Phật đến khi chứng nhập điều này thì gọi là Niệm Phật tam muội.

Niệm Phật được sự thụ hưởng như vậy cần phải biết cảm kích ân sâu đấng Đại Đạo sư thị hiện chỉ đường cho ta, ắt phải “Cạn lòng Thành, Tận lòng Kính”. Nếu không ta mãi vĩnh viễn là kẻ mang ngọc quý mà chẳng biết, cứ mải mê xin ăn trôi nổi lục đạo chẳng có ngày ra.

Niệm Phật có thể có thành tựu, cảm ứng đạo giao, thấy Phật gặp Phật được Phật thọ ký cũng chẳng ngoài 16 chữ: “Cạn lòng Thành, Tận lòng Kính, Tin sâu Nguyện thiết, chuyên trì Thánh hiệu Di Đà”.

Có thể nói đó là lời tha thiết nhắn nhủ như mẹ dặn con của Tổ sư Ấn Quang nói với kẻ hậu sinh học Phật như chúng ta vậy. Xin đừng phụ lòng chư Phật Tổ mà cũng chính là đừng phụ bạc, coi rẻ chính ta vậy!

Hãy nên biết rằng pháp môn này chỉ thẳng nơi quả vị Phật, là Phật thừa chẳng còn mắc nơi Tiểu thừa hay Đại thừa, dứt bặt đối đãi một cách viên dung, thật chẳng thể nghĩ bàn.

Phật đạo là Trung đạo, ắt phải lìa Nhị biên, chẳng mắc nơi Nhị biên.

Ở cõi Ta bà luôn có sự đối đãi nơi thân và tâm như nóng lạnh, no đói, sướng khổ...Vì thế phá ngã chấp có thể chẳng cầu sanh Tịnh độ cũng có thể tu được. Phá được ngã chấp hoàn toàn có thể đạt được quả vị A la hán của Tiểu thừa.

Ban đầu Phật truyền tâm ấn cho ngài Maha CaDiếp lập Thiền tông, sau đó lại thuyết 3 kinh Tịnh độ lập Tịnh tông để dẫn dắt chúng sinh 9 pháp giới vào Trung đạo.

Chớ nên khởi tình kiến thế gian cho rằng bỏ Ta bà cầu sinh Tịnh độ vẫn là vướng mắc nơi nhị biên. Chớ nên khởi tình kiến như vậy mà phỉ báng pháp môn Tịnh độ, tự đoạn thiện căn của chính mình.

Vì sao vậy? Vì thế giới Tây Phương Cực Lạc chẳng phải là pháp hữu vi của thế gian, cũng chẳng phải là pháp vô vi của Tiểu thừa. Thế giới Tây Phương Cực Lạc chính là thân Phật trải ra, là cảnh giới Phật; vì pháp môn Niệm Phật là Phật thừa, vì Tịnh độ Thiền vốn là Trung đạo, dứt bặt đối đãi.

Tại sao nói pháp môn Niệm Phật là Phật thừa? Vì chẳng còn phân biệt nên là Phật thừa. Tại sao nói chẳng còn phân biệt? Ví như ghế gỗ, ghế đá cho đến ngai vàng cũng chỉ là chiếc ghế. Vạn vật tánh Không nhưng chẳng phải rốt ráo Rỗng Không nên còn lại Danh tự. Vì chẳng còn phân biệt nên mọi vật đều quy về Danh tự.

Cũng do lẽ đó nên có thể nói tất cả công đức, phương tiện giáo hoá chúng sinh của mỗi vị Phật đều được nhiếp trọn trong Danh hiệu Phật.

Vậy nên kinh Địa tạng nói nếu có chúng sinh nào thoảng nghe danh hiệu một vị Phật mà còn có phước đức vô lượng trong trăm ngàn kiếp huống là tin tưởng Trì danh đó ư?

Do đó nên biết pháp môn Trì danh quả thật là pháp môn viên đốn đến tột bậc, đơn giản, dễ dàng, ổn thoả thẳng chóng nhất vậy. Vì sao vậy? Vì Danh hiệu Phật dứt hết phân biệt nên chẳng thể nghĩ bàn, lìa mọi sự đo lường so sánh, vượt quá sự đo lường so sánh.

Vậy nên pháp môn Tín Nguyện Trì danh cũng gọi là pháp môn Chẳng thể nghĩ bàn của chư Phật vậy.

Đức Thế tôn từng nói: Mạng người chỉ dài bằng một hơi thở.

Như vậy nhất định sẽ có pháp môn liễu thoát tam giới, bất thoái thành Phật chỉ trong một hơi thở.

Đó chính là pháp môn Niệm Phật Tín Nguyện Trì danh 10 niệm hay 1 niệm cũng nhất định vãng sinh, nhanh chóng, kỳ diệu, siêu việt thành Phật.

Ấn Quang đại sư đã nói: Một pháp Trì Danh là Đại pháp môn, Sự chính là Lý, tuy cạn mà sâu; Tu chính là Tánh, tâm chúng sinh chính là tâm Phật.

Tổ sư Ngẫu Ích cũng nói: Danh hiệu Di Đà chính là Bổn giác Lý tánh của chúng sinh, Trì danh chính là Thỉ giác hợp với Bổn giác. Thỉ giác Bổn giác chẳng hai, Phật và chúng sinh chẳng hai, vì thế một niệm tương ưng một niệm Phật, niệm niệm tương ưng niệm niệm Phật.

Hãy nên biết rằng: Chấp trì danh hiệu tuy đơn giản dễ dàng thẳng chóng mà lại viên đốn đến tột bậc, bởi mỗi niệm chính là Phật, ngay trong khi niệm Phật ấy bèn viên minh chẳng thừa chẳng thiếu.

Chương 5: DỨT TRỪ LÒNG NGHI

1.Hỏi: Suy xét nơi muôn kinh thì chẳng có kinh nào có thuyết đới nghiệp vãng sinh như các kinh Tịnh độ cả, thật khiến tôi chưa hết nghi?

Đáp: Ví như có dòng sông vô minh ngăn cách, bờ bên này là Vọng tâm đầy hiểm nạn, bờ bên kia là Chân tâm tự tại thảnh thơi.

Tu nơi các pháp môn Tự lực ắt phải tự mình bơi qua đó. Muốn bơi được đến bờ bên kia phải dần dần bỏ hết lại các đồ đạc trên người, ví như nghiệp vậy. Cũng vì thương chúng sinh tự lực quá vất vả mà đức Phật hóa ra các hòn đảo dụ như các Hóa thành làm chỗ nghỉ chân. Vì thế, có những chúng sinh lầm Hóa thành là Bảo sở mà ở lại mãi chẳng đến đạo Vô thượng Bồ đề.

Cũng vì lẽ đó mà đức Phật ví Bồ tát mới phát tâm giống như bông xoài, trứng cá, nhân thì nhiều mà quả chẳng được bao nhiêu.

Duy có pháp môn Tịnh độ giống như đứa con ở bên này gọi cha mãnh liệt tha thiết, người cha nghe thấy cho thuyền sang đón. Vậy là ung dung qua sông mà chẳng trở ngại gì, lại vẫn có thể ôm cả đồ đạc qua sông, đó gọi là đới nghiệp vãng sinh. Đến nơi mới biết đồ đạc mà mình quý trọng bên này thật dơ uế, chẳng cần dùng đến nữa bèn xả bỏ đi.

Tu tự lực hãy xem gương ngài Xá lợi Phất, tu đến bậc Lục trụ Bồ tát Chính tâm trụ, tâm tướng đồng như Phật  nhân vì người Bà la môn xin tròng mắt mà thối tâm xuống hàng Thanh văn.

Ấy là so sánh nơi tự lực và tha lực vậy.

2. Hỏi: Phật gồm đủ 3 nghĩa: Tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn. Nay nói cầu sanh Tịnh độ là về quả vị Phật, vốn chỉ có thể nói là Tự giác thôi, sao có thể đầy đủ ba ý trên?

Đức Thế tôn ta ba A Tăng kỳ kiếp hành bồ tát đạo mới được thành Phật, huống hồ ta là kẻ phàm phu nghiệp dầy phước mỏng, chỉ nương Tín Nguyện Trì danh 10 niệm đã siêu việt một đời thành Phật hay sao?

Đáp: Chúng sinh bổn lai là Phật, vì một niệm mê mờ chấp lấy thân này làm Ta, tâm này ở nơi thân này, nên vô thỉ kiếp trôi lăn tam giới mà thật Diệu tâm vốn chưa từng động. Vì chấp có cái Ta, nên mới có người, có chúng sinh, có thọ mạng; vì chấp có cái Tự nên mới có cái Tha. Nếu lìa cái Tự thì cái Tha do đâu mà được thành lập, đó gọi là Tha Tự chẳng hai chẳng khác vậy.

Do đó nếu thấu hiểu được Tự thì Tự giác cũng gồm thâu cả giác tha, giác hạnh viên mãn.

Về với cõi Tây Phương chính là về với Chân như Bổn tánh viên giác của mình, từ nơi đó thường phân thân muôn ức khắp mười phương cứu độ chúng sinh. Như vậy là viên mãn, như vậy là đầy đủ.

Lại chấp nơi văn tự mà hỏi rằng Đức Thế tôn ta ba A Tăng kỳ kiếp hành bồ tát đạo mới được thành Phật, mà chẳng biết kinh Pháp Hoa đã nói rõ rằng đức Thích Ca đã thành Phật từ lâu xa về trước rồi, nay chỉ là thị hiện để giáo hóa chúng sinh đó thôi.

Ý hỏi cuối xin được trình bày kỹ hơn ở phần sau.

3. Hỏi: Lại hỏi tiếp rằng, nếu nói cõi Tây phương là Ly cấu Diệu cực Pháp thân, là Chân như bổn tánh thì nó phải thường hằng, vậy sao kinh nói sau khi đức Phật A Di Đà nhập diệt thì đức Quán Thế Âm lên thay, đức Quán Thế Âm nhập diệt thì đức Đại Thế Chí lên thay, rõ ràng đó là pháp hữu vi biến đổi sanh diệt chứ có phải thường hằng đâu?

Đáp: Nên hiểu rõ Tự tánh vốn chẳng động mà hay sinh vạn pháp.

Ông hỏi như vậy là mắc lỗi chấp thường chấp đoạn của ngoại đạo, cũng lại là lấy tâm phân biệt so lường Phật cảnh, xa lại càng xa.

Vì phân biệt chấp tướng mà thấy đức Quán Thế Âm, Đại Thế Chí khác với Phật A Di Đà mà chẳng biết Phật A Di Đà cũng chính là đức Quán Thế Âm, cũng chính là đức Đại Thế Chí, cũng chính là Bản lai diện mục của chính mình.

Như nước cùng thể mà khi lạnh thành đá, khi nóng thành hơi, lúc thì chảy xuống khi thì bay lên; lại cũng như Hồ Chủ Tịch ở mỗi thời kỳ khác nhau, mỗi địa phương khác nhau mà có tên hiệu khác nhau, lẽ nào cứ chấp nơi văn tự mà bảo đó là nhiều người khác nhau ư?

4. Hỏi: Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Phật chỉ định các Đại Bồ tát, Đại A la hán nêu sự tu chứng viên thông của mình, trong đó có phép Niệm Phật tam muội của đức Đại Thế Chí và phép tu Nhĩ căn viên thông của đức Quán Thế Âm, sau đó ngài Văn Thù Sư Lợi nương sức oai thần của Phật mà tổng hợp tất cả ưu điểm, nhược điểm của các phép tu viên thông và tuyên dương phép tu Nhĩ căn viên thông của đức Quán Thế Âm là hợp với căn cơ chúng sinh Ta bà nhất, tại sao giờ lại nói rằng pháp Trì danh thích hợp nhất, chẳng phải bác lời của Pháp vương tử Văn Thù Sư Lợi, mà cũng chính là đi ngược với lời Phật dạy hay sao?

Đáp: Nơi đây cần suy xét kỹ.

Đó là vì pháp môn Niệm Phật nhiếp trọn 6 căn, tịnh niệm tương tục của đức Đại Thế Chí thuộc về phép Quán tưởng Niệm Phật vậy, lại còn chẳng có Tha lực là Đại nguyện của Phật A Di Đà; chẳng phải là pháp Trì danh ngày nay.

Tại sao nói như vậy? Vì ngài Đại Thế Chí tu pháp này hằng sa số kiếp về trước nơi đức Phật Vô Lượng Quang, chuyên niệm tưởng Phật như con nhớ mẹ, khắc sâu vào tâm niệm như hình với bóng mãi chẳng quên. Đó thuộc về phép Quán tưởng. Do vậy, ngài Tâm Minh Lê Đình Thám khi dịch kinh này (tức kinh Thủ Lăng Nghiêm) phán định phép tu này thuộc về viên thông Kiến Đại cũng hợp lý.

Hơn nữa, đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay mới được 10 đại kiếp hình thành nên thế giới Tây Phương Cực Lạc, khi đó pháp Trì danh đới nghiệp vãng sinh mới được hoàn thành trọn vẹn vậy.

Hiểu sâu hơn, pháp môn Trì danh về tự lực là sự hòa hợp viên dung của pháp Niệm Phật viên thông của đức Đại Thế Chí và pháp tu Nhĩ căn viên thông của đức Quán Thế Âm, như hai con sông lớn đổ về biển. Là bởi các ý sau:

Thứ nhất, là miệng niệm tai nghe: Âm thanh do căn lưỡi phát ra, căn tai nghe trọn vẹn, ấy là tu hai căn hòa hợp.

Thứ hai, tâm niệm tai nghe: Tâm niệm nhưng tai vẫn nghe rành rọt chẳng sót, ấy là ý và nhĩ căn hòa hợp.

Đó thật là xoay lại tự tánh, nghe lấy tánh nghe của mình. Vì sao vậy? Miệng niệm là có tiếng, tâm niệm là không tiếng; dù có tiếng hay không tiếng đều có thể nghe rõ Thánh hiệu A Di Đà Phật, đó là xoay lại nghe tánh nghe của mình vậy.

Thế nào là viên thông Nhĩ căn? Ban đầu ở trong tính nghe, nghe tiếng niệm Phật tương tục vào được dòng viên thông, không còn thấy tướng Sở nghe nữa, thêm lần đến năng nghe, sở nghe đều hết. Không dừng lại nơi đó tiến đến cái năng giác, sở giác cũng không, tức là chẳng còn thấy ai niệm Phật, đức Phật được niệm nữa. Không giác tột bậc viên mãn thì bản tính tịch diệt hiện tiền, khi đó gọi là Duy tâm Tịnh độ Tự tánh Di Đà, sáng suốt khắp mười phương.

Ở mỗi pháp môn Niệm Phật tam muội của đức Đại Thế Chí và pháp tu Nhĩ căn viên thông của đức Quán Thế Âm riêng rẽ đã là những pháp tu thượng thừa đốn giáo huống là hợp lại làm một ư?

Ấy là ở nơi tự lực còn thù thắng như vậy, lại được Đại nguyện vương của Phật A Di Đà, sức mình sức Phật sánh đôi như thuyền xuôi gió, chẳng khác gì hổ mọc thêm cánh, cá được hóa rồng vậy, lại là thù thắng trong thù thắng, nhiệm mầu trong nhiệm mầu.

Từ đây cũng chứng minh được rằng pháp Tín Nguyện Trì danh là Vô thượng pháp môn, là vua báu của pháp Niệm Phật hoàn toàn phù hợp với chúng sinh cõi Ta bà thời mạt pháp, tùy thuận theo muôn kinh vạn luận mà chẳng hề trái nghĩa vậy.

Pháp môn này dùng hữu niệm mà đạt lý Vô niệm, lấy sự cầu sanh mà được quả Vô sanh. Thế nào là Vô niệm? Tức niệm và vô niệm chẳng hai. Thế nào là Vô sanh? Tức sanh và vô sanh chẳng hai.

Đạt quả Vô sanh chẳng ngại gì sự thọ sanh, được lý Vô niệm cũng chẳng chấp có niệm. Thế nên Tổ Long Thọ chứng được bậc Sơ địa, thấy được lý Vô sanh mà lòng nguyện sanh chưa từng ngừng nghỉ, đạt được lý Vô niệm mà miệng niệm tâm niệm thánh hiệu Di Đà chẳng hề gián đoạn.

Cũng vì lẽ ấy, so với pháp Trì danh, quả thật pháp Quán tưởng và Quán tượng Niệm Phật chẳng hợp với căn cơ cõi Ta bà thời mạt này vì chẳng viên thông Nhĩ căn .

Thoạt nhìn thì thấy kinh Thủ Lăng Nghiêm như chê pháp môn Niệm Phật mà thật ra là tuyên dương đến tột bậc vậy.

Sở dĩ kinh A Di Đà thuộc loại Vô vấn tự thuyết, tức là chẳng đợi người hỏi mà đức Phật tự nói là vì đức Phật nói từ nơi Phật cảnh, nơi lời nói chẳng thể hỏi đến mà tùy theo trí thế gian diễn tả cảnh giới cõi Tây Phương, còn phàm phu chúng ta một mực dùng trí thế gian so đo nơi Phật cảnh, chẳng phải thật mê lầm hay sao?

Thế nên bậc Đại trí Xá Lợi Phất chẳng thể hỏi, chẳng thể đáp.

Chẳng phải ngài chẳng biết mà ngài biết nói chẳng thể đến; nghĩa giống như kinh Duy Ma Cật, ngài Văn Thù hỏi ngài Duy Ma Cật thế nào là pháp môn Bất nhị, ngài Duy Ma Cật lặng thinh không đáp mà ngài Văn Thù khen đó mới thật là vào pháp môn Bất nhị vậy.

Trong Di Đà Sớ Sao, Tổ Liên Trì viết: Có người hỏi rằng niệm Phật vãng sinh nhân ít mà quả nhiều, chẳng hợp với thuyết nhân quả lắm?

Tổ đáp: Vì nhân thánh hiệu A Di Đà vốn một mà là tất cả, lấy một danh hiệu mà dung thông vô tận tánh đức, vượt sự suy lường, quá số suy lường nên chẳng thể nghĩ bàn, do nhân chẳng thể nghĩ bàn nên quả cũng chẳng thể nghĩ bàn.

Giải rằng: Một tiếng niệm Phật được thành Phật là Nhất tâm quy mạng, không thể nào chẳng thành Phật.

Thế nào gọi là Nhất tâm? Vì tâm ta, tâm Phật chẳng hai nên gọi là Nhất tâm. Nếu cố chấp tâm ta, tâm Phật khác nhau thì gọi là hai tâm, chẳng phải nhất tâm.

Sao gọi là Nhất tâm bất loạn? Tổ viết: Vì rằng hễ Nhất tâm thì không bất loạn, hễ loạn thì chẳng nhất tâm.

Vậy nên hãy chắc chắn rằng chúng sinh bản lai là Phật, tâm này với tâm Phật chẳng khác, niệm Phật theo đó gọi là Nhất tâm bất loạn.

Cũng lại có những người chẳng hiểu Lý mà chỉ chuyên chú niệm Phật đến chí thành cực điểm, giống như mặt trời lên cao làm tan băng giá, vọng tâm tiêu trừ, chân tâm hiện tiền cũng đạt được Nhất tâm bất loạn. Đó là chuyên Sự niệm mà thầm thông Phật trí vậy.

Lại nữa, Nhất tâm tức tâm ta tâm Phật đồng thể chẳng hai, cũng là pháp Thiền đốn ngộ trực nhận Bản tâm. 10 niệm vãng sinh gom đủ Tín, Nguyện Hạnh vào một niệm ắt vãng sinh.

Vậy nên Nhất tâm bất loạn 10 niệm vãng sinh dung thông cả Thiền lẫn Tịnh, nhiếp thu cả Sự lẫn Lý trọn chẳng bỏ sót; xét Lý thì sâu đến cùng tột, về Sự rộng độ khắp mười phương.

Như vậy là Chắc chắn vãng sinh, phù hợp với Bản nguyện của Phật A Di Đà. Ta nguyện đến, Phật nguyện rước, cũng chẳng hề rời một niệm tâm, Sự khế hợp Lý, Lý dung thông Sự.

Sự vãng sinh còn phải nghi ngờ gì nữa?

Ngài pháp sư Trung Phong nói rằng: Pháp Thiền là pháp Thiền trong Tịnh độ, pháp Tịnh độ là pháp Tịnh độ trong Thiền.

Hay thay lời nói ấy, chí lý thay lời nói ấy.

Vậy nên chấp Thiền bỏ Tịnh giống như kẻ mù,

chấp Tịnh bỏ Thiền giống như người què,

đường về quê nhà còn xa vậy.

Cũng lại có người hỏi rằng: Trong Pháp Bảo Đàn kinh, Tổ Huệ Năng dạy đâu cần phải bỏ đây cầu kia, sao không trực nhận tự tánh thì Duy tâm Tịnh độ, Tự tánh Di Đà hiện tiền?

Đáp rằng: Nên biết rằng thật ra Tịnh độ chân chính đã gồm thâu cả pháp Thiền đốn ngộ như đã nói ở trên, sự hơn kém đã nói khá rõ ràng rồi.

Hơn nữa, phải biết thời bấy giờ phần đông ưa nói lý lẽ, ham lời sáo rỗng chẳng chịu thật tu nên đức Lục Tổ phải thị hiện chẳng biết một chữ nào mà đạt đạo để người tu tỉnh ngộ bỏ hý luận bên ngoài mà quay lại bên trong nhận lấy Tự tâm Bản tánh. Cũng nhờ vậy mà chân Tịnh độ hiện tiền, pháp môn Tịnh độ cũng trở lại được chân giá trị của mình.

Vả chăng, ngay lời của Đẳng giác Bồ tát Di Lặc bổ xứ thành Phật còn bị ngài Duy Ma Cật bác, thì sao chẳng chịu tin lời thành thật của tất cả chư Phật mười phương mà chấp lời của một vị Tổ ư?

Lại có người chấp nơi ngôn từ hoa mỹ nói thế giới Hoa Tạng mới là thật, Tây Phương chỉ là quyền biến mà nói, Hoa Tạng to, Tây Phương nhỏ; tựu chung do những lý sau:

Hoa Tạng là Sự sự vô ngại pháp giới, sự lý vô ngại pháp giới duy ở kinh Hoa Nghiêm chứ chẳng có ở nơi kinh luận nào khác.

Hoa Tạng diễn tả: trong mảy vi trần đủ cả mười phương pháp giới huy hoàng vô tận cho đến mỗi vật hữu hình và vô hình đều diễn nói pháp âm mầu nhiệm, chẳng cần ra khỏi chốn “Tịch diệt đạo tràng” mà đi khắp pháp giới.

Nơi thế giới Hoa Tạng có đức Phật Lô Xá Na thuyết pháp và có đức Phổ Hiền và Văn Thù kề bên .v.v..

Do đó, Hoa Tạng thù thắng, nhiệm mầu hơn Tây Phương.

Nay tôi xin dẫn lời Tổ Vân Thê và thêm chút hiểu biết kém cỏi để biện bạch.

Thứ nhất, vì cõi Hoa Tạng do nơi Thật tướng diễn tả ngay khi đức Thế Tôn thành đạo nên các bậc Thánh đức Thanh văn như ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên,..không lãnh hội nổi như mù như điếc, cho đến cả bậc Tích hạnh Bồ tát cũng là phơi mang, không được dự phần.

Nay cõi Tây Phương cũng chính nơi Thật tướng, đức Thế Tôn đại từ bi thương xót chúng sinh si mê, tùy theo trí thế gian mà diễn tả nên muôn loài lãnh ngộ được mà reo mừng nhảy múa hàm ơn, đây mới được gọi là giác hạnh viên mãn của Phật vậy.

Chính vì thế Tây Phương lại có phần thù thắng hơn Hoa tạng ở sự độ sanh.

Lại nữa, cõi Tây Phương suy xét sâu xa cũng là sự sự vô ngại, sự lý vô ngại, sự xứng lý, lý hợp sự, một cũng lại là tất cả, tất cả cũng lại là một, trong khoảng khảy móng tay cúng dường khắp mười phương chư Phật chẳng hề ngăn ngại…

Ngài Thanh Lương nói: Đức Phật A Di Đà tức là đức Bổn sư Lô Xá Na vậy.

Ở nơi kinh Duy Ma Cật đức Phật dạy Bồ tát Bảo Tích hạnh Tịnh độ cõi Phật mà suy xét thì chẳng phải cõi Tây Phương là sự kết tinh tinh hoa của tất cả cõi Phật, hay nói riêng thì Tây Phương chính là kết tinh của thế giới Hoa tạng, là kết quả của Tỳ kheo Pháp Tạng mất đến năm kiếp tư duy phát ra đại nguyện thù thắng. Vậy nên thật không sai chút nào khi nói Tây Phương Cực Lạc chính là Diệu cực Pháp Thân của tất cả chư Phật. Vì sao? Bởi Phật không có hai Pháp Thân.

Lại nữa, kinh Duy Ma Cật, phẩm Pháp môn Không thể nghĩ bàn, có nói: Bồ tát trụ ở phép giải thoát không thể nghĩ bàn, dùng việc nghiêm sức tất cả cõi Phật tập trung tại một chỗ rồi chỉ cho chúng sinh xem, đó là nghĩa Diệu cực Pháp thân; chẳng những xem lại được thụ hưởng, đó là nghĩa Tha thụ dụng Báo thân.

Thế nên đức Phổ Hiền dùng 10 đại nguyện vương dẫn dắt tất cả chúng sinh Hoa Tạng đồng cầu sanh Tịnh độ. Nên cũng nói tạng sâu mầu của Hoa Nghiêm hoàn toàn nằm trong kinh A Di Đà.

Kinh Pháp Hoa nói: Đức Thế Tôn vì một Đại sự nhân duyên mà xuất hiện ở đời.

Ngài Từ Ân pháp sư nói: Tướng lưỡi của Phật chứng việc nhỏ thời lưỡi Phật có thể che kín mặt, nay kinh A Di Đà nói chư Phật hiện tướng lưỡi dài rộng che kín cả tam thiên đại thiên thế giới nơi mỗi cõi Phật mà xưng tán kinh này, đó chẳng phải là chứng việc lớn chưa từng có ư, cũng chính là Đại sự nhân duyên mà kinh Pháp Hoa đã nói ư?

{Trong kinh A Di Đà, đức Thế tôn mở bày thế giới Tây Phương Cực Lạc, tức là Khai Tri kiến Phật. “Ta thấy điều lợi này mà nói” dẫn dắt chúng sinh Tin sâu, Nguyện thiết là Ngộ Tri kiến Phật. Nhập Tri kiến Phật là vãng sinh Cực Lạc}

Tổ Thiện Đạo cũng nói: “Sở dĩ đức Thích Ca ra đời nhằm nói Di Đà hải nguyện”.

Kinh Pháp Hoa đủ bảy quyển muôn bài kệ, ngài Trí Giả Đại sư nói có thể tóm gọn trong bốn chữ: Diệu Pháp Liên Hoa.

Liên Hoa là hoa sen, nhân quả đồng thời, chẳng phải nhân trước quả sau nên gọi là Diệu. Niệm Phật là nhân, thành Phật là quả; chẳng phải nhân trước quả sau mà ngay mỗi niệm Phật chính là Phật, vì thế nên gọi là Diệu.

Bồ tát đem Diệu pháp Tín Nguyện Trì danh cúng dường tất cả chúng sinh khắp mười phương pháp giới, ngay khi cho cũng lại nhận được đầy đủ sức vô úy của Phật, nên gọi là Diệu Pháp Liên Hoa.

Ở trong biển Tịnh độ tùy ý lấy một pháp cứu độ chúng sinh, nên cũng gọi là Diệu Pháp Liên Hoa. Thế nên đức Quán Thế Âm, hằng thuận chúng sinh, tùy ý nơi 32 ứng hóa thân mà năng độ thoát tất cả chúng sinh, đó mới thật là Diệu Pháp Liên Hoa.

Tổ Ngẫu Ích nói: Cốt lõi kinh Pháp Hoa cũng nằm trong kinh này, tức kinh A Di Đà vậy.

Chương 6. MA SỰ VÀ CÁC CHƯỚNG NGẠI VÃNG SINH

1. Các chướng ngại vãng sinh

Vẫn biết Chánh Tín, Chánh Nguyện tất vãng sinh Cực Lạc nhưng phàm phu chúng ta thời Mạt pháp nghiệp dày chướng nặng, tà sư tà kiến trùng trùng thật khó phân biệt chánh tà, sẽ gây chướng ngại lớn cho đại sự vãng sinh.

Cần biết rằng Tín tâm chẳng từ nơi người khác mà có được, cùng lắm các thiện tri thức hay minh sư chỉ gieo được hạt giống niềm tin vào tâm mình mà thôi.

Niềm tin đó phải được nuôi dưỡng, phát triển và thông qua thử thách trải nghiệm mà vẫn vững vàng mới có thể gọi là Chánh Tín.

Trong tập Di Đà yếu giải của tổ Ngẫu Ích cũng chỉ rõ:

“Có người hỏi: Tâm này tương ứng với tâm Phật thì đối với người dốc lòng niệm Phật còn có thể chứ đối với người chưa chịu niệm thì làm sao tương ứng cho được?

Đáp: Ôi chao! Chính vì những kẻ chưa chịu dốc lòng niệm Phật mà tôi nói những lời ấy, nhằm làm cho các ông chịu bằng lòng niệm Phật hòng được tương ứng. Cái tâm Chánh tín của các ông chưa sanh khởi, nó giống như miếng da trâu tươi, không thể xếp hay bẻ gập lại được (ý nói chẳng làm được việc gì)”.

Lại trong Niệm Phật tông yếu của ngài Pháp Nhiên thượng nhân có viết:

“Có một vị sơn tăng hỏi: Tôi học pháp môn Tịnh độ đã lâu, hiểu được đôi chút nhưng chưa phát khởi được Tín tâm. Phải dùng phương tiện gì thành lập tín tâm?

Đáp: Hãy cầu nguyện Tam bảo gia bị. Vị tăng tuân theo lời dạy. Một hôm, ông ấy đến chùa Đại Đông, gặp lúc đang gác cây đòn dông lên chánh điện, ông bèn đứng xem, bỗng nhiên tín tâm phát khởi rồi tự nhủ: Nếu không có sự tính toán khéo léo của người thợ làm sao cây đòn dông lên đó được! Người thợ bình thường còn vậy huống gì sức thiện xảo không thể nghĩ bàn của Như Lai! Ta có chí nguyện vãng sinh, Phật có lời thề tiếp dẫn. Vãng sinh Tịnh độ tất nhiên tương ứng!

Từ đó không còn tâm nghi ngờ. Ba năm sau được vãng sinh, điềm lành rất nhiều. Bởi thế nên thường cầu nguyện Tam Bảo gia bị.”

Thành lập, nuôi dưỡng Tín tâm; hãy nên lấy phiền não khổ đau làm phân bón, lời Phật dạy nơi kinh điển, lời khai thị chỉ dạy của các tổ sư, thiện tri thức làm ánh sáng, các đồng tu làm hàng rào bảo vệ, chính mình thì lấy Thánh hiệu A Di Đà Phật làm vị nước cam lộ chăm tưới mầm cây ấy; khi ấy niềm tin ấy mới có thể sinh trưởng phát triển vững vàng trước gió bão tà kiến tà tri lồng lộng. Chỉ khi đó niềm tin đó mới gọi là Chánh tín, mới có thể sinh muôn công đức mà hình thành quả Như Lai.

Thế mới thấy pháp môn Niệm Phật nói dễ thì không gì dễ bằng, chỉ 10 niệm ắt vãng sinh; nói khó cũng không gì khó hơn là sinh được Chánh tín, Chánh nguyện.

Vì muốn cho tất cả chúng sinh phát sinh Tín tâm đối vơi pháp môn này mà thời nào đời nào cũng luôn có người hoặc làm Luận, làm Giải, hoặc làm lời Sớ sao, hoặc làm Văn làm Tập, làm Lục, làm Kệ, làm Phú, làm Thơ, làm Truyện nhẫn đến từng nơi sưu tầm các việc vãng sinh của chúng sinh để làm chứng cứ; số ấy không thể kể hết được vậy.

Trong quyển Thế giới Tây Phương Cực Lạc du ký, ngài Pháp sư Khoan Tịnh được Bồ tát Quán Thế Âm dẫn đi thăm quan Thế giới Tây Phương và ngài kể lại tình hình ở đó. Ngài thấy ao sen Hạ Phẩm có những hoa sen úa héo ảm đạm bèn hỏi Bồ tát Quán Thế Âm tại sao lại như vậy. Bồ tát trả lời: Một đoá sen tàn héo, là bởi có người thoạt tin Phật, niệm Phật tinh tấn lắm, nên đã gieo vào ao sen mầm hoa cũng sáng đẹp hào quang, nhưng siêng năng ít lâu đã uể oải, giải đãi tâm ban đầu, không những không niệm Phật mà còn gây tạo nghiệp thập ác, do đó thiện căn tuy nó thành hoa sen nhưng cũng úa héo gẫy tàn đi. Ông xem đây, hoa sen kia là của một ông người Giang Tây, lúc đầu quy y niệm Phật, sau đó được ra làm quan, chẳng niệm Phật nữa mà còn mở sòng chứa làm chuyện thập ác bị chính phủ phán xử tử hình, cho nên hoa sen bị héo gẫy luôn. Còn một đoá hoa này nữa, người này quy y niệm Phật được 3 năm, hoa nọ coi khá khá rồi gặp dịp làm ăn lớn, cật lực hốt của phi nghĩa, cuối cùng bị phá sản, hết đường tính kế, tự sát chết, phạm thập ác nên không được vãng sinh, mới khiến hoa sen của ông ấy tàn lụi vậy đó.

Pháp sư lại hỏi Bồ tát: Thưa Bồ tát, thường thường Lương pháp sư tại tiền nói với con là niệm một câu Phật hiệu diệt hằng sa tội, người ấy niệm Phật những 3 năm mà sao chẳng có công quả gì vậy?

Bồ tát bảo: Câu ấy chỉ cho kẻ nương đời tạo ác, sau khi nghe thiện tri thức khuyên hồi tâm hướng thiện, sám hối lỗi xưa, thề không phạm nữa, thật lòng bỏ ác làm lành, niệm Phật một câu các tội tiêu sạch, nếu còn tiếp tục không ngừng niệm Phật khi chết vãng sinh lạc quốc, dẫu đới nghiệp vãng sinh cũng quyết không thoái chuyển, sau rốt thành Phật.

Nhưng cũng có những kẻ trên môi niệm Phật lòng như rắn rết, âm thầm hại người, tác ác gian phi, ấy vẫn là hành vi thập ác không vãng sinh được, chỉ có gieo được chút ít căn lành, thế nhưng nếu người ấy một mai thức tỉnh, sửa sai làm lành, niệm Phật sám hối hoa sen ấy lại vươn lên sáng đẹp như thường.

Vậy nên nếu dùng tà tâm mà niệm Phật tu Chánh pháp thì Chánh cũng biến thành Tà, chỉ gieo được chút duyên giải thoát cho đời lâu xa về sau mà thôi.

Thế nào là Tà tâm? Chúng ma ưa thích sinh tử, ngũ dục. Dùng tâm mong cầu vật chất, cho đến mong được thần thông để hơn người, được người phụng sự cúng dường mà chẳng mong muốn giải thoát sinh tử thì đó đều là tâm Ma cả. Dùng tâm ấy mà niệm Phật tức là mời Ma vào nhà, chẳng những không được vãng sinh mà mang cả tai hoạ cho gia đình nữa. Cũng lại vì dùng Tà tâm niệm Phật nên chẳng được thụ hưởng pháp vị giải thoát nên dễ sinh tâm giải đãi, chán nản vậy.

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Thế tôn dạy rõ ràng: “A Nan, nếu trong lúc tu nhân, đem cái tâm sinh diệt làm cái nhân tu hành, để cầu được quả bất sinh bất diệt của Phật thừa, thì thật không thể được.”

Do nghĩa này, nếu đem tà tâm mà niệm Phật quyết không thể vãng sinh. Nhưng nếu một mai tỉnh thức, hồi Tà hướng Chánh; sám hối lỗi lầm xưa, lấy Chánh tín niệm Phật cũng nhất định vãng sinh.

Ở đây cũng cần phải nói thêm rằng Tà tín là so với Chánh tín mà nói. Như kinh Hoa Nghiêm nói: Thà ở nơi ác thú, địa ngục để mà được nghe danh hiệu Phật, chứ chẳng nên ở cõi Nhân Thiên mà chẳng được nghe. Nên nói: không lấy cõi Nhân Thiên làm Thiện mà lấy sự được nghe danh hiệu Phật mới thật là Thiện. Vì vậy, dù có là Tà tín niệm Phật so với người chẳng niệm Phật vẫn còn là bậc Thiện nhân.

Người đời mê mờ chẳng có Chánh kiến, luôn nghĩ rằng hạnh phúc khác với khổ đau, cứ mong tránh né khổ đau để tìm hạnh phúc. Chẳng biết rằng hạnh phúc với khổ đau như sóng với nước chẳng thể tách lìa; giống như người chạy Đông chạy Tây trốn cái bóng của chính mình, vào nơi bóng râm tưởng là hết được bóng, đâu biết chẳng thể rời. Hãy nên ngồi lại, dứt bỏ vọng tưởng, ngẫm lời Phật dạy, quán Tứ niệm xứ, phát sinh Tín, Nguyện mà trở về với Bản tâm tự tánh, sao lại quên đi nước trăm biển mà nhận lầm lấy cái bọt nổi là mình.

Ban đầu tin Phật đó chỉ là mầm giống chứ chẳng phải là cây, nếu chẳng biết tự phản tỉnh chăm chăm chút chút mầm cây đó để nó chết héo lại phỉ báng Chánh pháp cho rằng toàn là mê tín, chẳng thực tế, mà gây nghiệp Vô gián địa ngục tự làm tự chịu chẳng đáng thương xót lắm sao?

Ngài Pháp Nhiên thượng nhân nói: Hễ có tín tâm tội lớn cũng diệt, không có tín tâm tội nhỏ vẫn còn. Nên thẹn mình chưa đủ tín tâm.

Cũng lại có người Tín tâm đã được nuôi dưỡng phát triển vững vàng, nhưng lại vẫn chưa đủ lớn mạnh để sinh Chánh nguyện.

Đó thường là những người dù tin sâu Phật pháp nhưng tình nhiễm nặng nề, chấp tướng và phân biệt, nên chẳng thể dũng mãnh phát đại nguyện vãng sinh.

Thế nào là tình nhiễm nặng nề? Đó là thấy con ta không nỡ bỏ, gia đình, bạn bè ta chẳng nỡ xa...Nên biết ta còn chẳng thật có thì ai là con ta, gia đình bạn bè ta?

Thế nào là chấp tướng và phân biệt? Đó là chấp cõi Ta bà và cõi Cực Lạc vẫn là trong vòng đối đãi, chẳng rõ Phật tánh, chẳng tin Phật trí, phân biệt rằng cõi Cực Lạc chẳng có thú vui ngũ dục, chẳng có sự đoàn tụ gia đình,... nên chẳng cầu vãng sinh.

Những người niệm Phật dù có tin sâu mà chẳng đủ sức nguyện thiết cùng lắm là tới được Biên địa, Nghi thành của cõi Tây Phương; đó là tự mình làm chướng ngại mình, nên mới ra nông nỗi này.

Phẩm 41 Hoặc tận kiến Phật, kinh Vô Lượng Thọ đức Thế tôn từ bi chỉ dạy rất rõ ràng; cớ sao chẳng chịu tự suy xét, tự hối trách để được lên thẳng chín phẩm sen vàng?

Tổ Ngẫu Ích nói rất rõ ràng: Được vãng sinh hay không hoàn toàn do có Tín Nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp do Trì danh sâu hay cạn vậy.

Do đó chướng ngại vãng sinh hoàn toàn là do chẳng đủ Tín, Nguyện mà thôi!

2. Ma sự người niệm Phật

Thật ra chữ Ma nguyên nghĩa là chướng ngại, một niệm tâm vốn chẳng ở trong, chẳng ở ngoài, chẳng ở khoảng giữa; nay tạm chia phần Ma sự là sự chướng ngại vãng sinh do bên ngoài tác động để dễ nhận biết vậy thôi.

Ma vốn có bốn thứ: Thiên ma, Tử ma, Phiền não ma và Ngũ ấm ma.

Thiên ma là chỉ Ma Ba Tuần, vua cung trời thứ 6 Tha hoá Tự tại, do vì hưởng ngũ dục tối thắng tột bậc nên chẳng muốn ai thoát khỏi tầm kiểm soát của mình; do đó khi người tu đạt trình độ nhất định, đe doạ đến cung ma sẽ bị Thiên ma và thuộc hạ của ma quấy rối hòng phá hoại huệ mạng người tu.

Ngũ ấm ma: Ngũ ấm tức là Sắc ấm (xác thân vật chất), Thọ ấm (cảm thụ), Tưởng ấm (sự tưởng tượng), Hành ấm (suy nghĩ) và Thức ấm (phân biệt).

Tổ Ngẫu Ích nói: Chúng sinh là kiến giải sai lầm cảm vời ngũ ấm thô tệ. Kiến giải sai lầm chính là ma, nên ngũ ấm do nó cảm vời chính là nhà của nó nên gọi là Ngũ ấm ma. Ngũ ấm ma xuất hiện do tâm tham đắm, tâm chấp trước bên trong cảm vời Thiên ma và thuộc hạ ma bên ngoài mà thành. Nhưng cũng phải tu đến mức khá cao mới vào phạm vi của Ngũ ấm ma.

Phiền não ma, tức là khi tu các phiền não cứ kéo lên không thể định tâm mà tu tập gây chướng ngại cho người tu.

Cuối cùng là Tử ma tức là cái chết, vì vốn đang tu hành tốt đẹp thì Tử ma ập đến, kiếp sau lại phải tu lại nên là sự chướng ngại rất lớn cho đường tu vậy.

Trước khi tu tập thì chẳng thấy có gì, nay lại thấy có quá nhiều khó khăn, ắt hẳn khiến người học Phật không khỏi băn khoăn do dự, không biết tu có găp phải ma sự không, nếu gặp thì biết ứng phó thế nào đây?

Quán kinh đã nói rõ: Chúng sinh phát tâm niệm Phật luôn được quang minh của Phật A Di Đà âm thầm nhiếp thu chẳng rời, lại được 25 đại Bồ tát vây xung quanh bảo vệ, hình dung ra thì giống như vòng kim cang của Tôn Ngộ Không bảo vệ Đường Tam Tạng khỏi Bạch Cốt Tinh vậy. Cũng lại giống như dao cắt nước, gió thổi ánh sáng, ma sự chẳng thể đến.

Chỉ trừ khi dùng Tà tâm, tà tín, tà nguyện mà niệm Phật, đó là tự thoát ra khỏi vòng bảo vệ, mời Phật và Bồ tát đi chỗ khác mà rước Ma vào nhà vậy.

Do vậy, khi gặp chướng ngại nên suy xét kỹ, khởi lên Chánh kiến dẹp trừ Tà niệm thì chướng ngại tự tiêu.

Nói chung người tu nếu chẳng tinh tấn dũng mãnh, tu nửa vời thì chẳng nói làm gì.

Vì chẳng ảnh hưởng đến Ma nên Ma chẳng cần phá.

Ở đây bàn đến những người thực sự dụng công, quyết định giải thoát khỏi tam giới sinh tử.

Nếu tu các pháp môn thông thường sẽ theo thứ lớp đối đầu với Phiền não ma trước.

Phiền não ma được chế ngự, mới có thể đến phạm vi của Ngũ ấm ma.

Trong phạm vi của ba ấm đầu tiên là Sắc, Thọ, Tưởng; là phạm vi trong cõi Dục giới, tức là trong phạm vi của Thiên ma. Nếu một chút khởi tâm tham đắm, Ma có thể nhân cơ hội phá hoại.

Đến phạm vi của Hành và Thức uẩn là vượt qua cõi của Thiên ma, ma chẳng phá được; nhưng nếu không đủ trí huệ quán xét sẽ rơi vào kiến chấp ngoại đạo, lầm lạc Bổn tánh Bồ đề.

Tiếp đến là Tử ma. Đây mới là chướng ngại lớn nhất của người tu vì chẳng ai tránh được cái chết. Chỉ khi nào đạt được Thánh quả, tối thiểu là Sơ quả mới có thể được coi là thắng được Tử ma. Ngay cả các thiền sư đại triệt đại ngộ mà chưa đoạn được hết hoặc, dù là sinh tử tự tại cũng mới chỉ là tạm hàng phục được Tử ma mà thôi.    Giống như trường hợp nhà thơ nổi tiếng Tô Đông Pha, kiếp trước cũng là một thiền sư đại ngộ, sinh tử tự tại; mang đến thân này vẫn lại nằm trong vòng sinh tử, chẳng hề được chút tự tại nào.

Chưa đạt được đến Thánh quả, dù có sáng suốt nhận ra các ma chướng, một khi Tử ma ập đến cũng đành xuôi tay theo dòng nghiệp chuyển.

Đối phó với bốn thứ ma, người tu Tịnh nghiệp lại có phần khác biệt và thù thắng hơn.

Thứ ma tưởng chừng không cách gì đối phó được là Tử ma lại được người tu Tịnh nghiệp thắng trước tiên.

Sao lại nói như vậy? Bởi đới nghiệp vãng sinh nên chẳng cần để ý đến Phiền não ma và Ngũ ấm ma. Đó là điều khác biệt và thù thắng thứ nhất.

Sao có thể thắng được Tử ma? Người tu Tịnh độ, tay trái cầm đuốc Bát nhã, tay phải cầm bảo kiếm Vô thượng A Di Đà, nương theo sức Bổn nguyện của Phật, dũng mãnh dứt trừ lưới nghi, đối với Đại sự vãng sinh chẳng còn do dự là thắng được Tử ma. Đó là sự khác biệt và thù thắng thứ hai.

Tại sao vậy? Vì khi ấy đã chắc chắn vãng sinh nơi Cực Lạc, chẳng cần phải đợi hết báo thân ở cõi Ta bà này, nên đối với cái chết chẳng còn sợ hãi.

Giống như anh học trò nghèo thi đỗ Tiến sĩ, chờ đợi cái ngày đại sự bỏ cái áo rách mà mặc quan phục vào; cũng lại như một vị Thái tử chờ ngày Phụ vương cho chính thức lên ngôi, ai chẳng háo hức?

Nếu chẳng nương vào Đại nguyện độ sanh của Phật Di Đà sao lại có thể được như vậy? Ôi, ân đức này há có thể báo đáp được ư? Hãy nên vui mừng lớn, râu tóc dựng đứng, mắt lệ nhạt nhoà, tiếng hét chấn động tam thiên đại thiên thế giới mà tiếp nhận pháp môn này, đồng thời hoằng dương xưng tán đến khắp mọi chúng sinh, lưu thông chẳng dứt mới mong báo đáp được một trong muôn ức phần ân sâu vậy!

Mới hay đúng như kinh Duy Ma Cật nói, sinh tử thật ra chỉ là pháp hư dối, tử là tướng bại hoại, tức hoại cái thân đang mang; sinh là tướng nối tiếp thọ nhận lấy thân mới; mới hay sanh mà thật vô sanh, vô sanh mà ngại chi sanh.

Tử ma như tướng, các thứ ma khác như quân, tướng đã bại thì quân ắt sẽ dần tự tan vỡ.

Đến đây lại có người hỏi, nếu đã chắc được vãng sinh mà tha hồ tạo nghiệp cũng vẫn được vãng sinh ư?

Đáp: Nếu đã chắc chắn vãng sinh sẽ không hề có chuyện tha hồ tạo nghiệp. Vì sao? Vì tâm ta, tâm Phật thầm tương thông vậy; lại nữa chắc chắn vãng sinh cũng là đạt đến lý Niệm Phật không gián đoạn. Dù đôi khi vọng niệm che lấp nhưng thật ra tâm chưa từng rời Thánh hiệu. Việc vãng sinh xin đừng nghi!

Vượt qua được Tử ma, dũng mãnh tấn tu ở giai đoạn này mới có thể nên hành khổ hạnh. Tổ Ngẫu Ích cũng nói: “Khi tinh tấn tu các pháp đạo, có thể khéo hiểu rõ, chẳng lầm lạc hành các khổ hạnh vô ích, thường dốc lòng siêng năng hành pháp chân thật thì gọi là Tinh tấn giác phần”.

Hành khổ hạnh tức là khéo hiểu rõ ít muốn biết đủ. Nếu chưa vượt qua được Tử ma mà hành khổ hạnh, nếu chẳng tự lượng sức mình, chẳng những không đạt được lợi ích mà còn dẫn đến thối tâm chuyển chí, hay gục ngã trên đường tu.

Lại nữa, dù đã chắn chắn vãng sinh, cũng giống như cái kén vừa nở, hãy nên dũng mãnh, siêng năng tu tập mới có thể góp chút công sức làm lợi ích những người hữu duyên, chẳng phụ lòng chư Phật và tánh linh của mình vậy.

Lời kết

Bồ tát đối với vạn pháp chớ nên khởi tâm phân biệt, đó là Tự thụ dụng; lại vì lợi ích hết thảy chúng sinh mà phân biệt thiện ác, Phật pháp và ngoại đạo, trong Phật pháp lại phân biệt ra Tiểu thừa, Đại thừa, Phật thừa nhằm hướng thẳng hết thảy chúng sinh đến thẳng Phật thừa, đó là Tha thụ dụng.

Lại nữa, ở nơi tự tánh, mỗi mỗi chúng sinh không gì chẳng phải chính mình, nên ở nơi quả vị Phật, một thành thì hết thảy thành, khi đã thành Phật thì tức là hết thảy chúng sinh là đã thành Phật. Đó là Tự thụ dụng.

Lại ở nơi chúng sinh mà nói: “Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”, đó là Tha thụ dụng.

Hỏi: Kinh Phật nói: Tất cả pháp vốn bình đẳng. Tại sao cứ mãi khen ngợi pháp môn Niệm Phật là Diệu pháp, chẳng phải là trái ý Phật hay sao?

Đáp: Vạn pháp vốn bình đẳng, lại do căn cơ chúng sinh có sai khác nên mới nói là Diệu pháp.

Vì thích hợp cả ba căn nên gọi là Diệu.

Vì bao trùm ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai nên gọi là Diệu.

Vì chúng sinh trong khắp chín pháp giới đều có phần nên gọi là Diệu.

Vì dứt bặt đối đãi một cách viên dung nên gọi là Diệu.

Từ nơi cửa pháp môn này đến thẳng Phật đạo nên gọi là Diệu.

Hơn nữa, vì phân biệt cũng là Không nên Diệu cũng là Không, tánh của tất cả pháp là Không nên chẳng chấp trước nơi pháp, đó gọi là Diệu.

Lại nữa, dù có bày biện chút lời thừa thãi ngợi khen tán thán pháp môn được tất cả chư Phật mười phương số như vi trần xưng tán này thì cũng như bỏ một giọt nước vào nơi biển cả, chẳng thể nói hết lời, thật hết sức hổ thẹn vậy.

Vậy nên có thể tự độ cũng chính là lợi ích hết thảy chúng sinh, một thành thì hết thảy đều thành, chẳng thể có ở nơi kinh luận nào khác, tướng trạng này cũng chẳng thể có ở nơi cõi Phật nào khác, pháp môn này ngang thì bao trùm tứ giáo dọc thì thấu triệt năm thời, dẫu sống lâu cả kiếp cũng chẳng thể nào diễn nói hết được.

Nếu còn mang tâm phân biệt Thiền, Tịnh, Mật... thì như đại sư Đường Tam Tạng đã nói, chẳng thể phân biệt được Thức với Căn, phước đức với thiện căn, nói gì đến hiểu được Tánh là gì, Phật là gì, thế nào là Tự thụ dụng, Tha thụ dụng, mải mê quanh quẩn nhận bóng làm thân, nhận giả làm thật, vốn chẳng khổ đau mà mãi mãi cam chịu muôn vàn khổ đau.

Cúi xin hết thảy hữư tình hữu duyên hãy nên suy nghĩ sâu xa, chớ nên hoài nghi mà mất đi lợi ích lớn.

Trong quá trình viết do kiến thức nông cạn, hiểu biết kém cỏi, tâm trí si ám, cuồng vọng; ngưỡng mong Tam bảo từ bi gia hộ, chứng minh; các thiện tri thức chỉ bảo, tuỳ hỷ.

Đệ tử Pháp Đức kính bút.

A DI ĐÀ PHẬT

Viết xong hè Quý Tỵ 2013.

Phụ chú: So sánh, lựa chọn nơi các pháp tu viên thông.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm, đức Thế Tôn dạy rõ ràng rằng: “Các ông quyết định phát tâm Bồ Đề, đối với pháp Tam ma đề, chư Phật Như Lai không sinh mệt mỏi, thì trước hết, nên rõ hai nghĩa quyết định, trong lúc bắt đầu phát tâm tự giác”.

“Thế nào là hai nghĩa quyết định trong lúc mới phát tâm?

A Nan, nghĩa thứ nhất là: …Nên xét kỹ chỗ phát tâm trong lúc tu nhân với chỗ giác ngộ trong lúc chứng quả là đồng hay khác? A Nan, nếu trong lúc tu nhân, đem cái tâm sinh diệt, để cầu cho được cái quả bất sinh bất diệt của Phật thừa thì thật không thể được.

Nghĩa thứ hai là: các ông quyết muốn phát tâm Bồ Đề, nơi thừa Bồ tát, sinh lòng đại dũng mãnh, quyết định rời bỏ các tướng hữu vi, thì nên xét rõ cội gốc phiền não, những cái vô minh phát nghiệp và nhuận sinh vô thỉ đó, là ai làm ai chịu? A Nan, ông tu đạo Bồ Đề, nếu không suy xét cội gốc phiền não, thì không thể biết những căn trần hư vọng, có điên đảo ở chỗ nào; chỗ điên đảo còn không biết, thì làm sao uốn dẹp được nó và chứng quả Như Lai?”

Ngài A Nan thỉnh cầu Phật chính nơi thân tâm, chỉ cho biết do đâu vọng tưởng sinh ra, và giải trừ bằng cách nào.

Lúc bấy giờ, ngài A Nan và đại chúng đều nghe các đức Như Lai mười phương, số như vi trần, tuy khác miệng nhưng đồng một lời, chỉ dạy rằng: “Hay thay A Nan! Ông muốn biết cái căn bản vô minh là cái đầu nút, khiến ông phải sinh tử luân hồi, thì nó chính là sáu căn của ông, chứ không phải vật gì khác; ông lại muốn biết tính Vô thượng Bồ Đề, khiến ông chóng chứng đạo quả an vui, giải thoát, vắng lặng, diệu thường, thì cũng chính là sáu căn của ông, chứ không phải vật gì khác.”

Liền đó, đức Thế Tôn chỉ định 25 Đại Bồ tát và Đại A la hán trình bày pháp tu chứng viên thông trong đủ mười tám giới (sáu trần, sáu căn và sáu thức) và bảy đại (địa đại, hỏa đại, phong đại, thủy đại, không đại, thức đại và kiến đại). Pháp môn tu học của Phật bao la được mệnh danh là tám vạn bốn ngàn pháp môn, nhưng tựu chung để viên thông vào Chân như diệu tính thì không ra ngoài 25 phép viên thông được nêu trong kinh.

Nay tôi xin dẫn ra 5 phép tu viên thông, được cho là phổ biến hơn cả (đồng tu nào muốn tìm hiểu kỹ hơn thì nên đọc trong kinh Thủ Lăng Nghiêm) để tiện bề suy xét, so sánh mà lựa chọn.

1. Sơ tổ Thiền tông là ngài Maha Ca Diếp viên thông nơi pháp trần, do quán các pháp là rỗng không mà thành tựu quả A la hán.

Ngài Văn thù Sư Lợi nương oai thần Phật, nêu ra nhược điểm như sau:

“Pháp, cũng có tên là nội trần

Nương theo trần tất phải có sở

Năng, sở không viên dung nhập một

Thì làm sao, được tính viên thông?”

Tức là hàng sơ tâm quán về pháp trần, khó bề dung hợp được năng tri và sở tri, dung hợp được quán trí và quán cảnh, vì thế ngài Văn Thù lựa bỏ, cho không thích hợp với căn cơ chúng sinh cõi Ta bà thời mạt.

2. Tôn giả Tu Bồ Đề, được Phật nhận là Giải không đệ nhất, viên thông nơi ý căn.

Có một câu chuyện về tôn giả Tu Bồ Đề thế này:

Có lần, ngài Tu Bồ Đề ngồi yên trên gộp đá, trời Đế Thích rải hoa cúng dường.

- Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Ai rải hoa đó?

-Tôi là Đế Thích mà, hôm nay thấy tôn giả thuyết pháp Bát Nhã rất hay, nên tôi rải hoa cúng dường.

-Tôi có thuyết gì đâu? (Vì pháp Bát Nhã chân không, nên gọi là Vô pháp khả thuyết)

-À! Thế thì tôn giả không nói, thời tôi cũng không nghe.

-Ừ! Vậy mới đúng lý Bát nhã chứ. (Vì không nói, không nghe mới đồng thể chân không vô tướng).

Ngài quán tất cả sự sự vật vật đều không thật có, tức tính giác là Chân không, thành tựu quả A la hán.

Ngài Văn thù Sư Lợi chỉ ra nhược điểm như sau:

“Ý căn xen với các loạn tưởng

Đứng lặng, rốt cuộc không thấy gì

Nếu không thoát được các tưởng niệm

Thì làm sao được tính viên thông?”

Hàng sơ tâm quán về ý căn, thì khó thoát khỏi các vọng tưởng, khi ý sinh ra thì tất cả đều có, khi nhiếp niệm thì tất cả đều không, khó thoát ra được; nên ngài Văn Thù lựa bỏ, cho là không thích hợp.

3. Ngài Di Lặc Bồ tát, tu định Duy thức, viên thông về Thức đại. Ngài quán tất cả cõi Phật độ cùng tột bờ bến hư không, cho đến tịnh uế, có không đều do tâm biến hiện ra, chứng được tính viên thông.

Ngài Văn thù Sư Lợi chỉ ra nhược điểm như sau:

“Nếu quán cái tính của thức đại

Thức sinh diệt, đâu phải thường trụ

Để tâm trong phân biệt hư vọng

Thì làm sao, được tính viên thông?”

Hàng sơ tâm tu Duy thức, thì gặp khó khăn vì thức là sinh diệt, có nhiều phân biệt hư vọng, nên ngài Văn Thù lựa bỏ, cho là không thích hợp.

4. Ngài Đại Thế Chí Bồ tát tu phép Niệm Phật tam muội, viên thông Kiến đại, nhiếp thu cả sáu căn về Diệu chân như tính, tịnh niệm nối tiếp, nhớ Phật tưởng Phật như con nhớ mẹ thì nhất định thấy Phật cách Phật không xa, không cần phương tiện gì mà tâm được viên thông.

Ngài Văn thù Sư Lợi chỉ ra nhược điểm như sau:

“Tất cả các hành đều vô thường

Tưởng niệm vốn trong vòng sinh diệt

Nhân và quả khác nhau như thế

Thì làm sao được tính viên thông?”

Nhưng hàng sơ tâm muốn tu được như vậy thì phải tịnh niệm tiếp nối, niệm niệm giác ngộ, tưởng nhớ đến Phật thì mới thành công. Vậy nên ngài Văn Thù vẫn lựa bỏ, cho là không thích hợp.

Cứ như thế trong 25 phép tu viên thông, ngài Văn Thù chỉ lựa chọn, xưng tán phép tu Nhĩ căn viên thông của ngài Quán Thế Âm Bồ tát:

“Con nay xin bạch đức Thế Tôn

Phật ra đời trong cõi Ta Bà

Trong cõi này, lối dạy chân thật

Thanh tịnh do chỗ nói và nghe

Nay muốn tu chứng Tam ma đề

Thật nên do cái nghe mà vào

Rời cái khổ và được giải thoát

Hay thay cho Ngài Quán Thế Âm

Con nay kính bạch đức Như Lai

Như lời ngài Quán Âm vừa nói:

Ví như, có người trong yên lặng

Chung quanh mười phương đều đánh trống

Thì đồng thời nghe khắp mười nơi

Như thế mới là viên chân thật

Mắt bị ngăn che không thấy được

Thiệt căn, tỷ căn cũng như vậy

Thân căn lúc hợp mới biết xúc

Ý căn phân vân không manh mối

Cách tường, nhĩ căn vẫn nghe tiếng

Dầu xa, dầu gần đều nghe được

Năm căn so sánh thật không bằng

Như thế mới là thông chân thật

Dầu cho, trong lúc đang ngủ mê

Không vì không nghĩ mà không nghe

Tính nghe ra ngoài sự suy nghĩ

Thân, ý không thể so sánh được

A Nan, ông hãy nghe cho chín

Nay tôi nương uy lực của Phật

Tuyên nói phép tam muội chân thật

Chắc như kim cương vương, như huyễn

Không nghĩ bàn, xuất sinh chư Phật

Ông nghe tất cả pháp bí mật

Của chư Phật, số như vi trần

Nếu trước hết không trừ dục lậu

Nghe nhiều, chứa chất thành lỗi lầm

Dùng cái nghe thọ trì Phật pháp

Sao lại không tự nghe cái nghe?

Đây thật là con đường thẳng tiến

Vào Niết Bàn của vi trần Phật

Các đức Như Lai trong quá khứ

Đều viên minh vào pháp môn ấy

Tôi cũng do pháp ấy mà chứng

Không phải chỉ Ngài Quán Thế Âm

Thật như lời đức Phật Thế Tôn

Đã hỏi tôi về các phương tiện

Để cứu giúp, trong đời mạt pháp

Những người cầu pháp xuất thế gian

Thì ngài Quán Âm là hơn cả

Còn tất cả các phương tiện khác

Đều là nhờ uy thần của Phật

Tức nơi sự, rời bỏ trần lao

Không phải phép tu học thường xuyên

Nông hay sâu cũng đồng nghe được…”

Nay pháp Tín Nguyện Trì danh là viên dung pháp Niệm Phật tam muội của ngài Đại Thế Chí, trên căn bản pháp tu Nhĩ căn viên thông của ngài Quán Thế Âm, lại hợp với Đại nguyện tiếp dẫn của Phật Di Đà, tự lực tha lực đều đầy đủ viên mãn. Nơi pháp Niệm Phật tam muội của ngài Đại Thế Chí lựa chọn lấy Chân Tín, Chân Nguyện; nơi pháp tu Nhĩ căn viên thông của ngài Quán Thế Âm chọn lấy Chân Hạnh, nhằm thỏa mãn Nguyện, hòng mau chóng chứng thực Tín.

Phép tu Nhĩ căn viên thông có hai điểm cần lưu ý:

Thứ nhất là nghe tánh nghe. Làm sao để nghe được tánh nghe? Thông thường phàm phu chúng ta đều mê tánh nghe mà chạy theo tiếng, lầm tánh nghe là tiếng; có tiếng là có nghe, không tiếng là không nghe, đồng nhất tánh nghe là tiếng, hết tiếng thì tánh nghe cũng hết. Đâu phải thế? Nay ở nơi pháp Trì danh suy xét kỹ càng, miệng niệm tức có tiếng, tâm niệm thì không tiếng. Vậy sao Thánh hiệu A Di Đà vẫn nghe rành rọt chẳng sót? Đó là nghe tánh nghe của mình vậy.

Thứ hai là làm sao vào được dòng viên thông? Đó là chẳng mê tánh nghe, thường nghe được tánh nghe là vào được dòng viên thông vậy.

Ngày nay là thời đại công nghệ kỹ thuật dễ làm ta hướng ra ngoài trần cảnh mà quên tánh nghe thường trụ, nhưng nếu sử dụng máy bật nhạc niệm A Di Đà Phật liên tục, tâm chuyên chú niệm theo, lại khi ngủ cũng có thể bật máy nghe, chẳng phải do ngủ mà không nghe, xoay tánh nghe trở lại nghe Thánh hiệu thì có thể mau chóng được vào dòng viên thông.

Hoặc nếu tập hợp được một nhóm đồng tu thì có thể thực hành như cách Ngài Quán Thế Âm dạy trong quyển Tây Phương du ký của ngài pháp sư Khoan Tịnh, tức là chia thành hai nhóm; nhóm trước niệm hai câu A Di Đà Phật, nhóm sau mặc niệm lắng nghe, sau đó nhóm sau niệm hai câu, nhóm trước mặc niệm lắng nghe. Tu trì như vậy không mệt nhọc, lại không ngừng niệm, không ngừng nghe tánh nghe, tâm khẩu như nhau. Phật tánh tự nhiên lộ, tính tất sanh định, định tất sanh huệ.

Đó là cách thực hành mau chóng của Tịnh độ Thiền vậy.

{Lý Nhất tâm: Trực nhận bản tâm, dựa theo phép tu Nhĩ căn viên thông vào Chân như diệu tính.}

Thất Bồ đề Phần

Bồ Đề do phiên âm tiêng Phạn Boddhi mà ra. Trung Hoa dịch là Giác đạo, hay đạo quả giác ngộ. Phần là từng phần, từng loại.

Thất Bồ đề Phần là Bảy pháp tu tập tuần tự hướng đến quả đạo Vô thượng Bồ đề, hay là bảy pháp giúp ta thành tựu đạo quả Đại giác. Cũng tên là Thất giác chi, nghĩa là bảy phương tiện đi đến đích giác ngộ.

Thất Bồ đề phần gồm có:

- Trạch pháp: Trạch là lựa chọn, pháp là pháp môn. Trạch pháp là dùng trí tuệ lựa chọn các pháp, khéo phân biệt được pháp hợp căn cơ, chân và ngụy, chẳng lầm pháp hư vọng, vô ích. Đức Phật có dạy: Hãy dùng trí tuệ suy nghiệm, giản trạch các pháp, rồi sẽ tín thọ, thực hành theo.

Đây là bước đi đầu tiên trên con đường đến đích giác ngộ. Cổ nhân nói: Sai một ly, đi một dặm. Một bước đi sai, muôn bước sau cũng sai, nên phải khéo phân biệt, suy xét kỹ càng. Giống như muốn trồng sen thì phải trồng nơi ao bùn, chứ trồng trên nơi cao ráo, dù có khổ công chăm sóc, sen cũng chẳng sống được.

Đức Phật răn rằng: mất thân người này mà muốn trở lại cõi lành giống như đất nơi móng tay, xuống ba đường ác như đất miền đại địa. Nghĩ mà lạnh buốt lòng vậy.

- Tinh tấn: Sau khi đã lựa chọn được pháp môn theo đúng căn cơ nguyện vọng, thì phải tinh tấn, dũng mãnh tiến lên trên bước đường tu tập, không quản khó nhọc, không khiếp sợ, không thối chuyển, không tự mãn, tự cao.

- Hỷ: Tinh tấn tu hành, thành tựu công đức, được nếm pháp vị, tâm sanh hoan hỷ.

- Trừ: Khi đoạn trừ dần phiền não, khéo có thể giác ngộ, trừ cái hư ngụy, vô ích, giữ được thiện căn chân chính.

- Định: Nghĩa là tâm chuyên chú, tập trung vào pháp tu của mình.

- Niệm: Nghĩa là thường ghi nhớ Chánh pháp, thực hành tâm niệm.

- Xả: Là buông bỏ sự chấp trước vào cảnh khi thấy, nghĩ, không vướng bận. Người tu hành nhờ trí sáng suốt, nhận biết Thọ là khổ, nên không nắm giữ cái gì; không trụ trước ở pháp mình đã tu, đã chứng, trái lại luôn luôn xả bỏ những gì mình đã đạt đến để tiến triển trên con đường đi đến giải thoát.

Pháp hành xả này giúp ta thành tựu sự siêu thoát ấy.

Ngưỡng mong Tam Bảo từ bị gia hộ, ánh Từ quang sáng suốt soi đường cho phàm phu chúng con đời mạt pháp chướng nặng nghiệp dày, vô minh tăm tối khéo chọn đúng con đường thẳng đến Chân lý, đến quả Diệu giác mà chư Phật đã từng đi qua.

Nam mô A Di Đà Phật

Lưu ý : Nguoiphattu.com sẽ biên tập ý kiến của quý vị trước khi xuất bản. Người Phật tử hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và sẽ không đăng những ý kiến cực đoan. Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo sẽ không được đăng. Cám ơn sự đóng góp và quan tâm của quý vị.
Xem tin tức theo ngày:

Tin tức liên quan