Giáo dục

Cần quan tâm giáo dục hướng ra xã hội cho Phật giáo Việt Nam

nguoiphattu.com - Có thể giáo dục Phật giáo hướng ra xã hội sẽ chuyển động sau 2-3 năm hay 5, 10 năm gì đó, nhưng lúc đó đã muộn, thời gian không ủng hộ chúng ta.

Cải đạo trong trường học là hoạt động có tổ chức, chỉ đạo chặt chẽ

Phật giáo cần nổ lực vượt bậc trong giáo dục mầm non

HT Thiện Tâm: Việt Nam Quốc tự nên chuẩn bị cho giáo dục PG hướng ra xã hội

Loạt bài của tôi về giáo dục hướng ra xã hội một lãnh vực Phật giáo Việt Nam cần quan tâm đã không được giới lãnh đạo Phật giáo quan tâm.

Cũng vậy, đối với loạt bài về việc đạo Ca tô La Mã thành lập Học viện Công giáo Việt Nam.

Giới lãnh đạo Phật giáo Việt Nam chỉ quan tâm đến việc triệt hạ xóa bỏ am, cốc, thất, một phương thức “khai sơn tạo tự”, truyền thống của Phật giáo Việt Nam.

Bên cạnh đó là việc buộc các đạo tràng phải xin phép, cấm chỉ sinh hoạt tôn giáo tại gia của Phật tử.

Phật giáo Việt Nam đang tự “cắn” vào chân tay của mình, trong bối cảnh các tôn giáo khác đang trên đà phát triển mạnh, gia tăng hoạt động cải đạo.

Bài viết này sẽ phân tích nội dung một bài báo về việc khai giảng Học viện Công giáo Việt Nam, một công cụ cải đạo hết đạo sức lợi hại.

Đó là bài “Học viện Công giáo chính thức mở cửa” của tác giả Đoàn Xuân Lộc, đăng trên trang BBC tiếng Việt ngày 11 tháng 2 năm 2016.

Dưới đây là toàn văn bài báo:
Học viện Công giáo chính thức mở cửa
Tiến hay lùi?
Bước khởi đầu?
‘Sứ mệnh giáo dục’

Với việc ra thông báo tuyển sinh vào chương trình Cao học Thần học hôm 21/01/2016, Học viện Công giáo Việt Nam đã chính thức ‘mở cửa’.

Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1975, một trường Công giáo ở cấp trung học hay đại học được chính thức thành lập và công khai hoạt động.

Trước đây ở Việt Nam, ngoài các nhà trẻ, có đến cả ngàn trường Công giáo đủ mọi cấp (từ tiểu học đến đại học), thuộc đủ loại (như từ trường y, trường dạy nghề đến trường dành cho người khiếm thị khiếm thính, trường miễn phí cho sinh viên, học sinh nghèo), và tiếp nhận học sinh, sinh viên từ mọi thành phần trong xã hội, không phân biệt tôn giáo.

Chẳng hạn, một tổng kết về tình hình Giáo hội Việt Nam năm 1962-1963 cho thấy lúc đó Giáo hội đã hoạt động và đóng góp rất nhiều trong lĩnh vực bác ái, y tế và giáo dục. Ngoài 48 bệnh viện, 58 cô nhi viện và rất nhiều cơ sở bác ái, từ thiện khác, Giáo hội có đến 93 trường trung học (với hơn 60 ngàn học sinh) và 1122 trường tiểu học (với gần 235 ngàn học sinh).

Theo một thống kê khác, trước 1975 ở miền Nam có đến 145 trường trung học và 1060 trường tiểu học Công giáo.

Ngoài ra, còn có những đại học Công giáo, như Giáo hoàng Học viện ở Đà Lạt, Viện Đại học Minh Đức, Đại học Thành Nhân và Đại học La San ở Sài Gòn.

Nhưng sau 1954 ở miền Bắc và sau 1975 tại miền Nam các trường Công giáo lần lượt đều phải đóng cửa. Hầu hết trường học, cơ sở giáo dục bị tịch thu và Giáo hội không còn được tham gia vào lĩnh vực giáo dục.

Thậm chí, sau này, khi chính quyền Việt Nam không còn ‘độc quyền’ giáo dục và ‘xã hội hóa’ lĩnh vực này, cho phép ‘tư nhân, thậm chí người nước ngoài, có quyền mở trường tư thục’ – như Thư Chung về Giáo dục Kitô Hội Ðồng Giám Mục (HĐGM) Việt Nam năm 2007 nêu – Giáo hội Công giáo vẫn phải ‘đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xã hội Việt Nam’.

Lý do là bởi cũng như các tôn giáo khác, Giáo hội chỉ được phép ‘mở trường tư thục cấp mẫu giáo’.

Nhắc lại như vậy để thấy là trái ngược với trước năm 1975, Giáo hội Công giáo gần như hoàn toàn bị loại khỏi lĩnh vực giáo dục trong 40 năm qua.

Nhưng chuyện một Học viện Công giáo được mở sau nhiều thập kỷ bị cấm đoán cũng cho thấy chính quyền Việt Nam nay cởi mở hơn.

Phát biểu tại lễ công bố và trao quyết định thành lập Học viện hôm 06/08/2015, Đức Tổng Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc, Chủ tịch HĐGM, cho biết từ nhiều năm nay, các Giám mục Việt Nam đã ‘đối thoại thẳng thắn và chân thành với chính quyền’ và ‘chính quyền rất thiện chí và cởi mở đón nhận tinh thần đối thoại của chúng tôi. Kết quả thực tế lớn là việc đẩy mạnh thành lập Học viện Công giáo’.

Hiện tại Hội đồng giáo sư và Ban Điều hành của Học viện có chín thành viên và Đức cha Giuse Đinh Đức Đạo – Giám mục phó Giáo phận Xuân Lộc và Chủ tịch Ủy ban Giáo dục Công giáo trực thuộc HĐGM Việt Nam – là Viện trưởng.

Trước khi về Việt Nam làm Giám đốc Đại chủng viện Thánh Giuse Xuân Lộc năm 2009 và được bổ nhiệm làm Giám mục Phụ tá Giáo phận Xuân Lộc năm 2013, Đức cha Đạo – người đã nhận bằng tiến sĩ Thần học Luân lý tại Học viện Alfonsianum và tiến sĩ Truyền giáo tại Đại học Giáo hoàng Gregoriana – đã từng giảng dạy tại khoa Truyền giáo học và Học viện giáo lý và tu đức truyền giáo của Đại học Giáo hoàng Urbaniana ở Rôma.

Chương trình Cao học Học viện Công giáo Việt Nam (HVCGVN) đang thông báo tuyển sinh và sẽ khai giảng vào tháng 9 năm nay chỉ có ngành Thần học Tín lý và Thần học Kinh thánh.

Nhưng đó chỉ là bước khởi đầu.

Đức cha Đinh Đức Đạo cho tôi biết, sau ít năm hoạt động, khi cơ cấu đã vững chắc, Học viện sẽ mở thêm chuyên ngành Thần học Mục vụ để đáp ứng công tác mục vụ đa dạng – như mục vụ giới trẻ, gia đình, di dân – trong Giáo hội.

Ngài còn hy vọng là trong tương lai không xa, HVCGVN sẽ được mở nhiều ngành học khác.

Một mong ước nữa được Viện trưởng HVCGVN đề cập đến, dù đó là ‘giấc mơ xa’, là ‘Học viện sẽ từ từ phát triển để đáp ứng nhu cầu, không phải chỉ của Giáo hội tại Việt Nam mà còn của một số nước trong khu vực’.

Về phương diện nhân sự, chuyên môn, kinh nghiệm, thiện chí hay sự công nhận, ủng hộ từ Tòa Thánh và các đại học Công giáo trên thế giới, có thể nói Giáo hội Công giáo Việt Nam và HVCGVN nói riêng có đủ để đạt được hai mong ước, nguyện vọng này.

Chẳng hạn, trong các giám mục, linh mục, tu sĩ Việt Nam có rất nhiều người được đào tạo bài bản, nhận bằng cấp cao hay từng giảng dạy tại các trường đại học có uy tín ở nước ngoài. Nhiều trường Công giáo nổi tiếng trên thế giới cũng sẵn sàng hỗ trợ HVCGVN về chuyên môn. Giáo dục là lĩnh vực sở trường của Giáo hội.

Đức cha Đinh Đức Đạo còn cho biết, HVCGVN cũng đã được Bộ Giáo dục Công Giáo của Tòa Thánh công nhận như một Khoa Thần học độc lập. ‘Do đó, các bằng Thần học do HVCGVN cấp sẻ có giá trị như các bằng Thần học do bất cứ Phân khoa Thần học nào trên thế giới đã được Tòa Thánh công nhận’.

Về cơ sở vật chất, nói là ‘mở cửa’, hiện tại Học viện hầu như chưa có gì và phải mượn phòng ốc của Trụ sở Hội đồng Giám mục tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đó cũng là lý do tại sao Đức cha Đạo cho biết HVCGVN ‘mơ ước có được một khoảng đất rộng để xây dựng cơ sở riêng cho mình’.

Còn việc HVCGVN có được phép mở các ngành học khác – như xã hội, nhân văn – tùy thuộc vào việc Giáo hội Công giáo cũng như các tôn khác ở Việt Nam nói chung có được tự do tham gia công tác giáo dục.

Nếu trong những năm tới chính quyền Việt Nam thông thoáng, cởi mở hơn, chắc chắn những nguyện vọng, mong ước của HVCGVN sẽ được thực hiện.

Đây cũng là điều Giáo hội Việt Nam hy vọng. Vì vậy, như Đức cha Chủ tịch Ủy ban Giáo dục của HĐGM Việt Nam chia sẻ, khi chuẩn bị việc thành lập và mở cửa Học viện, các Giám mục Việt Nam không chỉ nghĩ đến những công việc hiện tại đang làm. Các ngài còn muốn ‘có những chuẩn bị xa để khi hoàn cảnh cho phép, các thế hệ sau có điều kiện đáp ứng sứ mệnh giáo dục của Giáo hội’.

Giáo dục luôn là một ưu tiên của Giáo hội. Bằng việc tham gia, dấn thân trong lĩnh vực này, ngoài việc giáo dục tín hữu mình, Giáo hội còn muốn góp phần thăng tiến con người, phát triển xã hội, đất nước nơi mình đang sống.

Vì luôn muốn thông phần vào việc mở mang và phát huy nền giáo dục, không ngạc nhiên tại những quốc gia tự do, dân chủ, Giáo hội Công giáo luôn tham gia rất tích cực vào lĩnh vực này.

Chẳng hạn ở Mỹ, có đến gần 200 trường đại học, cao đẳng, học viện Công giáo – trong đó University of Notre Dame và Georgetown University nằm trong số 100 đại học uy tín nhất thế giới.

Các nước châu Á – như Ấn Độ, Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Philippines – đều có nhiều trường đại học Công giáo. Nhiều trường – như Catholic University of Korea ở Nam Hàn, Fu Jen Catholic University ở Đài Loan hay De la Salle University ở Philippines – được xếp hạng cao tại những quốc gia này.

Nếu không có chính biến, chiến tranh và Giáo hội được tự do tiếp tục hoạt động trong lĩnh vực giáo dục sau 1975, chắc chắn giờ ở Việt Nam cũng có một số đại học Công giáo có uy tín như tại những quốc gia châu Á trên.

Dù bị giới hạn, các dòng tu, hội đoàn, cá nhân trong Giáo hội vẫn không ngừng nỗ lực làm tất cả những gì được phép để thể tham gia vào sứ mệnh giáo dục – như mở lớp tình thương, lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo hoặc khuyết tật, biệt các trường mầm non, mẫu giáo.

Theo một thống kê, tính đến tháng 10 năm 2014, ở Việt Nam có 269 trường mầm non, 905 nhóm, lớp mầm non do các tổ chức, cá nhân tôn giáo thành lập. Những trường, lớp mầm non này đón nhận 125.594 trẻ, chiếm hơn 3 % tổng số các trẻ đến trường mầm non trên cả nước.

Điều đáng lưu ý là hầu hết các trường, lớp mầm non tôn giáo là trường Công giáo, do các dòng tu nữ mở, quản lý, nuôi dạy. Chỉ một vài tỉnh, thành – như Huế có trường mầm non Phật giáo hay trường mầm non Hòa hảo ở Long An và Kiên Giang – có một số ít trường mầm non do các tôn giáo khác mở, quản lý.

Cũng theo thống kê này, chỉ có 1/3 trẻ em học ở các trường, lớp mầm non Công giáo là người Công giáo. 2/3 còn lại là con của cán bộ, công nhân, viên chức hay những người khác ngoài Công giáo.

Một nữ tu dòng Dòng Thánh Phaolô tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, cho biết trong số trẻ em học ở trường mầm non của Dòng, có em ở rất xa – như Quận 8, hay Quận 9 hoặc Quận 2.

Nữ tu này cũng cho biết thêm, khi hỏi tại sao họ lại chọn trường mầm non của các soeurs, các phụ huynh, trong đó có những người không Công giáo, thường đưa ba lý do: (1) ‘tin tưởng vào trường các soeurs vì các soeurs làm việc công tâm, yêu trẻ thật tình’; (2) ‘muốn con của mình được hưởng một nền đạo đức tốt đẹp và có được nề nếp, lễ phép’; (3) ‘trường các soeurs có bề dày về giáo dục mầm non và kết quả rất tốt. Chúng con biết rõ điều này qua thành tích của một số con em của bạn bè hoặc đồng nghiệp’.

Nếu được phép mở trường tư thục ở các cấp khác – như tiểu học, trung học hay đại học – với kinh nghiệm, sở trường, thiện chí vốn có của mình, Giáo hội Công giáo chắc chắn sẽ nhiệt thành tham gia và đóng góp tích cực vào sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam.

Bài thể hiện quan điểm và cách hành văn của người viết, một người Công giáo hiện đang sống tại Anh quốc.

Bài báo trình bày rất khéo về hoạt động giáo dục hướng ra xã hội của đạo Ca tô La Mã. Chúng ta cần chú ý, trong đạo Ca tô La Mã, nói đến “giáo dục” thì có nghĩa là giáo dục hướng ra xã hội, giáo dục trường học trong xã hội, không phải cách hiểu giáo dục chỉ là giáo dục tăng ni như Phật giáo chúng ta.

Tuy không nói ra, nội dung chính của bài báo là xác định mục tiêu đạo Ca tô La Mã phải giành lại những gì đã mất trong hoạt động giáo dục hướng ra xã hội.

Đạo Ca tô La Mã giành lại những gì đã mất trong hoạt động giáo dục hướng ra xã hội tức là họ sẽ khôi phục lại được một mũi nhọn cải đạo mạnh mẽ. Phật giáo Việt Nam chúng ta sẽ thấy được hậu quả của điều đó trong 10- 20 năm nữa.

Những con số thông kê được bài báo ghi nhận chính là mục tiêu của họ. Đó là những gì họ đã mất và cũng là những gì họ phải giành lại. Rất rõ ràng và cũng rất quyết liệt.

Từ đầu thế kỷ XX, những nhà chấn hưng Phật giáo Việt Nam đã thấy được tác động to lớn của giáo dục đối với sinh hoạt tôn giáo. Vì thế, một trong những nội dung lớn của chấn hưng Phật giáo chính là giáo dục, mà kết quả cụ thể chính là hệ thống trường Bồ Đề và Viện Đại học Vạn Hạnh (xin nhấn mạnh, Viện Đại học Vạn Hạnh, một viện Đại học tổng hợp hoạt động giáo dục xã hội chứ không phải chỉ là các Phật học Viện đào tạo tu sĩ).

Tuy nhiên, chấn hưng Phật giáo mới đi được một phần đường, tư duy giáo dục hướng ra xã hội chưa thấm được vào những nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, dù là những trí thức, vì chưa trưởng thành, chưa nung đủ độ trong môi trường giáo dục, nên các nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, sau những khó khăn từ năm 1975, đã quên đi vai trò nhà giáo dục, mà đã rơi về tình trạnh những thầy cúng như trước chấn hưng Phật giáo.

Đạo Ca tô La Mã lại khác, họ luôn gắn bó với hoạt động giáo dục và đề ra mục tiêu hàng đầu là khôi phục hoạt động giáo dục.

Bài viết nói rõ: “kết quả thực tế lớn là việc đẩy mạnh thành lập Học viện Công giáo”.

Khẳng định kết quả như thế, nhưng phía Ca tô La Mã vẫn coi chỉ là “bước khởi đầu”.

Học viện Công giáo Việt Nam là một trường đại học, trong hoạt động giáo dục xã hội. Chúng ta đừng lầm nó với các Học viện Phật giáo Việt Nam chỉ là trường đào tạo các tu sĩ mà những trường tương tự phía Ca tô La Mã (đại chủng viện) đã có gấp đôi so với Phật giáo.

Bài báo vừa chỉ rõ những mục tiêu lâu dài của đạo Ca tô La Mã, vừa chỉ rõ những mục tiêu trước mắt: Đất để xây cơ sở vật chất, mở các ngành học khác như xã hội, nhân văn.

Còn mục tiêu lâu dài thì cũng được chỉ ra rất rõ “mở trường tư thục ở các cấp khác, như tiểu học, trung học, đại học.

Dường như chưa bao giờ giáo dục hướng ra xã hội của Phật giáo được nói đến. Nhưng có gì đâu để mà nói ngoài vài trường mầm non nhỏ bé.

Trước sau gì rồi những nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam cũng nghe lời tôi mà quan tâm đến giáo dục hướng ra xã hội, nhưng còn là vấn đề thời gian. Việc Ca tô La Mã xúc tiến thành lập Học viện Công giáo Việt Nam đã được nói đến cách đây vài năm, nhưng đến giờ này Phật giáo chưa có động tĩnh gì. Có thể giáo dục Phật giáo hướng ra xã hội sẽ chuyển động sau 2-3 năm hay 5, 10 năm gì đó, nhưng lúc đó đã muộn, thời gian không ủng hộ chúng ta.

Phật giáo luôn ở vị trí đi sau và thua kém!

MT

Phản hồi riêng đối với các bài tranh luận đặc biệt: vinasat132@yahoo.com, vi-vn.facebook.com/cusiminhthanh, ĐT: 0915553610.

Lưu ý : Nguoiphattu.com sẽ biên tập ý kiến của quý vị trước khi xuất bản. Người Phật tử hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và sẽ không đăng những ý kiến cực đoan. Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo sẽ không được đăng. Cám ơn sự đóng góp và quan tâm của quý vị.
Xem tin tức theo ngày:

Tin tức liên quan