Giới thiệu kinh - sách

Tu tập thiền định (Phần 3)

nguoiphattu.com - Hai thời khóa tụng được dịch từ bản khắc mộc năm 1898 của chùa Từ Hiếu với đầy đủ nghi thức.Qua tác phẩm, dịch giả có đôi lời hướng dẫn tu tập thiền định qua hơi thở, Tứ niệm xứ và trong lúc hành trì tụng kinh.

nguoiphattu_com_tu_tap_thien_dinh_phan_10.jpg

  Tu tập thiền định (Phần 2)

Tu tập thiền định (Phần 1)

Phần phụ dành riêng cho

NGHI THỨC TRÌ CHÚ ĐẠI BI.

(Đứng ngay ngắn chấp tay trước Phật Thiên thủ thiên nhãn ‘tượng đồng, gỗ, hay giấy ảnh cũng được’ xướng lên và nhất tâm chí thành lắng nghe theo âm thanh của hành giả đang xướng tụng hoặc đang trì chú để đi vào đại định làm cho ba nghiệp thân-khẩu-ý được thanh tịnh cả thời hành trì.)

Thấy Phật tướng tốt,

Nên nguyện chúng sanh;

Thành tựu thân Phật,

Chứng Pháp không tướng.

Án Mâu-ni tam Mâu-ni tát phạ ha. (3 lần)

(Tiếp lấy ba cây hương vừa đốt, vừa đọc bài phần hương:)

Nguyện mây hương thơm này,

Biến khắp mười phương cõi;

Năm uẩn đều thanh tịnh,

Ba nghiệp tận tiêu trừ.

Án phóng ba tra tá ha. (3 lần)

(Lạy 1 lạy, quỳ xuống cầm ba cây hương đưa lên trán thầm đọc:)

Tịnh pháp giới chơn ngôn :

Án lam sá ha. (7 lần)

Tịnh tam nghiệp chơn ngôn :

Án ta phạ bà phạ thuật đà, ta phạ đạt ma, ta phạ bà phạ thuật độ hám. (3 lần)

Án thổ địa chơn ngôn:

Nam mô tam mãn đa một đà nẫm, án độ rô độ rô địa rị ta bà ha. (3 lần)

Phổ cúng dường chơn ngôn:

Án nga nga nẵng tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)

(Tiếp xướng lên:)

Hương vân giăng bủa tánh đức tỏ tường,

Bồ đề tâm rộng chẳng suy lường;

Tuỳ chỗ phóng hào quang, lành tốt phi thường,

Dâng cúng Pháp Trung Vương[1].

Nam Mô Hương Cúng Dường Bồ Tát Ma Ha Tát. (3 lần)

(Đứng dậy cắm hương lên lư hương)

(Đứng trước Phật tượng xướng:)

Kính lạy đời quá khứ,

Chánh pháp minh Như Lai;

Chính là đời hiện tại,

Quán Thế Âm bồ tát.

Bậc thành công đức tụ,

Đủ lòng đại từ bi;

Nơi trong một thân tâm,

Hiện ra ngàn tay mắt.

Soi thấy khắp pháp giới,

Hộ trì các chúng sanh;

Khiến phát lòng đạo sâu,

Dạy trì chú viên mãn.

Cho xa lìa đường ác,

Được sanh trước Như Lai;

Những tội nặng vô gián,

Cùng bệnh ác lâm thân.

Khó nỗi cứu vớt được,

Cũng đều khiến tiêu trừ;

Các tam-muội biện tài,

Sự mong cầu hiện tại.

Đều cho được thành tựu,

Quyết định chẳng nghi sai;

Khiến mau được ba thừa,

Và sớm lên quả Phật.

Sức oai thần công đức,

Khen ngợi chẳng thể cúng;

Cho nên con một lòng,

Quy mạng và kính lễ :

Nhất tâm kính lễ Ta bà giáo chủ Bổn sư Thích Ca Mậu-ni Thế Tôn. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Tây phương Cực lạc thế giới Đại từ đại bi tiêp dẫn đạo sư A-di-đà Thế Tôn. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ quá khứ vô lượng kiếp Thiên Quang vương Tịnh trụ Thế Tôn. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ quá khứ cửu thập cửu ức căn già sa chư Phật Thế Tôn. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ quá khứ vô lượng kiếp chánh pháp Minh Thế Tôn. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ thập phương tam thế nhất thế chư Phật Thế Tôn. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ hiền kiếp thiên Phật tam thế nhất thế chư Phật Thế Tôn. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Quảng đại viên mãn vô ngại đại bi tâm đà ra-ni thần diệu chương cú. (xướng ba lần, mỗi lần 1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Quán Âm sở thuyết chư đà-ra-ni cập thập phương tam thế nhất thế tôn Pháp. (xướng ba lần, mỗi lần 1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Thiên thủ Thiên nhãn đại từ đại bi Quán Thế Âm tự tại Bồ-tát Ma-ha tát. (xướng ba lần, mỗi lần 1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Đại hùng đại lực Đắc Đại Thế Chí Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Tổng trì vương Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Nhật quang biến chiếu Bồ-tát, Nguyệt Quang biến chiếu Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Bảo vương Bồ-tát, Dược vương Bồ-tát, Dược Thượng Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Hoa Nghiêm vương Bồ-tát, Đại Trang Nghiêm vương Bồ-tát, Bảo Tạng Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Đức Tạng Bồ-tát, Kim Cang tạng Bồ-tát, Hư Không tạng Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Di-lặc Bồ-tát, Phổ Hiền Bồ-tát, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Tam Châu Cảm Ứng Hộ Pháp Vy Đà tôn Thiên Bồ-tát Ma-ha-tát, Thập phương tam thế nhất thế Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Ma-ha Ca-diếp Tôn giả, Vô lượng vô số đại Thinh Văn Tăng, Linh Sơn Hội thượng vô lượng Thánh Hiền. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Xiển Thiên Thai Giáo Quán tứ minh Tôn giả Pháp Trí đại sư, Tây Thiên Đông độ Việt Nam truyền giáo, truyền giới, khai sơn, lịch đại Tổ sư Hoà Thượng. (1 lạy)

Đại vị Thiện tra Phạm ma, Cù Bà già Thiên Tử, hộ thế Tứ vương Thiên Long Bát bộ, Đồng mục Thiên nữ, Hư không thần, Giang hải thần, Tuyền nguyên thần, Hà chiểu thần, Dược Thảo Thọ lâm thần, Xá trạch thần, Thuỷ thần, Hoả thần, Phong thần, Địa thần, Sơn thần, Cung điện thần, tịnh thủ hộ trì nhất thiết thiên long quỷ thần cập các quyến thuộc ân kính lễ thập phương thường trụ Tam Bảo. (1 lạy)

(Ngồi xuống, kiết già phu toạ thẳng lưng, chấp tay xướng hoặc tụng:)

Kính lạy chủ đại bi Quan Âm,

Nguyện lực rộng sâu thân tướng tốt;

Nghìn tay trang nghiêm khắp hộ trì,

Nghìn mắt rõ ràng đều chiếu soi.

Trong lời chân thật tuyên lời mật,

Trong tâm vô vi khởi lòng từ;

Các mong cầu nhanh chóng đủ đầy,

Khiến diệt trừ hết các tội nghiệp

Thánh chúng trời rồng cùng thương giúp

Trăm nghìn tam-muội tu tập nhanh

Canh giữ thân là tràng ánh sáng

Canh giữ tâm là kho thần thông

Tẩy sạch trần lao nguyện qua biển

Vượt cửa phương tiện chứng Bồ-đề

Nay con khen ngợi nguyện quy y

Ước nguyện từ tâm ắt viên mãn

Nguyện con biết nhanh tất cả pháp

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm

Nguyên con sớm được mắt trí tuệ

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm

Nguyện con vượt nhanh tất cả chúng

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm

Nguyện con sớm được phương tiện khéo

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm

Nguyện con lên nhanh thuyền Bát-nhã

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm

Nguyện con sớm vượt được biển khổ

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm

Nguyện con sớm được giới định đạo

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm

Nguyện con sớm lên núi Niết-bàn

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm

Nguyện con sớm gặp nhà vô vi

Nam mô Đại Bi Quan Thế Âm

Nguyện con sớm cùng thân pháp tánh

Nếu con hướng núi đao

Núi đao tự phá hủy

Nếu con hướng than lữa

Than lửa tự khô hết

Nếu con hướng địa ngục

Địa ngục tự tiêu diệt

Nếu con hướng ngạ quỷ

Ngạ quỷ tự đầy đủ

Nếu con hướng tu la

Tâm ác tự hồi phục

Nếu con hướng súc sanh

Tự được trí tuệ lớn.

Nam mô Đại bi Quán Thế Âm. (3 lần)

(Tiếp tục xướng lên hoặc tụng:)

Kính lễ thầy ba cõi,

Quy mạng Phật mười phương;

Nay con phát nguyện lớn,

Trì tụng chú Đại Bi. (hay chú khác)

Trên báo bốn ân nặng,

Dưới cứu khổ ba đường; (Hay cầu an cầu siêu gì của minh có thể thêm vào)

Nếu có người nghe thấy,

Tất phát tâm Bồ-đề.

Hết một báo thân này,

Cùng sanh nước cực lạc.

Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. (3 lần)

Khai chú kệ:

Pháp Phật sâu xa rất nhiệm màu,

Trăm nghìn ức kiếp khó gặp được;

Con nay thấy nghe được thụ trì,

Nguyện hiểu nghĩa mật của Như Lai.

Bắt đầu trì chú Đại Bi

Tay phải bắt ấn Cam lồ, tay trái cầm chuỗi để tính (chuỗi 21 hạt).

(Trì từ 3 biến, 5 biến, 7 biến hoặc 21 biến hay nhiều hơn tuỳ hành giả. Trong lúc trì chú phải lắng nghe theo âm thanh hành giả đang trì khiến cho ba nghiệp ‘thân-khẩu-ý’ trở nên tương ưng thanh tịnh. Đây là một phương pháp khiến cho hành giả dễ vào Thiền-Định đạt được kết quả nhanh chóng trong tu tập.)

Chú Đại bi

Nam-mô Đại-bi Hội-thượng Phật Bồ-tát. (3 lần)

Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại-bi tâm đà-la-ni. Nam-mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bát ra da, Bồ-đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án, tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam-mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam-mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu thâu bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha Bồ-đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô kiết mông, độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá-lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, Bồ-đề dạ Bồ-đề dạ, bồ-đà dạ bồ-đà dạ, di đế rị dạ, na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàng đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam-mô hắt ra đát na, đa ra dạ da. Nam-mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.

Án tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha. (3 lần)

Kinh tâm Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa

Bồ-tát Quán tự tại, khi thực hành bát nhã ba-la-mật-đa sâu, soi thấy năm uẩn đều không, vượt qua mọi khốn khổ.

Xá-lợi Tử! Sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, sắc tức là không, không tức là sắc, thụ, tưởng, hành, thức, cũng lại như vậy.

Xá-lợi Tử! Các pháp tướng không này, không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch, không thêm, không bớt. Cho nên trong không, không sắc, không thụ, tưởng, hành, thức; không nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; không sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Không nhãn giới, cho đến không ý thức giới, không vô minh, cũng không hết vô minh, cho đến không lão tử, cũng không hết lão tử, không khổ tập diệt đạo, không trí, cũng không đắc. Vì không gì đắc để đắc, nên Bồ-tát y vào Bát-nhã ba-la-mật-đa, tâm không chướng ngại, vì không bị chướng ngại, nên không sợ hãi, xa lìa mộng tưởng điên đảo, cứu cánh niết-bàn. Chư Phật ba đời, vì y vào Bát-nhã Ba-la-mật-đa, nên được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cho nên biết Bát-nhã Ba-la-mật-đa, là thần chú lớn, là chú vô thượng, là chú không cấp cùng bậc, hay trừ tất cả khổ, chân thật không dối. Cho nên nói chú Bát-nhã Ba-la-mật-đa, liền nói chú rằng:

Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la tăng yết-đế, Bồ-đề tát-bà-ha (3 lần)

Thần Chú Vãng Sanh Tịnh Độ:

Nam mô a di đa bà dạ,

Đa tha dà đa dạ,

Đa địa dạ tha,

A di rị đô bà tỳ,

A di rị đa tất đam bà tỳ,

A di rị đa tì ca lan đế,

A di rị đa tì ca lan đa,

Dà di nị dà dà na,

Chỉ đa ca lệ ta bà ha. (3 lần)

Kệ Cát Tường:

Nguyện ngày an lành, đêm an lành,

Đêm ngày sáu thời thường an lành;

Tất cả các thời đều an lành,

Xin nguyện Thế tôn thường gia hộ.

Nguyện ngày an lành, đêm an lành,

Đêm ngày sáu thời thường an lành;

Tất cả các thời đều an lành,

Xin nguyện Tam bảo thường gia hộ.

Nguyện ngày an lành, đêm an lành,

Đêm ngày sáu thời thường an lành;

Tất cả các thời đều an lành,

Xin nguyện Hộ pháp thường gia hộ.

Bốn loài sinh lên đất báu tịnh,

Ba cõi hóa sinh ao sen đẹp;

Hà sa ngạ quỷ thành ba hiền,

Vạn loại hữu tình lên mười địa.

Tán Phật:

Thân Phật A-di-đà màu vàng,

Ánh sáng tướng tốt không ai bằng;

Lông trắng chuyển xoay như năm núi[2],

Mắt biếc lắng trong như bốn biển.

Trong sáng hóa vô số ức Phật,

Hóa chúng Bồ-tát cũng vô biên;

Bốn mươi tám nguyện độ chúng sanh,

Hữu tình lên chín phẩm bờ kia.

Kính lễ Phật A-di-đà, đại từ đại bi, thế giới cực lạc phương Tây.

Nam mô A-di-đà Phật. (108 lần)

Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm Bồ Tát. (3 lần)

Nam mô Đại Thế Chí Bồ Tát. (3 lần)

Nam mô Địa Tạng Vương Bồ Tát. (3 lần)

Nam mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ Tát. (3 lần)

Xướng lễ:

Phật chúng sanh[3] tánh thường vắng lặng,

Đạo cảm thông không thể nghĩ bàn,

Lưới đế châu[4] con ví đạo tràng

Mười phương chư Phật ảnh hiện trong,

Thân con ảnh hiện trước Phật tiền,

Nguyện cúi đầu kính lễ sát chân.

Nhất tâm kính lễ Tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi tiếp dẫn đạo sư A-di-đà Phật. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Đại từ đại bi tầm thinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Đại hùng Đại lực Đắc Đại Thế Chí Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Nhất tâm kính lễ Thanh tịnh đại hải chúng Bồ-tát Ma-ha-tát. (1 lạy)

Sám Thập phương:

Ba đời mười phương Phật,
A Di Đà bậc nhất;
Chín phẩm độ chúng sanh,
Oai đức không cùng cực.
Nay con trọn quay về,
Sám hối nghiệp ba tội;
Phàm có chút phước thiện,
Hết lòng đem hồi hướng.
Nguyện cùng người niệm Phật,
Cảm ứng tùy thời hiện;
Lâm chung cảnh tây phương,
Hiện rõ ngay trước mắt.
Thấy nghe đều tinh tấn,
Cùng sanh nước Cực lạc;
Thấy Phật rõ sống chết,
Giống Phật độ tất cả.
Dứt vô biên phiền não,
Tu vô lượng pháp môn;
Xin thề độ chúng sanh,
Trọn thành Phật đạo cả.
Hư không dù có tận,
Nguyện con thì vô cùng;
Tình cùng với vô tình,
Đồng trọn thành trí Phật.

Kệ hồi hướng :

Công đức tụng kinh hạnh thù thắng,

Thắng phước vô biên đều hồi hướng ;

Nguyện cho chúng sanh trong pháp giới,

Mau về cõi Phật sáng không lường.

Nguyện tiêu ba chướng trừ phiền não,

Nguyện chân trí tuệ thường sáng tỏ;

Nguyện bao tội chướng thảy tiêu trừ,

Đời đời thường hành đạo Bồ-tát.

Nguyện sanh về tịnh độ phương tây,

Chín phẩm hoa sen là cha mẹ;

Hoa nở thấy Phật biết vô sanh,

Bồ-tát chẳng lùi là bạn hữu.

Chí tâm sám hối:

Đệ tử chúng con họ … tên … pháp danh …

Hiện tiền một tâm, vẫn đủ ngàn pháp, đều có sức thần, cùng với trí sáng. Trên sánh chư Phật, dưới sánh muôn loài. Bỡi niệm vô minh che ánh sáng kia. Nên đối cảnh hôn mê, khởi lòng chấp nhiễm; nơi pháp bình đẳng, sinh tưởng ngã nhân. Lại do ái kiến làm gốc, thân miệng làm duyên. Trong nẻo luân hồi, gây nên đủ tội; thập ác ngũ nghịch, báng pháp báng người; phá giới phạm trai, huỷ hoại chùa tháp, trộm của Tăng kỳ, đồ vật thức ăn; dù ngàn Phật ra đời, khó bề sám hối. Những tội như thế, không lường không ngằn; khi bỏ báo thân, sẽ đoạ tam đồ, chịu vô lượng khổ.

Lại trong đời này, do túc duyên hiện nghiệp, hoặc bị lửa phiền não thiêu đốt, tật bệnh vây quanh, duyên ngoài bức bách, ma nghiệp quấy nhiễu, chướng ngăn đạo pháp, khó nỗi tiến tu; may gặp thần chú viên mãn Đại Bi, có thể mau trừ những tội như thế; cho nên con hết lòng trì tụng. Nguyện nương về Quan Thế Âm Bồ-tát, cùng mười phương chư Phật, phát lòng Bồ-đề tu hạnh chơn ngôn, cùng với chúng sanh, tỏ bày các tội, cầu xin sám hối, nguyện đều tiêu trừ. Nguyện đấng Đại Bi Quan Thế Âm, ngàn tay nâng đỡ, ngàn mắt chiếu soi, khiến cho chúng con duyên chướng trong ngoài thảy điều dứt sạch, mình người hạnh nguyện mở tánh bản tri, dẹp trừ ma ngoại, ba nghiệp siêng cầu tu nhân Tịnh độ.

Nguyện cho chúng con khi bỏ thân này, không vào đường khác. Quyết được sanh về thế giới Cực lạc của Phật A-di-đà, rồi được thừa sự đại bi Quan Thế Âm, đủ các tổng trì, rộng độ quần phẩm, đồng thoát khổ luân, đồng thành Phật đạo.

Nam mô chứng minh sư Bồ-tát Ma-ha-tát. (3 lần)

Chúng sanh vô biên thề nguyện độ,

Phiền não vô tận thề nguyện đoạn,

Pháp môn vô lượng thề nguyện học,

Phật đạo vô thượng thề nguyện thành.

Tam tự quy y:

Tự quy y Phật, xin nguyện chúng sinh. Thể theo đại đạo, phát lòng vô thượng. (1 lạy)

Tự quy y Pháp, xin nguyện chúng sinh. Thấu rõ Kinh tạng, trí huệ như biển. (1 lạy)

Tự quy y Tăng, xin nguyện chúng sinh. Thống lý đại chúng, hết thảy không ngại. (1 lạy)

Nguyện đem công đức này

Hướng về khắp tất cả

Đệ tử và chúng sanh

Đều trọn thành Phật đạo.

(Hoà nam Thánh chúng.)


HẠNH NGUYỆN

Đức Bồ Tát Quán Thế Âm

Hiện tướng bản thể vũ trụ là một trò chơi vừa có tính thực và bất thực, hay vừa có tính hòa âm và bất hòa âm. Nếu người biết được trò chơi này, là người nắm được thực tại trên mười đầu ngón tay; thì trái lại, kẻ không nắm được thực tại trên mười đầu ngón tay, kẻ đó không biết được hòa âm vũ trụ trong trò chơi này.

Nói thế không có nghĩa là bản thể vũ trụ ở trong tình trạng phân sáp làm đôi và đối lập nhau; nhưng nó chỉ là một. Tuy thế, về mặt tùy thể, chúng ta nhìn bản thể vũ trụ như là một phức thể, tùy theo kiến giác của mỗi chúng ta. Vì tùy thể này, nói lên được sự hiện hữu của duyên nghiệp trong mỗi chúng ta đang ở trong tình trạng sinh khởi, nối tiếp và ràng buộc vào nhau, mà hiện ra các khổ tướng báo thân có sai khác. Nhưng về mặt nhất thể, thì hiện tướng chính là bản thể, và bản thể chính là hiện tướng.

Do đó, cuộc đại hòa âm hay bất đại hòa âm trong vũ trụ, cũng tùy theo đó mà hiện hữu như một thực tại giữa chúng ta, không thể không chấp nhận. Vì kẻ biết được hay không biết được trò chơi cùng đang nằm trong quỹ đạo của ý niệm, nhưng khi ý niệm vừa khởi lên, liền sau đó phát hiện ra âm thanh hoặc tương đồng hoặc tương khắc với thế giới âm thanh bên trong hay bên ngoài. Tuy nhiên trong thế giới ngũ trược này, hầu hết chúng sanh đã mang vào trong mỗi tướng thể một khổ quả nào đó, cùng nằm trong một cộng nghiệp không thể tránh khỏi luật tắc luân hồi, đã mang và sẽ đưa chúng sanh vào con đường khổ.

Chính vì khổ ngiệp của chúng sanh đang vây khổn mà các đức Phật Thế tôn cùng các vị Bồ tát xuất hiện ra thế gian này, với hạnh nguyện đại từ, đại bi, ban vui cứu khổ cho mọi loài. Cùng ở trong hạnh nguyện đó, sự xuất hiện của Bồ tát Quán Thế Âm được các kinh công nhận là độc đáo nhất trong hạnh nguyện của các vị Bồ tát. Ngài đã chứng ngộ bằng âm thanh qua nhĩ căn viên thông, và lấy âm thanh là tiêu đích trong việc cứu khổ cứu nạn cho tất cả chúng sanh. Với danh hiệu Đại từ đại bi tầm thinh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồt tát, đã nói lên đầy đủ ý nghĩa hạnh nguyện đó.

Trong nhiều bộ kinh, có nói về đức Quán Thế Âm Bồ tát; nhưng chúng ta không thấy đề cập đến phương pháp chứng ngộ của Ngài. Duy bộ kinh Lăng Nghiêm có đề cập đến sự chứng ngộ ấy, kinh Lăng Nghiêm trực chỉ ghi rõ rằng: Sau khi đức Thế tôn gạn hỏi chỗ sở chứng của 24 Thánh đệ tử xong, đến lượt Bồ tát Quán Thế Âm bày tỏ chỗ sở chứng của mình như sau: “Quán Thế Âm Bồ tát bạch rằng: Tôi nhớ là hà sa số kiếp về trước, có một vị Phật hiệu là Quán Thế Âm; vị Phật đó dạy tôi muốn vào chánh định thì phải theo nghe-nghĩ-tu.

Từ trong nghe, khi trở về tự tánh thì sở duyên biến mất và con đường vào trở nên vắng lặng (sở không có, năng không có chỗ duyên, nên năng vẫn không hiện hữu, ở trong tự tánh vắng lặng). Hai tướng động và tịnh không sinh. Từ từ mà tiến lên như vậy, thì nghe và đối tượng bị nghe đều hết.

Nghe đã hết không trụ, thì giác và đối tượng của bị giác đều không khi không giác đã tròn đầy, thì không và đối tượng không đều diệt. Khi sinh và diệt đã mất, thời cảnh tịch diệt hiện ra trước mắt.” Thế giới phơi mở trước chúng ta như là một hiện hữu, vượt khỏi không gian thời gian. Cảnh giới này không bị ràng buộc bởi xuất thế gian và thế gian, hay các pháp hữu vi và vô vi. Cảnh giới này trên đồng với Như Lai một từ lực, dưới hợp với tất cả chúng sanh trong sáu đường và, đồng với chúng sanh một lòng bi ngưỡng.

Đến đây, chúng ta thấy hạnh nguyện của Bồ tát Quán Thế Âm trong kinh Lăng Nghiêm cùng kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn, gặp nhau trong lòng bi ngưỡng đối với chúng sanh đại thể. Nhưng về ý nghĩa danh từ có sự khác nhau. Trong kinh Lăng Nghiêm ý nghĩa luôn luôn ở trong chiều hướng phản phục cái nghe nơi tự tánh. Như vậy, cái nghe ở trong chiều hướng nội.

Một khi tâm đã phản phục, thời cảnh sở quán sẽ không còn, nên không có sự đối đãi giữa năng và sở nữa. Lúc đó Như lai tạng tâm sẽ hiển bày ra trước mắt. Lúc đó tâm năng văn và cảnh sở văn sẽ tiêu tan dung hội. Như vậy kinh Lăng Nghiêm lập cứ trên nhân hạnh mà gọi là Quán Thế Âm. Ngược lại trong kinh Pháp Hoa, phẩm Phổ Môn lại lập cứ trên quả đức để hiển nghĩa thì, Âm chính là tiêu đích của văn tầm cứu. Dù là tịch thinh hay là động thinh, nghe của Quán Thế Âm Bồ tát cũng thấu suốt tất cả. Âm thinh từ trạng thái tâm lý đến lúc phát ra ngoài, phải qua một tiến trình chuyển động của cơ thể.

Có sự liên hệ giữa một ý niệm khi phát khởi, và các sợi thần kinh liên hệ chuyển động để thoát ra ngoài cửa miệng, lúc đó mới tạo thành âm thanh thật sự. Âm thanh này sẽ dàn trải ra vô tận, và sẽ tạo thành âm thanh sống của vũ trụ. Trong những biến động tiếp giao này, cùng với những âm thanh khác, sẽ tạo ra những điệu hòa âm, hay bất hòa âm, tùy theo lối dung nạp của mỗi âm thanh từng người, từng loại chúng sanh.

Ở đây trạng thái tịch thanh không tự hữu, mà chỉ hiện hữu trong mỗi người, mỗi sự vật, chính ngay trong ý niệm, trong mặc thức, không phát ra bên ngoài, hay chưa khởi phát ra ngoài, nhưng nó có tác động của tâm thức can thiệp vào. Ở đây, còn gọi là tâm thanh, là tiếng nói của tâm.

Vậy, âm là biểu tượng ý nghĩa cuộc sống, thế giới ngoại tại của chúng sanh trong pháp giới duyên khởi này chính là hiện tướng của nghiệp tướng vô minh con người đang lôi kéo con người trong bể khổ sanh tử luân hồi. Những khổ đau tai nạn của kiếp người, cùng tiếng kêu gào van xin, cầu cứu của chúng sanh trong bể khổ đã làm cho nguyện lực độ sanh của Bồ Tát Quán Thế Âm phát sinh. Ngài đã cùng nhĩ căn viên thông, thường xuyên quán sát và nghe tiếng cầu cứu của chúng sanh, tùy theo căn cơ của từng loại mà Ngài hóa độ, cứu vớt.

Ở đây, về ý nghĩa danh xưng, chúng ta thấy sự khác biệt giữa kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa trong lòng bi nguyện của Ngài. Một đàng hướng nội nghe bản thể tự tánh, tức là Như Lai tạng tâm và đó cũng chính là bản thể của chúng sanh, của vũ trụ mà lập cứ (theo nhân hạnh) để cứu vớt; một đàng hướng ngoại nghe quả khổ của chúng sanh, cùng tiếng cầu cứu mà lập cứ (theo quả đức) để cứu vớt. Nếu căn cứ nơi nhân và quả để hiểu thì làm sao có sự gặp gỡ hạnh nguyện giữa Kinh Lăng Nghiêm và kinh Pháp Hoa trong lòng bi nguyện của Ngài? Đó là câu hỏi cần đặt ra và cần giải đáp. Sự xuất hiện của Ngài vì lòng bi ngưỡng vô úy, cùng với chúng sanh cùng một thể tánh. Ngài đã mang danh hiệu Đại Từ Đại Bi tầm thanh cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ Tát, nói lên lòng bi ngưỡng vô úy đó. Chính lòng bi ngưỡng giữa nhân hạnh và quả đức của bản thể tự tánh Như lai tạng tánh cũng chính là bản thể của chúng sanh của vũ trụ.

Lòng bi ngưỡng vô úy mà chúng sanh đã đánh mất, thay vào đó lòng sợ hãi. Chính vì lòng sợ hãi mà con người luôn ở trong tình trạng lo đối phó, nhưng đối phó với phương pháp chạy trốn thực tại, tìm cách né tránh với tương lai. Mà tương lai là những gì chưa xảy đến với họ hay sẽ không xảy đến.

Vì sợ hãi lo âu nên con người tự đánh lừa chính mình và dần dần trở thành vong thân. Từ đó thần thánh, ma quỷ, Thượng đế được xuất hiện bởi con người và do con người đặt ra, con người lấy đó làm nơi nương tựa. Cuộc sống của chúng ta đầy dẫy những biểu tượng, biểu tượng của sợ hãi, do đó chúng ta đã tự đánh mất bản tính vô úy của ta.

Con người không dám nhìn thực tại, không dám nhìn vào chính mình, không dám sống với thực tại, luôn luôn sống với tương lai; mà tương lai là những gì ảo tưởng. Con người luôn tìm cách nắm bắt những ảo tưởng đó để rồi thất vọng đau khổ .

Trong truyền thống triết lý siêu hình Tây phương, vì sự sợ hãi này mà Thượng đế xuất hiện. Thượng đế đã được lý trí con người đặt ra để tôn thờ là nơi nương tựa của những con người yếu bóng vía, đầy lòng sợ hãi với hiện tại, với tương lai. Tự đặt con vào sự cứu rỗi của Thượng đế, tự họ đánh mất bản tánh của họ.

Họ làm nô lệ cho một Thượng đế bên ngoài, họ đã vong thân và Thượng đế thần thánh đã ngự trị, chi phối cuộc sống họ. Kể từ Socrates mãi cho đến Athur Schopenhauer, giai đoạn này Thượng đế đã được đề cập đến nhiều, nhất là thời kỳ trung cổ, thời kỳ kinh viện, Thượng đế được coi như là thần linh, ban phước giáng họa và mãi đến Hegel .

Hegel quan niệm: Thượng đế là một nhân cách hóa của con người và con người là nhân cách của Thượng đế. Thượng đế chính là ý niệm tuyệt đối. Ông giải thích Thượng đế của ông theo sách Sáng Ký và ba ngôi của Ky Tô giáo bằng biện chứng pháp của ông theo ba tiến trình: đề, phản đề, tổng hợp đề. Ông bảo rằng: Chính Thượng đế đã vong thân, Thượng đế đã đẻ ra hình ảnh Ađam và Eva nơi vườn địa đàng, và chính Adam và Eva đã phản lại lời dặn dò của Thượng đế khi nghe lời dụ dỗ con rắn (tượng trưng cho ác quỷ sa tăng) mà ăn phải trái cấm thiện ác, để rồi từ đó về sau con người mắc phải tội tổ tông (nguyên tội) và bị đày đọa trong khổ đau, càng khổ đau con người càng tạo nên tội lỗi.

Để chuộc lại tội lỗi này, Thượng đế đã cho Jésus giáng thế, và bị đóng đinh trên cây thập tự giá, để chịu tội cho thế gian; khi đó con người trở lại trạng thái ban sơ nơi vườn địa đàng. Để rồi ông kết luận Thượng đế là con người và con người là Thượng đế. Đó là giai đoạn chung cuộc của lịch sử tương lai .

Từ Hegel đến Schopenhauer, quan niệm Thượng đế thay đổi dần và biến mất từ Schopenhauer. Với quyển "Vũ trụ như là ý lực", ông đã phủ nhận Thượng đế. Ông là người đầu tiên mang truyền thống Đạo học Đông Phương thổi vào Âu Châu một luồng sinh khí mới mẻ, và mạnh mẽ nhất là Nietzsche với chủ trương “con người siêu nhân” và ông đã nói: “Thượng đế đã chết” (Das Got Isto).

Như thế Thượng đế thực sự đã vắng mặt trên thế gian này. Mãi đến Heidegger, danh từ Thượng đế không còn được nhắc đến nữa. Nền siêu hình học hiện đại mà người đại diện cho nền triết lý Tây Phương là Heidegger đã không nhắc đến một Thượng đế nào, ông chỉ đề cập đến tính thể của hiện thể tại thế (Dasein) của con người mà thôi. Những vấn đề xa xôi chưa đến trong tương lai, không phải là vấn đề bận tâm của ông. Ông chỉ biết hiện tại, sống với hiện tại, tìm ra những vấn đề liên hệ giữa con người với con người, giữa cuộc sống và con người cùng sự hiện hữu chính mình. Theo ông đó là những bâng khuâng của con người, cần phải tìm ra sợi dây liên hệ đó.

 

Có thế con người mới làm chủ được chính mình và làm chủ được cuộc sống; lúc này con người sẽ không còn sợ hãi nữa, họ sống một cách bình thản chấp nhận tất cả dù là cái chết đi nữa, cũng không sợ sệt, vui cười với cái chết. Họ đã đến gần Đông phương với tinh thần vô úy. Nhưng đó chỉ là một thiểu số có tinh thần thượng thừa, đã nhìn ra được trò chơi của vũ trụ trong suy niệm. Họ đã chấp nhận hiện tại và sống với hiện tại, chơi với hiện tại bằng một thái độ lì lợm, kiêu hãnh với chính mình mà không bao giờ sợ hãi.



[1] Pháp trung Vương, 法中王: chỉ cho đức Phật, là vua giữa các Pháp, hay là vua Pháp.

[2]Nguyên bản: Tu-di sơn 須彌山.

[3] Để bản: Năng lễ, sở lễ 能禮所禮, tức chỉ cho người lễ lạy (ta, hay mọi người lễ lạy) và đối tượng được lễ lạy (Phật, Bồ-tát, thánh hiền …).

[4] Đế châu 帝珠: theo Huyền ứng âm nghĩa 23, thì gọi là đế thanh 帝青. Phạn gọi là nhân đà-la-ni-la mục-đa (indranilamuktā) là Đế-thích bảo hay Đế-thích thanh. Giữa bảo và thanh đều chỉ cho châu. Theo nghĩa này thì Đế châu là chỉ cho võng lưới ngọc châu.

-------------------------

Tải sách TU TẬP THIỀN ĐỊNH bằng file word in ấn TẠI ĐÂY

Lưu ý : Nguoiphattu.com sẽ biên tập ý kiến của quý vị trước khi xuất bản. Người Phật tử hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và sẽ không đăng những ý kiến cực đoan. Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo sẽ không được đăng. Cám ơn sự đóng góp và quan tâm của quý vị.
Xem tin tức theo ngày:

Tin tức liên quan