Luận đàm - Giảng kinh

Đầu Xuân tư duy: Tìm hiểu Trí vô lậu và Tam vô lậu học trong giáo lý đạo Phật

nguoiphattu.com - Nhân dịp đầu xuân mới, độc giả và đạo hữu chúng ta cùng dành chút thời gian tìm hiểu đôi nét về Trí tuệ Vô Lậu qua Tam vô lậu học mà đức Phật đã đề cập trong giáo lý.

nguoiphattu_com_tim_hieu_tri_vo_lau_va_tam_vo_lau_hoc_trong_giao_ly_dao_phat0.jpg

Mùa xuân về, nét xuân vui đang tràn ngập khắp nơi khiến lòng người cũng xốn xang chao động. Một mùa xuân mới lại về thôi thúc lòng người,thôi thúc mỗi nẻo đường quê và trong lòng dân tộc. Xuân về cùng với vạn vật hoài thai sinh nở, con người cũng hướng tới tương lai.

Để có một tương lai tốt đẹp trên lộ trình của cuộc sống nói chung và của người tu đạo Giác ngộ-giải thoát, chúng ta cần phải có trí tuệ để soi sáng bước đường đi tới của mình. Nhân dịp đầu xuân mới, độc giả và đạo hữu chúng ta cùng dành chút thời gian tìm hiểu đôi nét về Trí tuệ Vô Lậu qua Tam vô lậu học mà đức Phật đã đề cập trong giáo lý.

Như chúng ta đã thấy, trong các kinh điển Phật giáo từ lâu ở nước ta thường sử dụng Hán ngữ, tầng nghĩa xác định thường nan giải bởi đặc thù của ngôn ngữ này. Trong khi đó, giáo lý đạo Phật thì sâu mầu, nếu hiểu không rõ ràng sẽ dẫn đến suy tư lệch lạc sai lầm. Vậy khi hiểu được thế nào là Tam vô lậu học và trí tuệ vô lậu là chúng ta đã nắm được phần nào ý nghĩa thậm thâm vi diệu của Phật pháp. Bởi đạo Phật minh triết cần đến sự sáng suốt của trí tuệ con người.

Vậy, trí tuệ vô lậu là gì. Và sao gọi là vô lậu?

Trước khi vào nội dung bài viết, chúng ta cần hiểu khái niệm đôi nét về ngữ nghĩa qua Phật học từ điển. Theo học giả Đoàn Trung Còn: Vô lậu (Anasvara) là không lậu tiết, không lậu lạc; tức là không có các mối phiền não; trái với hữu lậu.

Khi con người ta chưa đạt “Tam vô lậu học” tức là (giới, định, tuệ) thì người ta vì “phiền não (tham, sân, si) cho nên ngày đêm để cho sáu (6) cơ quan:  Nhãn (mắt), nhĩ (tai), tỷ (mũi), thiệt (lưỡi), thân (cơ thể), ý (nghĩ suy) cứ lậu tiết, chảy ra lưu thông mãi không ngừng - ấy là lậu”

Lại nữa, những mối phiền não: “khiến con người lậu lạc, sa ngã vào trong ba nẻo ác lụy (tam ác đạo) và sáu đường luân hồi - ấy là hữu lậu”.

Cho nên nói hữu lậu là những phàm phu chưa dứt phiền não, còn lưu luyến còn sa ngã trong vòng khổ não chướng. Còn vô lậu là bậc đã dứt phiền não, thoát ra ngoài vòng luân hồi, tức cảnh giới không còn lậu, thanh tịnh. Ngược lại với “hữu lậu là người không đoạn những mối phiền não, lại nuôi dưỡng cái lòng ham muốn. cầu cho hưởng thêm các sự phước đức, mà không thể giải thoát khỏi tam giới. Trong khi đó người tu theo vô lậu đạo thì không cầu lấy những phước báo trong tam giới!”

Vậy trí tuệ vô lậu là không còn lậu hoặc (tánh đã ra khỏi các phiền não tùy nhiễm) cái trí tuệ thuần lương tinh sạch không chút cấu bợn: ấy là trí của các bậc đắc quả thánh. Đây là nhưng bậc nhờ duyên không lậu tu ba món (giới, định, tuệ). Nhờ trí này mà thấy được cái mà kẻ khác không thể thấy.

Vậy đức thế Tôn trong 49 năm hoắng hóa chỉ có một mục đích duy nhất là khai thị, tức chỉ cho chúng sinh biết tu “ngộ nhập Phật tri kiến” để chúng sinh thấy dược tính nhiệm mầu của Như Lai Tạng diệu tâm.

Nói khác đi là để đưa con người bình thường (từ cái biết chưa trọn vẹn) tới cái biết tối thượng, cái tuệ giác tối thượng. Với mục đích ấy, Phật học chia cái sự học về thực tại này vốn đồng nhất tròn đầy ra làm ba mặt: Giới - Định và Tuệ học. Đối với hàng xuất gia từ lúc còn sơ cơ trong chốn thiền môn đều không quên lời tổ Quy sơn: “Như Lai ứng cơ thiết giáo, thủ dĩ mộc xoa, phòng phi chỉ ác, thứ dĩ thiền định, tức lự vọng duyên, hậu dĩ đạt tuệ, phá hoặc chứng chân…”. Còn tu sĩ tại gia sao có thể dời bỏ Ngũ giới, Thập thiện, Bồ tát tâm địa.

Mục đích cứu cánh mà đức Như Lai tuyên thuyết là đoạn hoặc chứng chân pháp, muốn đạt tới mục đích ấy thì phải nương vào trí tuệ, trí tuệ ở đây không phải là tri thức, kinh nghiệm phổ thông của thế gian, mà là trí tuệ xuất thế gian, trong Phật giáo gọi là Trí tuệ Vô lậu. Muốn thể nhập được trí tuệ đó, trước hết phải lấy thiền định để nhiếp trì các căn, tập trung tư duy, gạt bỏ vọng niệm thì tự nhiên trí tuệ được khai phát hiển bày. Nhưng trí tuệ và thiền định là do công phu trì giới mà sinh. Vậy nên, điều đầu tiên là phải lấy giới Ba-la-đề-mộc-xoa (Prastimoksa-patimokkha) để đoạn trừ ác hành, ngăn ngừa sai trái, thứ nữa lấy thiền định để thâm tâm vọng niệm không khởi, và cuối cùng dùng gươm trí tuệ sắc bén cắt đứt những mê hoặc chứng chân như.

Như chúng ta đã biết, giáo dục thế gian thì lễ nghi đi trước. Quy tắc xuất thế thì giới luật đứng đầu, phi lễ nghi thì không có gì để trở thành hiền trí. Có giới luật thì mới có thể đi mau đến Bồ đề, thế nwn Dại kinh dạy “Giới là thang, là thuyền của hết thảy đạo quả, cũng là rễ là gốc của tất cả thiện báo”. Nếu không giữ giới luật thì làm sao thấy được Phật tính. Chúng sinh tuy có Phật tính, nhưng phải giữ giới thì sau đó mới thấy. Thấy Phật tính mới thành vô thượng Bồ đề.

Giới (Sila): thường được hiểu là giới hạnh, điều luật đạo đức. Sila nguyên nghĩa là tự nhiên là thói quen, như vậy giới vốn là thực tại với những quy luật vận hành rất tự nhiên. Trên phương diện ý nghĩa thì giới là tích cực làm điều thiện, ngăn chặn mọi điều ác để làm thanh tịnh (thân khẩu ý). Giới còn gọi là Ba-la-đề-mộc-xoa hay là Biệt giải thoát, gồm có các điều giới được ghi ró trong giới bản.

Biệt giải thoát là giữ riêng từng giới một sẽ được giải thoát từng phần. Phật tử tại gia thì có Ngũ giới, Thập thiện, Bồ tát tâm địa.

Theo giới bản Tỳ kheo, trong 12 năm đầu gọi là vô sự Tỳ kheo, trong tăng đoàn không có sự gì rắc rối cả. Sau 12 năm mới có kẻ hữu sự, rắc rối. Để đáp ứng yêu cầu thanh tịnh hòa hợp, giới luật được hình thành. Căn bản của giới luật là thiểu dục tri túc. Thiểu dục là ít ham muốn đối với những gì chưa có. Tri túc là biết vừa đủ đối với những gì đã có. Có thiểu dục thì mới không phạm giới. Giữ giới là thiểu dục tri túc chứ không có gì khác. Cho nên kinh Di giáo viết: Người ít muốn thì không đua nịnh quanh co để cầu được lòng người. Cũng không bị các giác quan lôi kéo…ít muốn là có Niết bàn. Vậy lời Phật dạy “An phận thanh bần, giữ gìn đạo hạnh, chỉ duy tuệ giác mới là sự nghiệp”.

Định (Samadhi) có ý nghĩa chung là thiền định (Dhyana) Samadhi là sự tập trung, cô đọng, sự nhất tâm có ý nhấn mạnh sự ngưng tụ. Định là bản thể vắng lặng, nhất như - như thị của hiện tại. Đối với một cá nhân, định là trạng thái thanh tịnh, nhất tâm ổn cố vững vàng, chuyên sâu. Tâm có định mới bình an, không lo lắng trao đảo, không nghi ngờ sợ hãi, có định mới hiểu rõ được sự vật, thông hội được thực tại.

Tuệ (Prajna, Panna) là cái biết trọn vẹn, chiếu rọi, thông suốt vạn pháp, đồng nhất với vạn pháp. Tuệ là cái biết, cái thấy “pháp nhĩ như thị”. Do kết quả của tu tập thiền định mà chân tâm được sáng tỏ, trí tuệ đại vô lậu được hiển hiện, phân biệt được tự tướng của vạn pháp, chứng ngộ lý Tứ đế, đoạn trừ được mọi tư hoặc đưa tác dụng của phần tâm tới chỗ thâm áo cao diệu.

Tổng quan lại mà nói, Giới là cái học về các luật tắc trong sinh hoạt của người tu xuất gia trong tăng đoàn, hay tu sĩ tại gia về điều thiện phải làm cũng như những điều ác phải tránh, giữ gìn (thân khẩu ý) cho thanh tịnh. Định là cái học về thiền định để thân tâm được an ổn, được thanh tịnh. Tuệ là cái học về giáo lý của đức Phật có chính kiến, có trí tuệ quyết trạch vô lậu để thực chứng chân lý tối hậu là giải thoát Niết bàn.

Mỗi chặng của quá trình giới-định-tuệ là một mắt xích đan chặt vào nhau và hỗ tương, dung nhiếp lẫn nhau. Trong giới phải có định, tuệ, trong định phải có giới, tuệ và đương nhiên trong tuệ phải có giới, định. Các tổ thầy thiền học ví giới-định-tuệ như chiếc kiềng ba chân không thể khuyết một chân nào. Cũng vây, người con Phật tu tập nếu có định tuệ mà không giữ giới thì định tuệ ấy có chăng chỉ là tà định, tà tuệ của trí xảo ngoại đạo mà thôi. Vậy phải đứng vững trên đất giới! Cầm chắc thanh gươm trí tuệ được mài sắc trên đá tảng thiền định cắt đứt mọi mối dâm lậu hoặc.

Như vậy , Tam vô lậu học là một pháp môn mà đức Phật đã đi qua và được thực chứng trí huệ Chánh biến tri dưới cội Bồ đề. Cho nên người tu tập phải luôn luôn kết hợp chặt chẽ ba môn đó. Không được loại bỏ một môn nào, nếu thiếu một thì đích điểm tối hậu là giải thoát, an lạc sẽ không bao giờ đạt được.

Nhân ngày đầu xuân tìm hiểu giáo lý đạo Phật, chúng ta cũng chẳng hẹp lòng cùng hoan hỷ thêm chút thời gian để đọc và suy ngẫm về vấn đề Tuệ giác Chánh biến tri của đức Thế Tôn, đó là Tam minh-Lục thông được đề cập dưới đây để chúng ta rộng đường hiểu thêm về Trí Huệ vô lậu.

Với Tam minh lục thông, đức Thế Tôn đã thấu tỏ quá khứ vị lai và tam thiên đại thiên thế giới. Không có pháp nào làm chướng ngại, không có pháp nào mà Thế Tôn không thấy rõ, biết rõ, vì vậy đệ tử thường gọi Ngài là Đấng Pháp Vương.

Như vậy Tam minh: Túc mạng minh, Thiên nhãn minh và Lậu tận minh đây là nội dung chứng ngộ của Phật. Đặc biệt chỉ có Phật mới có một cách đầy đủ Ba minh, mặc dù trên lộ trình tu tập Ba minh luôn được coi là những thành quả sau cùng của một hành giả đắc đạo. Đây có thể là một trong những điều khác biệt giữa đức Phật và đệ tử. Tiến trình giác ngộ bắt đầu từ:

“Ly dục ly bất thiện pháp, chứng và trú thiền thứ nhất. Diệt tầm và tứ  làchứng trú thiền thứ hai. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, xả niệm lạc trú, chứng thiền thứ ba, Xả lạc xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng và trú thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh”.

Đức Phật và các Thánh đệ tử đều đi qua Tứ thiền, trên cơ sở thiền thứ Tư, tâm định tĩnh và nhu nhuyễn, hành giả có thể hướng tâm đến các đối tượng Sáu Thần thông hay Ba minh, chứng ngộ tối hậu.

Trong kinh tạng Nguyên thủy không thấy ghi chép vị Thánh đệ tử nào tự tuyên bố là mình đã chứng được Tam minh. Thường thì các ngài được giới thiệu đã chứng A-la-hán, chứng Diệt thọ tưởng định, và đoạn trừ các lậu hoặc (tương đương với Lậu tận minh). Trong kinh Sáu Thanh Tịnh (Trung Bộ kinh) đức Phật dạy về tiến trình tu tập của một vị Tỳ kheo khi chứng được thiền thứ Tư xong thì “ Với tâm định tĩnh, thuần tịnh không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyễn dễ xử dụng, vững chắc bình thản như vậy, tôi dẫn tâm (chỉ người tu thiền) hướng đến Lậu tận trí.

Tôi biết như thật: Đây là Khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là khổ diệt, đây là con đường đưa đến khổ diệt. Biết như thật, đây là những lậu hoặc, đây là nguyên nhân của lậu hoặc, đây là lậu hoặc được diệt trừ, đây là con đường đưa đến các lậu hoặc được diệt trừ”.

Như vậy, điều cần thiết cho các đệ tử là phải thoát khỏi “dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu để đạt được “sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; không còn trở lại trạng thái này nữa”.

Từ đó chúng ta có thể thấy rõ khả năng thần thông của các đệ tử đều có giới hạn, và vấn đề tu chứng không gắn liền với khả năng thần thông. Vì vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi thấy ngài Mục Kiền Liên được cho là đệ tử thần thông số một trong các thánh đệ tử, nhưng đức Phật không khuyến khích các đệ tử đi vào các thần thông như: Thần túc, Thiên nhãn, Tha tâm, Túc mạng và Thiên nhãn thông; Ngài chú trọng khích lệ các đệ tử hướng tâm vào Lậu tận Minh để thành tựu mục đích tối hậu là giải thoát sinh tử. Các khả năng thần thông không giúp ích gì cho một người chưa đoạn trừ các ô nhiễm (lậu hoặc) của tâm thức; ngược lại thần thông đối với người còn nuôi dưỡng các lậu hoặc nói trên, thì chỉ làm gia tăng bản ngã, cản trở việc giác ngộ-giải thoát.

Nhân đầu xuân đề cập về Trí tuệ vô lâu, người viết cũng xin bàn quá sang vấn đề tại sao hiện nay cộng đồng các nước Âu- Mỹ họ rất khải thị sự minh triết của Phật giáo. Và qua nghiên cứu giáo lý đạo Phật họ đặt câu hỏi: Vì sao minh triết của Phật giáo có được những huyền nhiệm và tiên liệu có khả năng rất xa so với triết học nói chung và với nền triết học đương đại hiện nay.

Nếu phải so sánh (tức chỉ các nhà nghiên cứu triết học phương Tây) họ cho rằng, triết học đương đại hiện nay đang “chững lại” bởi những điều cần nói thì đã nói cả rồi và không còn gì để nói nữa, và họ coi thực tại triết học hiện nay “ví như con rắn quay lại ngậm cái đuôi của mình” nếu không muốn nói là tàn nụi.

Bởi triết học hiện đại không có một hệ thống tư duy của Giới-Định-Tuệ, tức Trí tuệ vô lậu hay còn gọi là (trí vô sư) như Phật giáo. Và giờ đây, triết học và khoa học Tây phương đang tiếp thông không ít vấn đề ở nhiều phạm trù với mục đích là tìm tiếng nói chung cùng Phật giáo giải thích những vấn đề “bất khả tư nghị” (tức thế trí bất khả luận) mà giáo lý đạo Phật thường đề cập.

Xuân Canh Tý - 2020

Cư sĩ: Nguyễn Đức Sinh

Tài liệu tham khảo:

-Kinh Phân biệt Sáu xứ; kinh Ví Dụ con chim cáy; kinh Sáu Thanh tịnh (Trung Bộ Kinh).

-Phật học từ điển - Tác giả Đoàn Trung Còn (Nxb.Tp.HCM-2006)

-Tạp chí nghiên cữu Phật học số 5/1997.

-Bài: Chỗ đứng của đạo Phật trong triết học ở Hoa Kỳ hiện nay của Giáo sư-tiến sĩ: Nguyễn Hữu Liêm (bài thuyết trình được coi là Đề tài khoa học trình bày tại chùa Giác ngộ, P.3- Quận 10- Tp.HCM - đăng tải Điên tử (ĐPNN) 9/8/2017)

Lưu ý : Nguoiphattu.com sẽ biên tập ý kiến của quý vị trước khi xuất bản. Người Phật tử hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và sẽ không đăng những ý kiến cực đoan. Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo sẽ không được đăng. Cám ơn sự đóng góp và quan tâm của quý vị.
Xem tin tức theo ngày:

Tin tức liên quan