Tịnh độ

Chánh hạnh niệm Phật vãng sanh

nguoiphattu.com - Tuyển Trạch Bả Nguyện Nam-mô A-di-đà Phật - Niệm Phật là phương pháp tối thắng cầu vãng sinh cõi Tịnh.

I.Thiền sư Đạo Xước lập Thánh đạo môn và Tịnh độ môn, nhưng bỏ Thánh đạo mà trở về Tịnh độ

TRÍCH DẪN

An Lạc Tập , quyển thượng ghi: “ Hỏi: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, lẽ ra từ bao kiếp lâu xa đến nay đã gặp nhiều Phật, vì sao đến hôm nay vẫn còn luân hồi trong sanh tử, chưa thoát khỏi nhà lửa ?

Đáp: Theo Thánh giáo Đại thừa, do chúng sanh không có được hai pháp tôn quí: Thánh đạo và Tịnh độ để dứt trừ sanh tử, nên không thể ra khỏi nhà lửa. Đời nay, nếu thực hành theo Thánh đạo môn rất khó chứng ngộ, bởi cách Phật quá lâu và nghĩa lí sâu xa, khó hiểu. Cho nên kinh Đại Tập Nguyệt Tạng ghi: “Trong thời mạt pháp của ta, vạn vạn chúng sanh khởi hạnh tu tập, nhưng không ai chứng ngộ”. Nay đúng vào đời năm trược ác thời mạt pháp, chỉ có môn Tịnh độ mới là con đường giúp tất cả chúng sanh vào đạo. Cho nên Đại kinh ghi: “Nếu có người một đời tạo ác, lúc lâm chung niệm danh hiệu ta liên tục mười niệm mà không được vãng sanh, ta sẽ không thành Chánh giác”.

Hơn nữa, chúng sanh không tự suy xét, đối với Đại thừa thì chưa từng chuyên tâm nơi Đệ nhất nghĩa không, chân như thật tướng; đối với Tiểu thừa thì chưa từng tu tập đoạn năm kiết dưới , trừ năm kiết trên để vào Kiến đế tu đạo cho đến chứng A-na-hàm , A-la-hán ; còn đối với phước báo trời người thì hiếm có người giữ được năm giới cấm, mười điều thiện. Nhưng nói về làm ác, tạo tội thì khác nào gió táp mưa sa! Do đó, các Đức Phật khởi lòng đại bi, khuyên chúng sanh trở về cõi Tịnh. Dẫu có một đời tạo ác, nhưng luôn chuyên tinh niệm Phật, ắt các chướng tự trừ, nhất định được vãng sanh. Như thế, sao không suy nghĩ kĩ mà hướng tâm về.

LUẬN RẰNG

Trộm nghĩ, tùy theo chủ trương của mỗi tông mà lập giáo nhiều hay ít để phán định giáo pháp trong một đời của Đức Phật . Như tông Hữu tướng thì lập ba thời là Hữu giáo , Không giáo và Trung đạo giáo . Tông Vô tướng thì lập hai tạng là Bồ-tát tạng và Thanh văn tạng. Tông Hoa Nghiêm thì lập năm thời là Tiểu thừa giáo, Thỉ giáo, Chung giáo, Đốn giáo và Viên giáo, gồm thâu tất cả các giáo. Tông Pháp Hoa thì lập bốn giáo là Tạng, Thông, Biệt, Viên và năm vị là sữa, lạc, sanh tô, thục tô, đề hồ để gồm thâu tất cả giáo. Tông Chân Ngôn thì lập hai giáo là Hiển và Mật. Còn tông Tịnh Độ, thiền sư Đạo Xước lập hai môn là Thánh đạo môn và Tịnh Độ môn để phán định giáo pháp trong một đời của Đức Phật.

Hỏi: Về tên gọi các tông, chỉ có tám tông hoặc chín tông như Hoa Nghiêm, Thiên Thai… chứ chưa nghe nói có tên tông Tịnh Độ. Nay nói tông Tịnh Độ là căn cứ vào đâu?

Đáp: Về căn cứ để lập tên tông Tịnh Độ thì rất nhiều. Như trong bộ Du Tâm An Lạc Đạo của sư Nguyên Hiểu ghi: “Bản ý của tông Tịnh Độ gồm cả phàm phu và thánh nhân”; Tây Phương Yếu Quyết của đại sư Từ Ân ghi: “Y cứ vào Tông này…”; Luận Tịnh Độ của ngài Ca Tài ghi: “Một Tông này chính là con đường thiết yếu…”. Văn minh chứng như thế, các ông không nên nghi ngờ! Nhưng ý chánh của tập sách này, không phải bàn đến phán giáo của các tông mà chỉ nói đến hai môn của Tịnh độ mà thôi.

1. Thánh đạo môn: Môn này bao gồm Đại thừa và Tiểu thừa. Trong Đại thừa tuy có cả Hiển giáo, Mật giáo, Quyền giáo, Thật giáo, nhưng ý của tập sách này chỉ giữ lại Hiển đại thừa và Quyền đại thừa. Cho nên căn cứ theo công hạnh tu hành trải qua nhiều kiếp, thì nên giữ Mật thừa và Thật đại thừa, đó chính là các tông Chân Ngôn, Phật Tâm , Thiên Thai , Hoa Nghiêm, Tam Luận , Pháp Tướng , Địa Luận , Nhiếp Luận ngày nay. Nên biết, bản ý của tám tông chính là chỗ này. Tiểu thừa chính là giáo pháp bàn về hàng Thanh văn , Duyên giác đoạn hoặc chứng lí, nhập thánh đắc quả ghi trong kinh luật luận. Căn cứ theo đó, Tiểu thừa gồm các tông Câu-xá , Thành Thật và Luật tông mà thôi.

Đại ý của Thánh đạo môn, không luận là Đại thừa hay Tiểu thừa, tất cả đều ở nơi thế giới Ta-bà này tu pháp tứ thừa là Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và Phật thừa mà đạt được quả tứ thừa.

2. Vãng sanh Tịnh độ môn: gồm hai phần: a. Kinh luận chính nói về vãng sanh Tịnh độ. b. Kinh luận phụ thuộc nói về vãng sanh Tịnh độ.

a. Kinh luận chính: gồm kinh Vô Lượng Thọ , kinh Quán Vô Lượng Thọ , kinh A-di-đà và Luận Vãng Sanh của ngài Thiên Thân . Ba bộ kinh này gọi là Tịnh Độ tam bộ kinh (ba bộ kinh chính của tông Tịnh Độ).

Hỏi: Về từ ngữ “Tam bộ kinh”có gì để minh chứng chăng?

Đáp: Minh chứng về Tam bộ kinh rất nhiều, như Pháp Hoa tam bộ là kinh Vô Lượng Nghĩa, kinh Pháp Hoa, kinh Phổ Hiền Quán; Đại Nhật tam bộ là kinh Đại Nhật, kinh Kim Cang Đảnh, kinh Tô-tất-địa; Trấn hộ quốc gia tam bộ là kinh Pháp Hoa, kinh Nhân Vương, kinh Kim Quang Minh; Di-lặc tam bộ là kinh Thượng Sanh Đâu-suất, kinh Hạ Sanh, kinh Thành Phật. Ở đây chỉ riêng cho ba bộ kinh về Đức Phật A-di-đà, nên gọi là Tịnh Độ tam kinh. Ba bộ kinh này nói về y báo và chánh báo cõi Tịnh.

b. Kinh luận phụ thuộc: gồm các bộ kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Huỳnh Tùy Cầu, Tôn Thắng và các bộ Luận Đại Thừa Khởi Tín, Bảo Tánh, Thập Trụ Tì-bà-sa, Nhiếp Đại Thừa… nói về hành nghiệp vãng sanh Tịnh Độ.

Tập sách này nêu hai môn Thánh đạo và Tịnh độ, mục đích là muốn khuyên mọi người bỏ Thánh đạo mà quay về Tịnh độ, với không ngoài hai lí do vừa nêu trên là, Thánh đạo cách Phật quá lâu và lí Đại thừa sâu xa khó hiểu. Tông Tịnh Độ lập hai môn này, không chỉ là ý của các ngài Đạo Xước, Đàm Loan , Thiên Thai Trí Khải , Ca Tài, Từ Ân…mà bồ-tát Long Thọ cũng đồng như thế. Như Vãng Sanh Luận Chú của Đàm Loan có ghi: “Luận Thập Trụ Tì-bà-sa của bồ-tát Long Thọ nói rằng: Bồ-tát cầu A-tì-bạt-trí cần phải có Nan hành đạo (khó thực hành) và Dị hành đạo (dễ thực hành). Nan hành là do trong đời năm ác trược không có Phật xuất thế, khó cầu được A-tì-bạt-trí. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến khó đạt, ở đây lược nói năm ý mà thôi: 1. Ngoại đạo tu pháp tương tợ thiện làm rối loạn thật pháp của Bồ-tát; 2. Hàng Thanh văn tự lợi, chướng ngại lòng đại từ bi; 3. Kẻ ác không biết hỗ thẹn, không kể tự tha, khinh chê bậc hiền thiện, phá hoại thắng đức; 4. Quả thiện trời người phá hoại hạnh thanh tịnh; 5. Chỉ có tự lực, không có tha lực nhiếp hộ. Những việc như thế nơi nào cũng có. Nan hành đạo cũng giống như đi đường bộ thì khó khăn, gian hiểm.

Dị hành là bởi chỉ cần với nhân duyên tin Phật, nguyện sanh Tịnh Độ, nương vào nguyện lực của Phật liền được vãng sanh cõi nước thanh tịnh. Nhờ oai lực của Phật nhiếp trì liền vào Chánh định tụ của Đại thừa. Chánh định tức A-bệ-bạt-trí. Dị hành cũng giống như đi thuyền thì an vui, nhanh đến”.

Trong đoạn này, nói Nan hành tức là Thánh đạo môn, Dị hành tức là Tịnh độ môn. Nan hành Dị hành, Thánh đạo Tịnh độ, tên gọi tuy khác nhưng chỉ một mà thôi. Các đại sư Thiên Thai Trí Khải, Ca Tài cũng đồng với chủ trương này. Trong lời tựa bộ Tây Phương Yếu Quyết ghi: “Kính nghĩ: Đức Thích-ca mở vận hội lớn làm lợi ích cho những chúng sanh có duyên, xiển dương giáo pháp, tùy theo quốc độ mà ban pháp nhũ thấm nhuần tất cả. Người đích thân gặp được Như Lai giáo hóa thì tỏ ngộ ba thừa , còn kẻ phước bạc nhân sơ thì khuyên quay về Tịnh độ. Tu tập pháp môn ấy là chuyên niệm A-di-đà, đồng thời đem tất cả căn lành có được hồi hướng nguyện sanh. Bản nguyện của Đức A-di-đà là độ Ta-bà , nên hoặc niệm cả một đời, hoặc mười niệm lúc lâm chung, chắc chắn đều được vãng sanh”. Trong lời bạt bộ Tây Phương Yếu Quyết cũng ghi: “Đã sanh vào thời Tượng pháp , cách Phật quá xa, tu tập ba thừa thì không có cách gì khế ngộ. Hai cõi trời người xao động bất an, chỉ bậc trí cao, tâm rộng mới có thể ở lâu; còn kẻ trí thô, hạnh thiển e chìm đắm nơi tăm tối. Như thế cần phải vượt khỏi Ta-bà, gởi tâm nơi cõi Tịnh”.

Trong hai đoạn văn trên, nói Ba thừa chính là Thánh đạo môn, Tịnh độ chính là Tịnh độ môn. Tuy hai tên khác nhau, nhưng đồng một ý, các học giả tông Tịnh Độ cần phải biết ý chỉ này. Dẫu trước đã tu học Thánh đạo môn, nhưng nếu có tâm với Tịnh độ môn thì nên bỏ Thánh đạo môn mà quay về Tịnh độ. Như pháp sư Đàm Loan bỏ giảng thuyết Tứ luận , một lòng quay về Tịnh độ. Thiền sư Đạo Xước xa lìa hạnh nghiệp Niết-bàn rộng lớn mà chỉ hoằng truyền hạnh Tây phương. Các bậc hiền triết xưa còn như thế, thì hàng ngu si thời mạt pháp lại không tuân theo sao?

Hỏi: Các tông thuộc Thánh đạo môn đều có thầy trò nối tiếp truyền trao, như tông Thiên Thai bắt đầu từ Nam Nhạc Huệ Tư, lần lượt truyền cho Thiên Thai Trí Khải đến Chương An Quán Đảnh, Trí Oai, Huệ Oai, Huyền Lãng, Trạm Nhiên. Tông Chân Ngôn thì từ Đại Nhật Như Lai truyền cho Kim Cang Tát-đỏa đến Long Thọ, Long Trí, Kim Trí, Bất Không. Các tông phái khác cũng đều có huyết mạch tương thừa , còn tông Tịnh Độ chăng?

Đáp: Cũng như các tông thuộc Thánh đạo môn, tông Tịnh Độ cũng có huyết mạch tương thừa. Nhưng tông Tịnh Độ có nhiều thuyết khác nhau. Có thuyết lập huyết mạch phả là: Lô Sơn Huệ Viễn, Từ Mẫn Tam Tạng, Đạo Xước, Thiện Đạo…Ở đây căn cứ theo ngài Đạo Xước và Thiện Đạo để bàn về huyết mạch phả của tông Tịnh Độ. Trong đây cũng có hai thuyết:

- Theo thuyết ghi trong An Lạc Tập, thì bắt đầu Tam tạng Bồ-đề-lưu-chi truyền đến pháp sư Huệ Sủng, pháp sư Đạo Tràng, pháp sư Đàm Loan, pháp sư Đại Hải, pháp sư Pháp Thượng.

- Theo thuyết trong Tăng truyện đời Đường Tống, thì bắt đầu từ Tam tạng Bồ-đề-lưu-chi truyền đến Đàm Loan, Đạo Xước, Thiện Đạo, Hoài Cảm, Thiếu Khương.

II. Hòa-thượng Thiện Đạo lập Chánh hạnh và Tạp hạnh, bỏ Tạp để tu Chánh

TRÍCH DẪN:

Quán Kinh Sớ quyển 4 ghi: “Căn cứ theo hạnh mà lập tín, nhưng hạnh lại có Chánh hạnh và Tạp hạnh”. Chánh hạnh là hạnh chỉ căn cứ theo các kinh nói về vãng sanh Tịnh độ mà tu tập. Đó là chỉ nhất tâm đọc tụng kinh A-di-đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh Vô Lượng Thọ; chỉ nhất tâm quán tưởng, nhớ nghĩ cảnh y chánh báo và y báo trang nghiêm cõi Tịnh; chỉ nhất tâm kính lễ Đức Phật A-di-đà, chỉ nhất tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, chỉ nhất tâm khen ngợi, cung kính cúng dường Phật A-di-đà. Tuy nhiên, trong Chánh hạnh lại có hai môn:

- Chỉ nhất tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, chẳng kể đi đứng nằm ngồi, chẳng luận thời gian lâu mau, niệm niệm miên mật không buông bỏ, không gián đoạn. Đó gọi là Chánh định nghiệp, vì thuận với bản nguyện của Phật A-di-đà.

- Nếu lễ bái, đọc tụng, khen ngợi, cúng dường… thì gọi là Trợ nghiệp.

Ngoài hai hạnh Chánh và Trợ này, tất cả các nghiệp thiện khác đều là Tạp hạnh. Nếu tu tập hai hạnh Chánh và Trợ thì tâm luôn luôn gần gũi, nhớ nghĩ đến Phật, cho nên không gián đoạn. Nếu tu tập Tạp hạnh thì tâm thường bị gián đoạn, tuy có thể hồi hướng được vãng sanh, nhưng đều là hạnh xen tạp.

LUẬN RẰNG:

Đoạn văn trên có hai ý: Một là nói về hành tướng vãng sanh, hai là phân biệt về sự hơn kém của hai hạnh.

1. Hành tướng vãng sanh: Theo hòa-thượng Thiện Đạo, tuy có nhiều hạnh vãng sanh, nhưng đại để được chia làm hai là Chánh và Tạp.

Chánh hạnh lại có phân khai và tổng hợp. Phân khai thì có năm hạnh, tổng hợp thì thành hai hạnh. Năm hạnh: Đọc tụng – Quán sát – Lễ bái – Xưng danh – Khen ngợi cúng dường. Đọc tụng tức là chỉ nhất tâm tụng đọc kinh Quán Vô Lượng Thọ… Quán sát tức chỉ nhất tâm quán tưởng y báo, chánh báo cõi Cực Lạc. Lễ bái tức là chỉ nhất tâm lễ Đức Phật A-di-đà. Xưng danh tức là chỉ nhất tâm xướng niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà. Khen ngợi cúng dường tức là chỉ nhất tâm khen ngợi cúng dường Đức Phật A-di-đà. Nếu chia khen ngợi và cúng dường làm hai thì thành sáu chánh hạnh. Tổng hợp thì thành hai là Chánh nghiệp và Trợ nghiệp. Trong năm chánh hạnh ở trên, hạnh thứ tư là Chánh định nghiệp. Như trong đoạn văn trên ghi: “Chỉ nhất tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, chẳng kể đi đứng nằm ngồi, chẳng luận thời gian lâu mau, niệm niệm miên mật không buông bỏ, không gián đoạn. Đó gọi là Chánh định nghiệp, vì thuận với bản nguyện của Phật A-di-đà”. Trợ nghiệp tức bốn hạnh còn lại. Như trong đoạn văn trên ghi: “Nếu lễ bái, đọc tụng, khen ngợi, cúng dường… thì gọi là Trợ nghiệp”.

Hỏi: Vì sao chỉ có niệm danh hiệu Phật A-di-đà là Chánh định nghiệp?

Đáp: Trong Quán Kinh Sớ nói: “Vì thuận theo bản nguyện của Đức Phật kia”, nghĩa là xưng danh niệm Phật chính là nguyện xưa của Phật A-di-đà. Cho nên người tu hành nương vào nguyện lực Phật nhất định được vãng sanh. Ý nghĩa của bản nguyện sẽ giải thích sau.

Về Tạp hạnh, Quán Kinh Sớ ghi: “Ngoài hai hạnh Chánh và Trợ này, tất cả các nghiệp thiện khác đều là Tạp hạnh”. Ý nói có vô lượng Tạp hạnh, không thể kể hết, ở đây chỉ vì muốn đối lại với năm Chánh hạnh mà nêu ra năm Tạp hạnh. Đó là:

- Tạp hạnh đọc tụng: Đọc tụng, thọ trì tất cả kinh điển Đại-Tiểu-Hiển-Mật, trừ ba bộ kinh nói về vãng sanh Tịnh độ đã nêu trên.

- Tạp hạnh quán sát: Suy nghĩ, quán sát tất cả những sự lí của các giáo Đại-Tiểu-Hiển-Mật, trừ y báo chánh báo cõi Cưc Lạc

- Tạp hạnh lễ bái: Cung kính lễ bái tất cả các Đức Phật, Bồ-tát, chư thiên, hiền thánh, thế gian, trừ Đức Phật A-di-đà.

- Tạp hạnh khen ngợi cúng dường: Tức khen ngợi, cúng dường tất cả các Đức Phật, Bồ-tát, chư thiên, hiền thánh, thế gian, trừ Đức Phật A-di-đà.

Ngoài ra còn có rất nhiều hạnh khác như: bố thí, trì giới…đều thuộc Tạp hạnh.

2. Phân biệt về sự hơn kém của hai hạnh: Quán Kinh Sớ ghi: “Nếu tu hai hạnh chánh và trợ, thì tâm luôn gần gũi, nhớ nghĩ đến Phật, không gián đoạn, đó gọi là vô gián. Nếu tu Tạp hạnh, thì tâm thường gián đoạn, tuy có thể hồi hướng được vãng sanh, nhưng cũng đều thuộc tạp hạnh”. Căn cứ theo văn thì trong Tạp hạnh có năm đôi đối đãi: Thân-sơ, gần-xa, không gián đoạn-gián đoạn, không hồi hướng-hồi hướng, thuần-tạp.

- Thân-Sơ: Thân, nếu tu hai hạnh chánh trợ, sẽ rất thân thiết với Đức Phật A-di-đà. Cho nên Quán Kinh Sớ ghi: “Chúng sanh khởi hạnh, miệng luôn niệm Phật thì Phật nghe, thân luôn lễ Phật thì Phật thấy, tâm luôn nhớ đến Phật thì Phật biết. Chúng sanh nhớ nghĩ đến Phật, Phật cũng nhớ nghĩ đến chúng sanh. Ba nghiệp của Phật và chúng sanh không bao giờ lìa nhau, cho nên nói là thân thiết”. Sơ, nếu tu Tạp hạnh, miệng không xưng danh hiệu Phật thì Phật không nghe, thân không lễ Phật thì Phật không thấy, tâm không nhớ nghĩ đến Phật thì Phật không biết. Chúng sanh không nhớ đến Phật, Phật cũng không nhớ nghĩ đến chúng sanh. Ba nghiệp của Phật và chúng sanh thường lìa nhau, cho nên gọi là xa cách.

- Gần-Xa: Gần, nếu tu hai hạnh chánh trợ, thì rất gần gũi với Đức Phật A-di-đà. Cho nên Quán Kinh Sớ lại ghi: “Chúng sanh nguyện được thấy Phật, Phật tức thời tùy ý niệm hiện đến trước mặt, cho nên gọi là gần gũi”. Xa, nếu tu Tạp hạnh thì không nguyện thấy Phật, Phật không tùy ý niệm hiện đến trước mặt, cho nên gọi là cách xa.

Thân và cận tuy nghĩa giống nhau, nhưng trong Quán Kinh Sớ, ngài Thiện Đạo chia làm hai, cho nên trích dẫn nơi đây.

- Không gián đoạn-Gián đoạn: Không gián đoạn, nếu tu hai hạnh chánh trợ, nhất định sẽ luôn luôn nhớ nghĩ đến Đức Phật A-di-đà, không bao giờ gián đoạn. Gián đoạn, nếu tu Tạp hạnh, tâm không luôn nhớ nghĩ đến Đức Phật A-di-đà, mà thường gián đoạn.

- Không hồi hướng-hồi hướng: Nếu tu hai hạnh chánh trợ, dẫu không hồi hướng cũng tự nhiên thành tựu sự nghiệp vãng sanh. Cho nên Sớ ghi: “Trong Quán Kinh nói: Mười tiếng niệm danh hiệu Phật, đã phát đầy đủ mười nguyện, tu mười hạnh. Vì sao? Vì Nam-mô tức là qui mạng , cũng có nghĩa phát nguyện hồi hướng; A-di-đà Phật tức là hạnh. Vì nghĩa này, cho nên nhất định được vãng sanh”. Hồi hướng, nếu tu Tạp hạnh thì cần phải hồi hướng mới thành tựu nhân vãng sanh. Cho nên Quán Kinh Sớ ghi: “Tuy có thể hồi hướng được vãng sanh…”

- Thuần-Tạp: Nếu tu hai hạnh chánh trợ, thì hoàn toàn là hành nghiệp Cực Lạc, còn tu các hạnh khác thì không phải thuần nhất hành nghiệp Cực Lạc. Vì chung cho cả hành nghiệp trời người và cả Tam thừa, cũng như chung cho khắp các cõi Tịnh trong mười phương, cho nên gọi là tạp. Người tu hành nghiệp Tây phương, cần phải bỏ Tạp hạnh mà tu Chánh hạnh.

Hỏi: Hai nghĩa thuần và tạp này có được xác chứng trong kinh luận không?

Đáp: Trong kinh luật luận Đại-Tiểu thừa có rất nhiều chứng cứ về việc thành lập hai môn thuần tạp. Như Đại thừa lập tám tạng , một là Tạp tạng, bảy là Thuần tạng; trong bốn bộ A-hàm của Tiểu thừa có một Tạp A-hàm, ba là Thuần A-hàm; trong Luật lập hai mươi kiền-độ để nói về giới hạnh, trong đó mười chín kiền-độ trước là Thuần, một kiền-độ cuối cùng là Tạp; Luận cũng lập tám kiền-độ để nói về tánh tướng các pháp, bảy kiền-độ trước là Thuần, một kiền-độ sau là Tạp. Về tập truyện Hiền thánh, các bộ Đường Cao Tăng truyện và Tống Cao Tăng truyện có lập mười khoa để nói về đức hạnh của các cao tăng, trong đó chín khoa trước là Thuần, một khoa sau cùng là Tạp; cho đến trong Đại Thừa Nghĩa Chương cũng lập năm tụ, bốn tụ trước là Thuần, một tụ sau là Tạp. Không chỉ Hiển giáo, Mật giáo cũng có Thuần-Tạp. Như trong Sơn Gia Huyết Mạch Phả ghi: “1, Thai tạng giới mạn-đồ-la huyết mạch phả, một thiên; 2, Kim cang giới mạn-đồ-la huyết mạch phả, một thiên; 3, Tạp mạn-đồ-la huyết mạch phả, một thiên”. Hai thiên trước là Thuần, một thiên sau là Tạp. Minh chứng về thuần tạp rất nhiều, ở đây chỉ nêu ra một số như thế thôi.

Nên biết rằng, nghĩa thuần tạp cũng tùy theo pháp mà thay đổi, không nhất định. Do đó, ở đây chỉ căn cứ theo ý của ngài Thiện Đạo mà luận về thuần tạp của hạnh Tịnh độ. Thuần tạp này không hạn cuộc nơi nội điển , mà trong ngoại điển cũng có rất nhiều, vì sợ dài dòng nên không ghi nơi đây. Nhưng trong hạnh vãng sanh, không chỉ ngài Thiện Đạo mới phân làm hai hạnh thuần tạp, mà thiền sư Đạo Xước cũng cho rằng tuy có nhiều hạnh vãng sanh, nhưng gom lại thành hai, đó là Niệm Phật vãng sanh và Vạn hạnh vãng sanh. Còn thiền sư Hoài Cảm thì nói: “Tuy có rất nhiều hạnh vãng sanh, nhưng gom lại thành hai là: Niệm Phật vãng sanh và Chư hạnh vãng sanh”. Sư Huệ Tâm cũng đồng với ý này. Như thế ba vị cùng lập hai hạnh để gồm thâu hết các hạnh vãng sanh, thật rất hợp với yếu chỉ Tịnh độ.

TRÍCH DẪN:

Vãng Sanh Lễ Tán ghi: “Nếu niệm niệm liên tục, lấy chết làm kì hạn, thì mười người tu mười người vãng sanh, trăm người tu trăm người vãng sanh. Vì sao? Vì không có tạp duyên nên được chánh niệm, tương ứng với bản nguyện của Đức Phật, không trái giáo Tịnh độ, thuận theo lời Phật. Nếu bỏ chuyên tu mà theo tạp tu thì trăm người không được một, ngàn người chẳng được năm, ba. Vì sao? Vì tạp duyên loạn động làm mất chánh niệm, không tương ứng với bản nguyện của Phật, trái với giáo Tịnh độ, không thuận theo lời Phật, niệm không liên tục, tâm có gián đoạn, hồi hướng phát nguyện không khẩn thiết và chân thật, các phiền não tham sân đến làm gián đoạn, không có tâm hỗ thẹn để sám hối, không luôn luôn nghĩ đến việc báo Đáp ân Phật. Khởi tâm khinh mạn, tuy tu tập mà luôn chạy theo danh lợi, tâm nhân ngã che mờ, khiến không thể gần gũi bạn lành đồng hạnh đồng tu. Thích gần gũi tạp duyên, làm chướng ngại chính mình và chướng ngại người khác.

Vì sao? Gần đây tôi thường nghe thấy tăng tục khắp nơi giải hạnh không đồng, dẫn đến tu chuyên, tu tạp khác nhau. Nhưng tu chuyên thì mười người, vãng sanh cả mười; còn tu tạp, vì không chí tâm, nên ngàn người tu không được một người về cõi Tịnh. Việc hơn kém của hai hạnh như trên đã trình bày, kính mong tất cả những người tu hành nghiệp Vãng sanh hãy suy nghĩ kĩ. Những người đời nay đã nguyện sanh về cõi Cực Lạc, thì nên trong tất cả mọi thời gian, khi đi đứng, lúc nằm ngồi hãy gắng lòng, khắc kỉ, ngày đêm niệm niệm liên tục chớ phế bỏ, lấy cái chết làm kì hạn. Như thế, đối với thân hầu như có một ít khổ, nhưng niệm trước mạng chung, niệm sau liền sanh về cõi Tịnh, vĩnh viễn hưởng thụ pháp lạc vô vi, cho đến cuối cùng thành Phật mà không trải qua sinh tử. Như thế, không sung sướng lắm sao?”.

LUẬN RẰNG:

Đọc đoạn văn này lại càng phải nên bỏ Tạp tu trở về Chuyên tu. Lẽ nào lại bỏ Chánh hạnh chuyên tu trăm người trăm được, mà chấp chặt Tạp hạnh tạp tu ngàn người hành mà không ai chứng được sao? Người tu tập cần phải suy nghĩ kĩ!

III. Đức A-di-đà không lấy các hạnh khác làm bản nguyện vãng sanh, chỉ lấy Niệm Phật làm bản nguyện vãng sanh

TRÍCH DẪN:

Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Như ta thành Phật mà các chúng sanh trong mười phương một lòng tin thích, muốn sanh về cõi nước của ta, dù chỉ niệm mười niệm liền được vãng sanh. Nếu không, ta không giữ ngôi Chánh giác”.

Quán Niệm Pháp Môn ghi: “Nếu ta thành Phật, các chúng sanh trong mười phương nguyện sanh về cõi nước ta, dù chỉ xưng niệm danh hiệu ta mười tiếng, liền nương nguyện lực của ta mà vãng sanh, nếu không ta không giữ ngôi Chánh giác”.

Vãng Sanh Lễ Tán cũng dẫn đoạn văn phát nguyện trên và bàn thêm rằng: “Đức Phật ấy thành Phật trong đời hiện tại. Nên biết thệ nguyện xưa rất sâu nặng, không hư dối. Nếu chúng sanh xưng niệm nhất định được vãng sanh”.

LUẬN RẰNG:

Mỗi Đức Phật đều có hai nguyện là nguyện chung và nguyện riêng. Nguyện chung chính là bốn thệ nguyện rộng lớn . Nguyện riêng, như Đức Thích-ca có năm trăm nguyện lớn, Đức Dược Sư có mười hai nguyện… Như bốn mươi tám nguyện ở đây, tức là nguyện riêng của Đức A-di-đà.

Hỏi: Đức A-di-đà Như Lai phát những lời nguyện này từ bao giờ và trước Đức Phật nào?

Đáp: Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Phật dạy A-nan: Vào thời quá khứ lâu xa, cách nay vô lượng chẳng thể tính bàn vô ương số kiếp , Đức Phật Định Quang xuất hiện ở thế gian, giáo hóa vô lượng chúng sanh, khiến tất cả đều được vào đạo rồi Ngài vào Niết-bàn. Kế đó lại có Đức Phật Quang Viễn, Phật Xử Thế cho đến Đức Phật thứ năm mươi ba xuất thế rồi vào Niết-bàn. Bấy giờ có Đức Phật hiệu là Thế Tự Tại Vương trụ ở đời. Có một vị vua nghe Phật thuyết pháp, trong lòng vui sướng liền phát tâm Vô thượng chánh chân đạo , từ bỏ ngôi vua, xuất gia làm sa-môn , hiệu là Pháp Tạng, tài cao, trí sáng, siêu việt thế gian. Một hôm Sa-môn này đến trụ xứ của Phật Thế Tự Tại Vương. Đức Phật nói rộng về trời người thiện ác, cõi nước đẹp xấu trong hai trăm mười ức Phật độ. Tất cả đều tương ứng với tâm nguyện của Sa-môn mà hiện ra. Vị Sa-môn nghe Đức Phật nói về cõi nước trang nghiêm thanh tịnh thì cũng liền thấy được tất cả. Do đó, Ngài phát thệ nguyện vô thượng thù thắng, trong tâm vắng lặng, ý không dính mắc, tất cả người thế gian không ai bằng. Trải qua năm kiếp, vị Sa-môn tư duy, giữ lấy hạnh thanh tịnh trong cõi Phật trang nghiêm.

A-nan lại hỏi: Tuổi thọ của Đức Phật ấy bao nhiêu?

Đức Phật Đáp: Tuổi thọ của Đức Phật ấy là bốn mươi hai kiếp.

Bấy giờ Tì-kheo Pháp Tạng giữ lấy hạnh thanh tịnh trong hai trăm mười ức cõi Phật vi diệu”.

Kinh Đại A-đi-đà ghi: “Đức Phật ấy tuyển chọn trời người thiện ác, cõi nước đẹp xấu trong hai trăm mười ức cõi Phật, chọn lấy những nguyện mà tâm ưa thích. Đức Phật Lâu-di-hỗ-la (Phật Thế Tự Tại Vương) lại thuyết kinh, Tất-đàm-ma-ca (Pháp Tạng) liền chuyên nhất tâm mình mà chứng đắc Thiên nhãn, thấy suốt trời người thiện ác, cõi nước đẹp xấu trong hai trăm mười ức cõi Phật, chọn những ước nguyện trong tâm đúc kết thành kinh Nhị Thập Tứ Nguyện”(kinh Bình Đẳng Giác cũng giống như thế).

Tuyển chọn nghĩa là lấy bỏ. Tức là trong hai trăm mười ức cõi Phật, bỏ trời người ác, chọn lấy trời người thiện; bỏ cõi nước xấu, chọn lấy cõi nước tốt đẹp. Nghĩa tuyển chọn trong kinh Đại A-di-đà như thế. Trong kinh Song Quyển cũng có ý nghĩa tuyển chọn, như kinh ấy ghi: “Tì-kheo Pháp Tạng giữ lấy hạnh thanh tịnh trong hai trăm mười ức cõi Phật vi diệu”. Tuyển chọn và giữ lấy cũng đồng một nghĩa. Thế thì xả bỏ hạnh không thanh tịnh mà chọn lấy hạnh thanh tịnh. Ý nghĩa trời người thiện ác, cõi nước đẹp xấu, theo đó cũng biết được.

Nay căn cứ theo bốn mươi tám nguyện, đơn phối hợp (nhất vãng), mỗi mỗi luận về nghĩa tuyển chọn, nhiếp thủ:

1. Nguyện không có ba đường ác , tức là trong hai trăm mười ức cõi Phật mà Tì-kheo Pháp Tạng nhìn thấy, có cõi nước có ba đường ác, có cõi nước không có ba đường ác. Như vậy chọn bỏ cõi nước thô xấu có ba đường ác, chọn lấy cõi nước thiện diệu không có ba đường ác. Cho nên gọi là tuyển chọn.

2. Nguyện không trải qua ba đường ác, tức trong cõi nước của các Đức Phật, tuy có cõi nước không có ba đường ác, nhưng nhân dân cõi ấy sau khi chết lại phải trải qua cõi nước có ba đường ác, hoặc có cõi nước không trải qua ba đường ác. Nay chọn bỏ cõi nước thô xấu chúng sinh sau khi chết, phải trải qua ba đường ác, chọn lấy cõi nước thiện diệu không trải qua ba đường ác. Cho nên gọi là tuyển chọn.

3. Nguyện thân đều có màu vàng ròng, tức trong các cõi nước của Đức Phật, hoặc cõi nước có hai loại trời người thân màu vàng và trắng, hoặc có cõi thuần chúng sanh thân màu vàng ròng. Nay chọn bỏ cõi nước thô xấu, có hai loại thân vàng và trắng, chọn lấy cõi nước thiện diệu có thuần chúng sanh thân màu vàng. Cho nên gọi là tuyển chọn.

4. Nguyện không có thân đẹp xấu, tức trong các cõi nước của Phật, có cõi nước mà trời người trong đó có hình sắc đẹp xấu khác nhau, hoặc có cõi nước mà chúng trời người trong đó chỉ một loại hình sắc, không có đẹp xấu khác nhau. Nay chọn bỏ cõi thô xấu có thân đẹp xấu khác nhau, chọn lấy cõi thiện diệu có thân chúng sanh đồng nhất, không đẹp xấu. Nên gọi là tuyển chọn.

Cho đến thứ 18, nguyện niệm Phật vãng sanh, tức trong cõi nước của Đức Phật kia, hoặc có cõi dùng bố thí làm hạnh vãng sanh, hoặc có cõi dùng trì giới làm hạnh vãng sanh, hoặc có cõi dùng nhẫn nhục làm hạnh vãng sanh, hoặc có cõi dùng tinh tấn làm hạnh vãng sanh, hoặc có cõi dùng thiền định làm hạnh vãng sanh, hoặc có cõi dùng trí huệ (tin Đệ nhất nghĩa…) làm hạnh vãng sanh, hoặc có cõi dùng tâm Bồ-đề làm hạnh vãng sanh, hoặc có cõi dùng việc trì kinh làm hạnh vãng sanh, hoặc có cõi dùng việc trì chú làm hạnh vãng sanh; hoặc có cõi dùng các hạnh xây dựng chùa tháp, tạo tôn tượng, cúng dường thức ăn cho sa-môn cho đến hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự thầy tổ làm hạnh vãng sanh; hoặc có cõi dùng hạnh chuyên xưng niệm danh hiệu Đức Phật cõi ấy làm hạnh vãng sanh. Như thế dùng một hạnh phối hợp với một cõi Phật, cho nên gọi là đơn phối hợp (nhất vãng).

Nếu luận theo phức phối hợp (tái vãng) thì ý nghĩa không nhất định, hoặc trong một cõi Phật dùng nhiều hạnh làm hạnh vãng sanh, hoặc có nhiều cõi Phật lại dùng một hạnh làm hạnh vãng sanh chung. Có rất nhiều hạnh vãng sanh như thế không thể kể hết. Nay chọn bỏ những hạnh bố thí, trì giới cho đến hiếu dưỡng cha mẹ…, mà chọn lấy hạnh chuyên xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nên gọi là tuyển chọn.

Trên đây chỉ căn cứ theo năm nguyện, sơ lược luận bàn về nghĩa tuyển chọn như thế, thì tất cả các nguyện khác chuẩn theo đó cũng có thể biết được.

Hỏi: Căn cứ các nguyện, thì lí chọn bỏ cõi thô xấu, chọn lấy cõi thiện diệu thật đúng như vậy. Nhưng vì sao nguyện thứ mười tám chọn bỏ tất cả các hạnh, chỉ chọn lấy một hạnh Niệm Phật làm hạnh vãng sanh?

Đáp: Ý Phật thật khó lường, không thể tự ý giải thích. Tuy nhiên, nay thử dùng nghĩa hơn kém và nghĩa dễ khó để luận bàn xem.

- Hơn kém: Niệm Phật là hơn, các hạnh khác thì kém. Vì sao? Vì danh hiệu Phật là nơi trở về của muôn đức. Thế thì Đức Phật A-di-đà có đủ tất cả các công đức nội chứng (tự chứng) như bốn trí , ba thân , mười lực , bốn vô sở úy và tất cả công đức ngoại dụng (hóa tha) như tướng hảo , ánh sáng, thuyết pháp, lợi sanh…Tất cả các công đức nội, ngoại ấy đều thâu vào trong danh hiệu A-di-đà, cho nên công đức của danh hiệu rất tối thắng. Các hạnh khác thì không được như thế, mỗi hạnh chỉ có một phần công đức, vì thế cho nên kém vậy. Ví như nói ngôi nhà, thì trong từ ngôi nhà ấy đã thâu hết tất cả các loại như: kèo, cột, rui, mè, đòn dông…Nhưng kèo, cột, rui, mè thì không thể gồm thâu tất cả những loại khác được. Thế thì công đức của danh hiệu Phật hơn tất cả các công đức khác. Cho nên bỏ kém, chọn hơn làm bản nguyện.

- Dễ khó: Niệm Phật thì dễ tu, các hạnh khác rất khó tu. Cho nên trong Vãng Sanh Lễ Tán ghi: “Hỏi: Vì sao không cho tu quán, mà chỉ khuyên chuyên niệm danh hiệu? Đáp: Đó là do chúng sanh nghiệp chướng sâu nặng, cảnh quán thì vi tế, tâm tâm thì thô phù, thức lại mênh mang, thần thì bay bỗng. Nếu tu quán thật khó thành. Vì thế, bậc Đức Phật xót thương, chỉ khuyên niệm danh hiệu Phật. Hơn nữa, chỉ cần niệm liên tục thì được vãng sanh”.

Vãng Sanh Yếu Tập ghi: “Hỏi: Tất cả các nghiệp thiện đều có lợi ích, mỗi mỗi đều có thể hồi hướng vãng sanh, vì sao chỉ khuyên niệm Phật? Đáp: Khuyên niệm Phật, chẳng phải là không cho thực hành các hạnh lành khác, chỉ vì không kể nam nữ, sang hèn, không phân nằm ngồi đi đứng, không luận thời tiết nóng lạnh, chẳng quản nơi chốn gần xa…, hễ tu thì dễ thành. Cho đến lúc lâm chung nguyện cầu vãng sanh, không pháp nào hiệu quả hơn niệm Phật”.

Thế biết, niệm Phật dễ tu, nên chung cho tất cả các hạng chúng sanh, còn các hạnh khác khó hành, nên không bao trùm các loại. Vậy Đại Thánh muốn khiến chúng sanh bình đẳng vãng sanh, bỏ khó lấy dễ làm bản nguyện. Nếu lấy việc tạo tượng, xây tháp làm bản nguyện, thì những người nghèo hèn, khốn khổ ắt hết hi vọng vãng sanh, nhưng người giàu sang thì ít, kẻ nghèo hèn thì nhiều. Nếu dùng tài cao, trí tuệ làm bản nguyện thì kẻ ngu độn, trí kém tuyệt đường vãng sanh, nhưng kẻ ngu độn thì nhiều, người có trí tuệ lại ít. Nếu lấy nghiệp học rộng hiểu nhiều làm bản nguyện, thì kẻ ít học ít biết hết hi vọng vãng sanh, nhưng người học rộng thì ít, kẻ ít học thì nhiều. Nếu lấy trì giới, trì luật làm bản nguyện thì kẻ phá giới, không giới nhất định hết hi vọng vãng sanh, nhưng người trì giới thì ít, kẻ phá giới không giới thì nhiều. Tất cả các hạnh khác căn cứ theo đây cũng có thể biết được.

Hơn nữa, nếu dùng các hạnh trên làm bản nguyện thì rất ít người được vãng sanh. Thế thì Tì-kheo Pháp Tạng A-di-đà Như Lai khi xưa phát khởi lòng từ bi, vì nhiếp thủ tất cả, nên không dùng các hạnh xây tháp, tạo tượng…làm bản nguyện, chỉ lấy niệm Phật làm bản nguyện. Cho nên, trong bộ Ngũ Hội Pháp Sự Tán , thiền sư Pháp Chiếu có viết: “Đức Phật A-di-đà, trong lúc tu nhân đã lập thệ nguyện: “Người nào nghe danh hiệu ta, niệm danh hiệu ta thì ta đều đến đón, không kể nghèo hèn hay giàu sang, trí thấp hay tài cao, nghe nhiều học rộng, giữ tịnh giới hay phá giới, gốc tội sâu dày. Chỉ cần hồi tâm thường niệm Phật, thì có thể khiến cho ngói vỡ biến thành vàng ròng”.

Hỏi: Tất cả Bồ-tát dù đã lập thệ nguyện, nhưng có vị đã thành tựu, có vị chưa thành tựu, không biết bốn mươi tám nguyện của bồ-tát Pháp Tạng nay đã thành chưa?

Đáp: Tất cả nguyện của bồ-tát Pháp Tạng đã thành tựu. Vì sao? Vì trong cõi Cực Lạc không có ba đường ác, tức đã thành tựu nguyện “Không có ba đường ác”. Làm sao biết được? Vì kinh Phật Thuyết Vô Lượng Thọ khi nói về nguyện thành tựu có ghi: “Cũng không có cõi nước có các nạn địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh”. Lại nói trời người cõi kia sau khi mạng chung không trải qua các đường ác, đó chính là thành tựu nguyện “Không trải qua ba đường ác”. Làm sao biết? Vì văn kinh ghi: “Các Bồ-tát kia cho đến lúc thành Phật cũng không trải qua ba đường ác”. Lại nói tất cả trời người trong cõi Cực Lạc đều đầy đủ ba mươi hai tướng đại trượng phu, đó là thành tựu nguyện “Đầy đủ ba mươi hai tướng”. Làm sao biết? Vì văn kinh ghi: “Người sanh vào nước ấy đều đầy đủ ba mươi hai tướng”. Như vậy, từ nguyện thứ nhất “Không có ba đường ác”, cho đến nguyện cuối cùng “Đạt được ba pháp nhẫn” đều đã thành tựu. Há riêng nguyện thứ mười tám “Niệm Phật vãng sanh” không thành tựu sao?

Thế thì người niệm Phật nhất định vãng sanh. Làm sao biết? Vì văn kinh khi nói về nguyện thành tựu, có ghi: “Nếu chúng sanh nghe danh hiệu của Đức Phật A-di-đà, khởi lòng tin thích, vui vẻ, dù chỉ niệm một niệm, rồi chí tâm hồi hướng nguyện sanh về cõi nước của Ngài, nhất định được sanh, chứng Bất thoái chuyển”. Bốn mươi tám nguyện trang nghiêm cõi Tịnh, thì tất cả ao sen, lầu gác báu… đều là do nguyện lực mà thành, vì sao lại chỉ nghi ngờ nguyện Niệm Phật vãng sanh? Lại thêm, cuối mỗi mỗi nguyện còn nói: “Nếu chẳng như thế, ta chẳng giữ ngôi Chánh giác” mà Phật A-di-đà thành Phật đến nay đã mười kiếp. Nguyện thành Phật đã thành tựu, thì biết tất cả các nguyện khác chẳng phải lập suông. Cho nên ngài Thiện Đạo nói: “Đức Phật ấy hiện tại đã thành Phật, nên biết bản thệ nguyện sâu nặng thật không hư dối. Chúng sanh xưng niệm nhất định được vãng sanh”.

Hỏi: Kinh nói là mười niệm, giải thích là mười tiếng. Vậy nghĩa niệm và tiếng như thế nào?

Đáp: Niệm và tiếng chỉ là một. Vì sao? Vì trong phần Hạ phẩm hạ sanh trong kinh Quán Vô Lượng Thọ ghi: “Tiếng không gián đoạn, đầy đủ mười niệm xưng Nam-mô A-di-đà-Phật. Vì niệm danh hiệu Phật, cho nên trừ được tội sanh tử trong tám mươi ức kiếp”. Nay căn cứ theo đoạn văn này thì đã rõ, tiếng tức là niệm, niệm tức là tiếng. Thêm nữa, kinh Đại Tập Nguyệt Tạng ghi: “Niệm lớn thấy Phật lớn, niệm nhỏ thấy Phật nhỏ”. Sư Hoài Cảm giải thích rằng: “Niệm lớn tức lớn tiếng niệm Phật, niệm nhỏ tức nhỏ tiếng niệm Phật”. Cho nên biết niệm tức là xướng niệm vậy.

Hỏi: Kinh ghi: “Nãi chí”, các bản giải thích là “hạ chí”, vậy có nghĩa gì?

Đáp: “Nãi chí” và “hạ chí” giống nhau. Kinh nói “nãi chí”, tức là từ nhiều xuống ít, nhiều là niệm trọn một đời, ít là xuống còn (dù chỉ) mười tiếng hoặc một tiếng. Còn giải thích “nãi chí” là “hạ chí”, thì hạ là đối với thượng. Hạ tức là dưới xuống còn (dù chỉ) mười niệm hay một niệm. Thượng tức là trên thì trọn một đời. Văn kinh luận đề cập đến thượng và hạ rất nhiều. Như trong nguyện “Túc mệnh thông” ghi: “Ví như ta thành Phật mà trời người trong cõi nước của ta không biết được túc mệnh , dù chỉ không biết các việc trong trăm nghìn na-do-tha kiếp, ta cũng không giữ ngôi Chánh giác”. Trong văn các nguyện về năm thần thông, ánh sáng, thọ mệnh đều có chữ Hạ chí, đó là ý nghĩa từ nhiều đến ít, dùng hạ đối với thượng vậy. Chữ Nãi chí trong nguyện này tức là Hạ chí. Cho nên ngài Thiện Đạo giải thích là Hạ chí, ý nghĩa cũng không trái. Nhưng ý các Sư và Thiện Đạo khác nhau. Các Sư giải thích hạn cuộc thành nguyện Thập niệm vãng sanh, ngài Thiện Đạo tổng gom, thành nguyện Niệm Phật vãng sanh. Các Sư phân biệt như thế, ý nghĩa không trọn vẹn. Vì sao? Vì trên thì không nói một đời, dưới thì không nói một niệm. Ngài Thiện Đạo lập nguyện Niệm Phật vãng sanh thì ý nghĩa trọn vẹn, vì trên thì nói đến một đời, dưới cũng giữ lấy một niệm.

IV. Ba hạng người niệm Phật vãng sanh

TRÍCH DẪN:

Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Phật dạy A-nan: Các trời và người trong thế giới ở mười phương chí tâm tin thích, nguyện sanh về nước Cực Lạc, gồm có ba hạng:

Bậc thượng, là những người xuất gia làm Sa-môn, phát tâm bồ-đề, một lòng chuyên niệm danh hiệu Đức Phật Vô Lượng Thọ, tu tập các công đức, nguyện sanh về cõi nước Cực Lạc. Những người này lúc sắp chết, Đức Phật Vô Lượng Thọ và các Thánh hiện đến trước mặt, họ liền theo Phật sanh về nước của Ngài, tự nhiên hóa sanh trong hoa bảy báu, trụ nơi giai vị Bất thoái chuyển, được trí tuệ sáng tỏ, sức thần thông tự tại. Vì thế, này A-nan! Nếu có chúng sanh muốn ngay trong đời này thấy được Đức Phật Vô Lượng Thọ thì nên phát tâm Vô thượng bồ-đề, tu các công đức, nguyện sanh về nước Cực Lạc.

Đức Phật lại bảo A-nan: Bậc trung, là những trời người trong các thế giới ở mười phương, một lòng nguyện sanh về nước kia, dù không thực hành hạnh sa-môn, tu tập các công đức, nhưng phát tâm Vô thượng bồ-đề, chí tâm niệm danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ, hồi hướng tất cả những công đức có được từ việc thực hành các điều thiện như giữ gìn trai giới, xây dựng chùa tháp, tạo lập tôn tượng, cúng dường sa-môn, treo phan đốt đèn, thắp hương rải hoa nguyện sanh về cõi ấy. Người này lúc sắp chết, Đức Phật Vô Lượng Thọ hiện hóa thân có đầy đủ ánh sáng, tướng hảo như Phật thật cùng với đại chúng hiện đến trước mặt. Người này liền theo Hóa Phật sanh về nước ấy, trụ giai vị Bất thoái chuyển, công đức và trí tuệ chỉ sau bậc thượng.

Đức Phật lại bảo A-nan: Bậc hạ, là những trời người trong các thế giới ở mười phương chí tâm muốn sanh vào nước kia, giả sử họ không thể tạo các công đức, nhưng phát tâm Vô thượng bồ-đề, một lòng niệm danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ, dù chỉ mười niệm hay chỉ một niệm, với tâm chí thành nguyện sanh về nước ấy, nghe pháp sâu xa vui vẻ tin thích, không nghi ngờ. Người này lúc sắp chết, mộng thấy Đức Phật kia, cũng được vãng sanh, công đức trí huệ kém hơn bậc hạ.

LUẬN RẰNG:

Hỏi: Bậc thượng ngoài việc niệm Phật, còn có các hạnh xuất gia, lìa dục. Bậc trung còn có các hạnh xây dựng chùa tháp, tạo lập tôn tượng…Bậc hạ cũng có các hạnh như phát tâm bồ-đề…Vì sao chỉ nói Niệm Phật vãng sanh?

Đáp: Trong bộ Quán Niệm Pháp Môn của ngài Thiện Đạo ghi: “Phần đầu trong quyển hạ của kinh này ghi: Phật dạy căn tánh của chúng sanh không đồng, có thể chia làm ba bậc thượng, trung, hạ. Mỗi mỗi căn tánh, Đức Phật đều khuyên chuyên niệm danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ. Những người này lúc sắp chết, Đức Phật và các Thánh đến rước, liền được vãng sanh”. Căn cứ theo lời giải thích này, thì ba bậc đều có nói Niệm Phật vãng sanh.

Hỏi: Lời giải thích này chưa đáp ứng được câu gạn hỏi trên. Hỏi rằng vì sao không nói đến các hạnh khác mà chỉ nói đến Niệm Phật?

Đáp: Việc này có ba ý: Một là bỏ các hạnh, trở về hạnh Niệm Phật, nên mới nói đến các hạnh. Hai là trợ giúp để thành tựu hạnh Niệm Phật, nên mới nói đến các hạnh. Ba là căn cứ hạnh Niệm Phật và các hạnh, mỗi mỗi lập ba phẩm, nên phải nói đến các hạnh.

- Vì muốn bỏ các hạnh, trở về hạnh Niệm Phật: Căn cứ theo Quán Kinh Sớ của Thiện Đạo, từ trước đến đây tuy nói về lợi ích của hai môn Định-Tán, nhưng căn cứ theo ý bản nguyện Phật, khuyên chúng sanh một bề chuyên niệm Phật A-di-đà để giải thích, thì bậc thượng tuy nói đến các hạnh phát tâm Bồ-đề…, nhưng căn cứ theo ý bản nguyện, chúng sanh chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, thì trong bản nguyện không có các hạnh khác. Ba bậc đều căn cứ theo bản nguyện, cho nên nói: “Nhất hướng (một bề) chuyên niệm Phật Vô Lượng Thọ”. Nói Nhất hướng là đối lại với nhị hướng, tam hướng…Ví như ở Ấn Độ xưa có ba loại chùa: Nhất hướng Đại thừa tự, chỉ tu tập theo Đại thừa; Nhất hướng Tiểu thừa tự, chỉ tu tập theo Tiểu thừa; Đại Tiểu kiêm hành tự, tu học cả Đại và Tiểu. Trong hai loại chùa Đại và Tiểu đều có chữ Nhất hướng, còn trong Kiêm hành thì không. Nhất hướng trong đây cũng như vậy, tức là một bề chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Nếu ngoài niệm Phật, còn tu thêm hạnh nào khác thì không gọi là nhất hướng. Căn cứ theo đó, nếu đã nói nhất hướng thì không gồm tu các hạnh khác vậy. Trước nói các hạnh, sau nói một bề chuyên niệm, thì biết rõ là phế các hạnh, chỉ chọn niệm Phật mà thôi. Nếu không như thế thì lời nhất hướng thật khó thông.

- Trợ giúp để thành tựu hạnh Niệm Phật: Có hai ý. Một, dùng căn lành đồng loại trợ giúp; hai, dùng căn lành khác loại để trợ giúp.

+ Dùng căn lành đồng loại: Trong Quán Kinh Sớ của Thiện Đạo có nêu ra năm hạnh để trợ giúp thành tựu một hạnh Niệm Phật, như đã nói trong phần Chánh hạnh-Tạp hạnh.

+ Dùng căn lành khác loại: Trước căn cứ theo bậc thượng để nói về trợ hạnh. Một bề chuyên niệm danh hiệu Phật Vô Lượng Thọ là chánh hạnh, cũng là hạnh được trợ giúp. Bỏ gia đình, lìa dục làm sa-môn, phát tâm Bồ-đề là trợ hạnh, cũng là năng lực trợ giúp. Sự nghiệp vãng sanh lấy niệm Phật làm gốc, cho nên chuyên tâm niệm Phật. Chuyên tâm niệm Phật thì thực hành mãi mãi, không lui sụt, không bỏ phế; còn xuất gia, phát tâm bồ-đề chỉ một lần đầu mà thôi, cho nên không ngăn ngại niệm Phật. Trong bậc trung có các trợ hạnh xây tháp, tạo tượng, treo tràng phan, thắp đèn, rải hoa, đốt hương. Tức nơi chốn, pháp khí và các phẩm vật cúng dường cho việc niệm Phật.Về ý nghĩa của các trợ hạnh này được ghi đầy đủ trong Vãng Sanh Yếu Tập. Bậc hạ cũng có phát tâm, cũng có niệm Phật. Ý nghĩa chánh trợ niệm Phật căn cứ theo đoạn trước cũng có thể biết được.

+ Căn cứ theo hai môn: Niệm Phật và các hạnh, mỗi mỗi lập ba phẩm: Trước theo Niệm Phật, vì trong ba bậc đều nói: Một bề chuyên niệm Phật Vô Lượng Thọ. Nên phải căn cứ theo môn niệm Phật mà lập ba phẩm. Phần Niệm Phật chứng cứ môn trong Vãng Sanh Yếu Tập ghi: “Kinh Song Quyển nói hành nghiệp của ba bậc tuy sâu cạn khác nhau, nhưng đều có ghi: Một bề chuyên niệm Phật Vô Lượng Thọ” (sư Hoài Cảm cũng nói đồng với ý này). Kế đến theo các hạnh, vì trong ba bậc này đều có các hạnh phát tâm bồ-đề… Cho nên phải căn cứ theo các hạnh mà lập ba bậc. Phần Chư hạnh vãng sanh môn trong Vãng Sanh Yếu Tập ghi: “Kinh Song Quyển nói ba bậc cũng không ra ngoài các hạnh này”.

Ba nghĩa trên tuy khác nhau, nhưng đều vì môn Nhất hướng niệm Phật. Thứ nhất là nghĩa lấy và bỏ; thứ hai là nghĩa chánh và trợ, tức là vì hỗ trợ cho chánh nghiệp là Niệm Phật mà nói đến trợ nghiệp là các hạnh; thứ ba là nghĩa chánh và phụ, tuy nói cả hai, nhưng lấy niệm Phật làm chánh, các hạnh làm phụ. Nhưng ba nghĩa này cũng rất khó hiểu, xin người học tùy tâm, chọn lựa lấy bỏ. Nhưng theo ý của ngài Thiện Đạo thì nghĩa thứ nhất là cốt yếu.

Hỏi: Hạnh nghiệp vãng sanh của ba bậc đều nói niệm Phật, đó là lẽ đương nhiên, nhưng chín phẩm trong Quán Kinh và ba bậc trong kinh Vô Lượng Thọ vốn là khai hợp khác nhau. Nếu thế, vì sao ba bậc trong kinh Vô Lượng Thọ đều nói niệm Phật, còn trong chín phẩm của Quán Kinh thì hai phẩm thượng và trung không nói niệm Phật, đến phẩm hạ mới nói niệm Phật?

Đáp: Câu này có hai ý: Một, lời hỏi có nêu: chín phẩm trong Quán Kinh và ba bậc trong kinh Vô Lượng Thọ là khai hợp khác nhau. Như thế thì biết trong chín phẩm đều có niệm Phật. Vì sao biết? Vì trong ba bậc đều có niệm Phật, lẽ nào trong chín phẩm không có niệm Phật sao? Cho nên Vãng Sanh Yếu Tập ghi: “Trong chín phẩm, hạnh Niệm Phật thuộc về phẩm nào? Đáp: ‘Nếu như thuyết mà hành, lẽ ra thuộc về Thượng thượng, nhưng tùy hơn kém (có thể do căn cơ, cũng có thể do hành trì) mà phân làm chín phẩm. Nhưng hành nghiệp chín phẩm mà kinh nói, chỉ mới nêu một lẽ, thật ra là vô lượng’”. Cho nên biết chín phẩm cũng có hạnh Niệm Phật. Hai, ý của Quán Kinh, đầu tiên nói rộng về hạnh Định-Tán, để thích hợp với tất cả khả năng trình độ, sau phế bỏ Định thiện-Tán thiện để trở về niệm Phật. Đó chính là ý trong câu kinh: “Ông hãy thọ trì thật kĩ lời này…” trong Quán Kinh. Ý nghĩa đoạn văn này sẽ trình bày ở phần sau. Vì thế nên biết, hành nghiệp chín phẩm vãng sanh cốt ở niệm Phật.

V. Niệm Phật được lợi ích

TRÍCH DẪN:

Kinh Vô Lượng Thọ, quyển hạ ghi: “Đức Phật bảo Di-lặc : Nếu người nào nghe danh hiệu của Đức Phật kia mà khởi tâm vui mừng, dù chỉ một niệm xưng danh, nên biết người ấy được lợi ích lớn, đầy đủ công đức vô thượng.

Vãng Sanh Lễ Tán của Thiện Đạo ghi: “Nếu người được nghe danh hiệu của Đức Phật A-di-đà, khởi tâm hoan hỉ, dù chỉ một niệm xưng danh, người ấy sẽ được vãng sanh”.

LUẬN RẰNG:

Hỏi: Trong đoạn văn nói về ba bậc vãng sanh, ngoài công đức niệm Phật, còn có các công đức khác như phát tâm Bồ-đề… Vì sao không khen ngợi các công đức ấy, chỉ khen ngợi công đức niệm Phật?

Đáp: Ý của Đức Phật khó lường, nhất định Ngài có chủ ý sâu xa. Nhưng nay hãy căn cứ theo ý của đại sư Thiện Đạo mà trình bày. Ý của Đức Phật tuy chỉ muốn nói thẳng về hạnh Niệm Phật, nhưng nhất thời tùy căn cơ mà thuyết thêm các hạnh, chia ra ba bậc sâu cạn khác nhau. Nay sư cũng đã bỏ mà không khen ngợi, gác qua mà không luận đến, chỉ chọn một hạnh Niệm Phật để khen, thì suy nghĩ cũng có thể phân biệt được tại sao. Nếu căn cứ theo hạnh Niệm Phật để phân biệt ba bậc thì có hai ý: Một, tùy theo quán và niệm sâu cạn mà phân thành ba bậc. Hai, theo niệm Phật nhiều ít mà phân ba bậc. Theo quán niệm sâu cạn thì như trên đã dẫn, chính là nói: “Nếu như thuyết mà hành trì, đúng ra thuộc phẩm Thượng thượng”. Về niệm Phật nhiều ít, trong văn kinh nói bậc hạ có nêu số lượng: từ mười niệm xuống chỉ còn một niệm… Hai bậc thượng và trung, căn cứ theo đây mà số niệm tăng dần. Quán Niệm Pháp Môn ghi: “Một ngày niệm một vạn biến danh hiệu Phật, nhưng cũng phải cần theo thời khóa lễ lạy, khen ngợi các việc trang nghiêm của cõi Tịnh. Lại cần phải tăng tiến niệm ba vạn, sáu vạn, mười vạn, nhất định Thượng phẩm thượng sanh”. Nên biết niệm ba vạn biến trở lên là hạnh nghiệp Thượng phẩm thượng sanh; dưới ba vạn biến là hành nghiệp Thượng phẩm trung sanh trở xuống. Như thế đã rõ tùy theo số niệm nhiều hay ít mà phân biệt phẩm vị. Một niệm ở đây chính là một niệm nói trong phần “Niệm Phật nguyện thành tựu”, cũng là một niệm nói trong bậc hạ ở trên. Trong văn “Nguyện thành tựu” tuy ghi: “Chưa nói công đức lợi ích lớn của một niệm”; văn trong phần bậc hạ tuy nói: “Cũng không nói công đức lợi ích lớn của một niệm”, nhưng đến đây lại nói một niệm được lợi ích lớn và khen là vô thượng. Cho nên biết đó là chỉ cho một niệm ở trên. Lợi ích lớn là đối với lợi ích nhỏ, cho các hạnh như phát tâm Bồ-đề… là lợi ích nhỏ, “dù chỉ một niệm” là lợi ích lớn. Còn công đức vô thượng là đối với công đức hữu thượng vậy. Cho công đức niệm Phật là vô thượng, thì một niệm là một vô thượng, mười niệm là mười vô thượng, trăm niệm là trăm vô thượng, ngàn niệm là ngàn vô thượng. Cho đến lần lượt tăng tiến từ ít đến nhiều, đến hằng sa niệm Phật, vô thượng công đức cũng hằng sa. Vậy những người nguyện cầu vãng sanh, sao lại bỏ niệm Phật có lợi ích lớn vô thượng mà lại cưỡng tu các hạnh có lợi ích hữu thượng?

VI. Sau một vạn năm thời Mạt pháp các hạnh đều không còn, chỉ giữ lại môn Niệm Phật

TRÍCH DẪN:

Kinh Vô Lượng Thọ, quyển hạ ghi: “Trong đời tương lai kinh đạo diệt hết, ta rủ lòng từ bi thương xót chúng sanh, chỉ giữ lại kinh này trụ tại thế gian thêm một trăm năm. Bấy giờ, nếu có chúng sanh nào gặp được kinh này, tùy ý nguyện vãng sanh thì đều được độ”.

LUẬN RẰNG:

Hỏi: Trong kinh chỉ nói giữ lại kinh này một trăm năm, chứ đâu nói giữ môn Niệm Phật một trăm năm. Vì sao ở đây lại nói là giữ môn Niệm Phật?

Đáp: Toàn bộ nội dung kinh này đều nói đến niệm Phật, như đã trình bày ở trên, ở đây không cần phải nêu ra. Các ngài Thiện Đạo, Hoài Cảm, Huệ Tâm… đều nói đồng với ý này. Thế thì kinh này trụ thế, tức là môn Niệm Phật trụ thế vậy. Vì sao? Vì kinh này tuy nói đến phát tâm Bồ-đề, nhưng chưa nói hành tướng của tâm ấy; tuy nói đến trì giới, nhưng chưa nói hành tướng của trì giới. Về hành tướng của tâm Bồ-đề, thì trong kinh Bồ-đề Tâm trình bày rất đầy đủ. Kinh ấy, trước nói diệt các hành của tâm Bồ-đề, vậy nhờ vào đâu để tu? Còn về hành tướng của trì giới thì được nói rõ trong giới luật Đại Tiểu thừa. Giới luật ấy, trước diệt các hành trì giới, vậy nhờ vào đâu để tu? Các hạnh khác căn cứ theo đây cũng có thể biết được. Cho nên trong bộ Vãng Sanh Lễ Tán, ngài Thiện Đạo giải thích đoạn văn này như sau:

“Sau một vạn năm, Tam bảo diệt

Chỉ còn kinh này trụ trăm năm

Bấy giờ người nghe, xưng một niệm

Ắt được sanh về cõi nước kia”.

Lại nêu ra bốn ý để giải thích đoạn văn này: Một, thời gian trụ và diệt trước sau của Thánh đạo môn và Tịnh độ môn. Hai, thời gian trụ và diệt trước sau của giáo Thập phương tịnh độ và giáo Tây phương tịnh độ. Ba, thời gian trụ và diệt trước sau của Đâu-suất và Tây phương. Bốn, thời gian trụ và diệt trước sau của môn Niệm Phật và các hạnh.

+ Thời gian trụ và diệt của Thánh đạo và Tịnh độ: Các kinh của Thánh đạo môn diệt trước, cho nên nói: kinh đạo diệt hết. Chỉ lưu giữ kinh này của Tịnh độ môn, cho nên nói: trụ một trăm năm. Nên biết cơ duyên của chúng sanh đối với Thánh đạo môn rất cạn cợt, cơ duyên của chúng sanh đối với Tịnh độ môn rất sâu dày.

+ Thời gian trụ và diệt của giáo Thập phương tịnh độ và Tây phương tịnh độ: Giáo pháp dạy sanh về các cõi Tịnh trong mười phương diệt trước, cho nên nói: kinh đạo diệt hết. Chỉ giữ lại kinh này là giáo pháp vãng sanh Tây phương tịnh độ, cho nên nói: trụ một trăm năm. Nên biết, cơ duyên của chúng sanh đối với giáo vãng sanh Tịnh độ mười phương rất cạn cợt, cơ duyên chúng sanh đối với giáo vãng sanh Tịnh độ tây phương rất sâu dày.

+ Thời gian trụ và diệt của giáo vãng sanh Đâu-suất và giáo vãng sanh Tịnh độ: Các giáo dạy sanh về cõi Đâu-suất diệt trước, cho nên nói: kinh đạo diệt hết. Chỉ lưu lại kinh dạy vãng sanh Tây phương tịnh độ, cho nên nói: trụ một trăm năm. Nên biết, cõi Đâu-suất tuy gần, nhưng duyên cạn mỏng, cảnh Tịnh tuy xa nhưng duyên sâu dày.

+ Thời gian trụ và diệt của hạnh tu các giáo và Niệm Phật: Các giáo dạy tu các hạnh vãng sanh diệt trước, nên nói: kinh đạo diệt hết. Chỉ giữ kinh dạy về niệm Phật, cho nên nói: trụ một trăm năm. Nên biết cơ duyên của chúng sanh đối với giáo dạy tu các hạnh vãng sanh rất cạn cợt, còn đối với giáo dạy niệm Phật rất sâu dày. Hơn nữa, giáo dạy tu các hạnh vãng sanh ít có duyên với chúng sanh, còn giáo niệm Phật thì có duyên rất lớn đối với đời. Giáo dạy các hạnh vãng sanh chỉ hạn cuộc trong một vạn năm thời mạt pháp, còn giáo dạy niệm Phật vãng sanh nhuần thấm đến một trăm năm sau khi giáo pháp diệt tận.

Hỏi: Đã nói: “Ta vì lòng từ bi thương xót chúng sanh, nên chỉ lưu giữ kinh này trụ ở đời thêm một trăm năm”. Nếu thế, Đức Thế Tôn vì lòng từ bi mà giữ lại kinh giáo, thì sao không giữ các kinh giáo khác lại chỉ giữ kinh này?

Đáp: Dẫu có lưu giữ riêng bất cứ kinh nào, thì cũng không ngại, nhưng nay Đức Phật chỉ giữ lại kinh này là có thâm ý. Theo hòa-thượng Thiện Đạo thì kinh này nói về bản nguyện niệm Phật vãng sanh của Đức A-di-đà, cho nên Đức Thích-ca từ bi, vì giữ môn Niệm Phật mà phải đặc biệt giữ lại kinh này. Các kinh khác chưa nói đến bản nguyện niệm Phật vãng sanh của A-di-đà Như lai. Cho nên Đức Thích-ca từ bi không giữ lại.

Tuy tất cả bốn mươi tám nguyện đều là bản nguyện, nhưng đặc biệt dùng niệm Phật làm phép tắc vãng sanh. Cho nên ngài Thiện Đạo giải thích rằng:

Hoằng thệ tuy nhiều, bốn tám môn,

Nhưng chỉ niệm Phật là tối tôn.

Ai luôn niệm Ngài, Ngài nhớ nghĩ,

Chuyên tâm tưởng Phật, Phật biết lòng.

Cho nên biết, trong bốn mươi tám nguyện, đã lấy nguyện Niệm Phật vãng sanh làm vua trong các bản nguyện, vì thế Đức Thích-ca từ bi, đặc biệt lưu kinh này trụ thế một trăm năm. Như trong kinh Quán Vô Lượng Thọ không phó chúc các hạnh Định-Tán, mà chỉ phó chúc hạnh Niệm Phật. Đó là vì thuận với nguyện của Đức Phật kia vậy.

Hỏi: Lưu lại kinh này trong khoảng một trăm năm, lẽ đương nhiên, vì hạnh Niệm Phật thích hợp thời gian và trình độ của chúng sanh thời ấy. Nhưng không biết có thích hợp trình độ chúng sanh thời chánh, tượng, mạt hay không?

Đáp: Bao gồm cả các căn cơ ba thời ấy. Đó là nêu lợi ích mai sau để khuyên dạy người hiện đời, người học cần phải biết.

VII. Ánh sáng của Đức Phật A-di-đà không chiếu đến các hành giả khác, chỉ nhiếp thọ hành giả niệm Phật.

TRÍCH DẪN:

Kinh Quán Vô Lượng Thọ ghi: “Đức Phật Vô Lượng Thọ có tám vạn bốn ngàn tướng, mỗi một tướng có tám vạn bốn ngàn vẻ đẹp, mỗi một vẻ đẹp có tám vạn bốn ngàn tia sáng, mỗi một tia sáng chiếu khắp các thế giới ở mười phương, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật, không bao giờ lìa bỏ”.

Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ ghi: “Từ câu ‘Đức Phật Vô Lượng Thọ’ đến câu ‘không bao giờ lìa bỏ’ chính là nói về pháp quán ánh sáng của thân để làm lợi ích cho những người có duyên. Đoạn này gồm năm phần: Một, số lượng tướng. Hai, số lượng của vẻ đẹp. Ba, số lượng tia sáng. Bốn, khoảng cách ánh sáng chiếu soi. Năm, nơi ánh sáng chiếu đến, tất cả đều được nhiếp thọ.

Hỏi: Tu tập đủ các hạnh, hồi hướng thì đều được vãng sanh. Vì sao ánh sáng của Phật chiếu soi khắp mà chỉ nhiếp thọ những người niệm Phật?

Đáp: Câu này có ba ý: Một, duyên thân thiết. Tức chúng sanh khởi hạnh tu tập, miệng thường tụng danh hiệu Phật, Phật liền nghe; thân thường lễ Phật, Phật liền thấy; tâm thường niệm Phật, Phật liền biết. Chúng sanh nhớ nghĩ đến Phật, Phật cũng nhớ nghĩ đến chúng sanh. Ba nghiệp của chúng sanh và Phật không lìa nhau, cho nên gọi là duyên thân thiết. Hai, duyên gần gũi, chúng sanh nguyện thấy Phật, Phật liền hiện đến trước mặt, cho nên gọi là duyên gần gũi. Ba, duyên tăng thượng, chúng sanh niệm danh hiệu Phật thì diệt trừ được tội trong nhiều kiếp. Lúc sắp chết, Đức Phật và các vị Thánh cùng đến đón tiếp, các tà nghiệp trói buộc không thể ngăn trở, cho nên gọi là duyên tăng thượng. Các hạnh khác tuy gọi là thiện, nhưng hoàn toàn không thể so sánh với niệm Phật. Cho nên trong các kinh, nhiều chỗ khen ngợi công năng của niệm Phật. Như bốn mươi tám nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ chỉ nói chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì được vãng sanh. Kinh A-di-đà ghi: “Từ một ngày cho đến bảy ngày, chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì được vãng sanh”. Lại có rất nhiều Đức Phật trong mười phương xác chứng cho sự chân thật, không dối ấy. Còn trong phần Định-tán của kinh này thì chỉ nêu chuyên niệm danh hiệu sẽ được vãng sanh. Những minh chứng như thế rất nhiều.

Quán Niệm Pháp Môn ghi: “Các tia sáng nơi thân của Phật chiếu cùng khắp các thế giới trong mười phương”. Nhưng chỉ có những chúng sanh niệm Phật A-di-đà thì mới được ánh sáng từ tâm Phật chiếu soi và nhiếp hộ, không xa lìa. Hoàn toàn không chiếu và nhiếp theo những hành giả tu tập hạnh.

LUẬN RẰNG:

Hỏi: Nói ánh sáng của Phật chỉ chiếu đến người niệm Phật, không chiếu đến những người tu các hạnh khác, là có ý gì?

Đáp: Câu này gồm hai ý: Một, tức ba nghĩa của duyên thân thiết như đã trình bày ở đoạn trên. Hai, nghĩa bản nguyện, tức các hạnh khác không phải là bản nguyện, cho nên không chiếu soi, nhiếp thọ, còn hạnh Niệm Phật là bản nguyện nên chiếu soi nhiếp thọ. Trong Lục Thời Lễ Tán của ngài Thiện Đạo có ghi:

Thân Di-đà như kim sơn vương

Ánh sáng tướng hảo chiếu mười phương

Chỉ người niệm Phật hay nhiếp thọ

Phải hay bản nguyện, sức không lường

Lại dẫn văn: “Các hạnh khác tuy gọi là thiện, nhưng hoàn toàn không thể sánh với niệm Phật”. Đó là so sánh với các hạnh trong môn Tịnh độ mà thôi. Tức hạnh Niệm Phật là diệu hạnh được chọn lấy từ hai trăm mười ức cõi nước, các hạnh là những hạnh thô đã loại bỏ từ hai trăm mười ức cõi nước. Cho nên nói hoàn toàn không thể so sánh. Hơn nữa Niệm Phật là bản nguyện, các hạnh khác không phải bản nguyện, cho nên hoàn toàn không thể so sánh.

VIII. Người niệm Phật nhất định phải đầy đủ ba tâm

TRÍCH DẪN:

Quán Vô Lượng Thọ ghi: “Nếu chúng sanh nguyện sanh về nước kia thì nên phát khởi ba tâm là tâm Chí thành, tâm Tin sâu, tâm Hồi hướng phát nguyện. Hễ đầy đủ ba tâm này thì nhất định được sanh về nước kia”.

Quán Vô Lượng Kinh Sớ ghi: “Tâm Chí thành, trong đó, chí là chân, thành là thật. Ý muốn nói giải hạnh của ba nghiệp thân, miệng, ý nhất định phải được xuất phát từ tâm chân thật. Không được bên ngoài hiện tướng hiền thiện, tinh tấn, bên trong giả dối không thật, đầy dẫy tham sân, tà vạy, gian trá, tánh ác khó trừ, giống như loài rắn rết. Tuy khởi tu ba nghiệp, nhưng đều gọi là tạp độc, cũng gọi là hạnh hư giả, không gọi là chân thật.

Nếu tạo tác như thế mà tâm khởi hạnh tu tập, dẫu cho thân tâm siêng năng lao khổ, ngày đêm cấp thiết hành trì như cứu lửa cháy đầu, thì cũng đều gọi là thiện xen lẫn độc. Nếu muốn hồi hướng hạnh tạp độc này cầu sanh về cõi Tịnh của Đức Phật kia, thật không thể được. Vì sao? Chính là do Đức Phật A-di-đà khi còn là Bồ-tát, dù chỉ trong một niệm, một sát-na , ba nghiệp tu tập đều từ tâm chân thật. Tất cả những hành vi, những mong cầu cũng đều chân thật. Chân thật có hai loại là chân thật tự lợi và chân thật lợi tha. Chân thật tự lợi lại có hai: Một, trong tâm chân thật ngăn chặn, xa lìa cõi uế và các pháp ác; đi, đứng, ngồi, nằm đều quán tưởng ta đồng với các Bồ-tát để ngăn chặn và xa lìa các pháp ác. Hai, từ tâm chân thật siêng năng tu tập các pháp thiện của phàm thánh, của mình và người. Từ tâm chân thật, miệng khen ngợi Đức Phật A-di-đà và y báo, chánh báo cõi kia. Từ tâm chân thật, miệng chê bai các việc khổ đau, xấu ác của y báo, chánh báo trong ba cõi, sáu đường, đồng thời khen ngợi những việc thiện mà ba nghiệp của chúng sanh đã tạo. Nếu nghiệp bất thiện thì cẩn thận mà xa lánh, không nên vui thuận theo. Lại từ tâm chân thật, thân hành thiện, chắp tay lễ kính, dâng cúng tứ sự lên Đức Phật A-di-đà và y báo chánh báo cõi kia. Từ tâm chân thật, thân nghiệp khinh chê, nhàm lìa y báo, chánh báo của mình và người trong ba cõi sanh tử này. Từ tâm chân thật, ý nghiệp suy nghĩ, quán tưởng, nhớ nghĩ Đức Phật A-di-đà và y báo chánh báo cõi kia như hiện trước mặt. Từ tâm chân thật, ý nghiệp khinh chê, nhàm lìa y báo, chánh báo của mình và người trong ba cõi sanh tử này. Ba nghiệp bất thiện, nên xa lìa từ tâm chân thật; ba nghiệp thiện cũng phải tạo từ tâm chân thật. Không phân biệt trong tâm hay ngoài thân, tạo thiện hay lìa bất thiện, nhất định phải chân thật, cho nên gọi là tâm Chí thành.

Tâm Tin sâu: có hai nghĩa: Nhất định tin sâu thân ta hiện nay là phàm phu sanh tử gây tạo nhiều tội lỗi, từ vô số kiếp đến nay chìm đắm, lưu chuyển không có cơ hội thoát ra; nhất định tin sâu bốn mươi tám nguyện của Đức Phật A-di-đà nhiếp thọ chúng sanh, không nghi ngờ, không lo nghĩ; nương nguyện lực ấy nhất định được vãng sanh. Nhất định tin sâu Đức Thích-ca nói ba phước, chín phẩm, định thiện, tán thiện, xác chứng và khen ngợi y báo, chánh báo cõi kia trong kinh Quán Vô Lượng Thọ là để cho người ưa thích. Nhất định tin sâu kinh A-di-đà nói vô số các Đức Phật trong mười phương khuyên tất cả phàm phu niệm Phật nhất định vãng sanh. Tin sâu, tức kính nguyện các hành giả chỉ một lòng tin lời Phật, chẳng tiếc thân mạng, quyết định theo lời dạy tu hành; Phật bảo bỏ thì ta bỏ, Phật bảo làm thì ta làm, Phật bảo đi thì ta đi… Đó gọi là tùy thuận lời Phật, tùy thuận ý Phật, tùy thuận nguyện Phật, cũng gọi là đệ tử chân thật của Phật.

Tất cả người tu hành chỉ nên nương theo kinh này (Quán Kinh), tin sâu mà thực hành, nhất định Phật không dối gạt chúng sanh. Vì sao? Vì Phật là bậc có lòng đại bi tròn đủ, nói lời chân thật. Ngoài Phật ra, tất cả các bậc phàm thánh khác, trí tuệ chưa viên mãn, còn đang ở giai vị tu học, chưa dứt trừ hai chướng là chánh sử và tập khí , quả nguyện chưa thành, dẫu suy lường lời Phật, nhưng chưa thể quyết định; tuy có bình phẩm, nhưng cần phải có Phật xác chứng mới quyết định được. Nếu hợp ý Phật, mới ấn khả “như thế, như thế”. Nếu chẳng hợp ý Phật, thì nói “lời của các ông, ý nghĩa chẳng phải như thế”, chẳng ấn khả. Như vậy tức đồng với lời vô kí, vô lợi, vô ích. Phật ấn khả, tức tùy thuận chánh giáo của Phật. Nếu là lời của Phật, tức chánh giáo, chánh nghĩa, chánh hạnh, chánh giải, chánh nghiệp, chánh trí. Dù ít, dù nhiều, không luận bồ-tát, trời người… thuyết, đều phải định đúng sai. Nếu là lời Phật nói thì đó là giáo liễu nghĩa , nếu là bồ-tát… nói thì đều gọi là giáo bất liễu nghĩa. Cho nên hôm nay kính khuyên những người có duyên vãng sanh, chỉ nên tin sâu lời Phật, nương theo đó chuyên tâm hành trì, không nên tin dùng giáo không tương ưng do Bồ-tát… nói để rồi chướng ngại, ôm mối nghi ngờ, tự mê lầm, mất đi lợi ích lớn vãng sanh.

Tâm tin sâu, tức quyết định kiến lập tự tâm vững chắc, thuận với chánh giáo của Phật, vĩnh viễn trừ bỏ những nghi lầm, không bị những biệt giải, biệt hành, dị học, dị kiến, dị chấp làm xao động hay lui sụt.

Hỏi: Người đời trí huệ nông cạn, phiền não sâu dày, nếu gặp người có giải hạnh bất đồng, khéo dẫn kinh luận chứng minh rằng “tất cả hàng phàm phu nhiều tội chướng không thể vãng sanh”, gây trở ngại, thì phải làm thế nào đối trị, để thành tựu tín tâm, quyết định tiến thẳng, không sanh tâm sợ hãi, thoái lui?

Đáp: Nếu có người dẫn kinh luận, chứng minh là không thể vãng sanh, thì nên Đáp rằng: “Tuy nhân giả dùng kinh luận minh chứng cho việc không thể vãng sanh, nhưng ý ta nhất định không bị ngài phá hoại. Vì sao? Không phải ta không tin những kinh luận ấy, ta tin tất cả, nhưng Đức Phật nói kinh luận ấy cho thời gian khác, nơi chốn khác, căn cơ khác, lợi ích khác. Hơn nữa, khi Phật nói kinh ấy chẳng phải là lúc thuyết các kinh Quán Vô Lượng Thọ, kinh A-di-đà… Phật thuyết kinh giáo, thích ứng các thời đại và căn cơ cũng khác nhau. Hơn nữa, những kinh luận ấy Đức Phật nói về giải hành chung cho hàng Bồ-tát và trời người. Nay Phật nói Quán Kinh gồm hai thiện Định-Tán, là vì bà Vi-đề-hi và những chúng sanh trong đời năm trược chịu năm khổ mà xác chứng được vãng sanh. Vì lí do này mà hôm nay ta một lòng tuân theo lời Phật dạy, quyết định hành trì. Dẫu Ngài có nói trăm ngàn vạn ức lời “chẳng được sanh”, cũng chỉ giúp ta thành tựu thêm lòng tin thanh tịnh mà thôi!”

Lại nói tiếp rằng: “Nhân giả nên lắng nghe, hôm nay ta sẽ nói cho ngài nghe về lòng tin quyết định: Dẫu cho một vị Bồ-tát địa tiền , một vị A-la-hán, một vị Bích-chi-phật, hoặc nhiều vị, đầy khắp cả mười phương đều dẫn kinh luận chứng minh là không được vãng sanh, ta cũng không khởi một niệm nghi ngờ, mà chỉ giúp thành tựu thêm lòng tin thanh tịnh. Vì sao? Vì lời Phật là giáo liễu nghĩa quyết định thành tựu, không bị tất cả thuyết khác phá hoại.

Nhân giả hãy lắng nghe! Dẫu cho một vị bồ-tát từ Sơ địa đến Thập địa, hoặc nhiều vị, đầy khắp cả mười phương đồng nói rằng: “Phật Thích-ca chỉ khen ngợi Đức A-di-đà, chê trách ba cõi sáu đường. Khuyên chúng sanh chuyên tâm niệm Phật và tu các nghiệp thiện khác, hết một báo thân này, nhất định sẽ được vãng sanh cõi nước ấy. Đây là lời hư dối, không đáng tin theo”. Dù ta nghe như thế cũng không khởi một niệm nghi ngờ, mà chỉ giúp thành tựu thêm lòng tin quyết định tối thượng của ta mà thôi. Vì sao? Vì lời Phật là giáo liễu nghĩa quyết định chân thật. Vì Phật là đấng Thật tri, Thật giải, Thật kiến, Thật chứng, nên lời ấy chẳng phải từ tâm nghi hoặc xuất phát, lại chẳng bị tất cả những dị kiến, dị giải của bồ-tát phá hoại. Nếu thật là Bồ-tát, thì không trái với lời Phật.

Hành giả nên biết! Dẫu cho một Hóa Phật, một Báo Phật hoặc rất nhiều vị, đầy khắp cả mười phương, mỗi mỗi phóng ánh sáng, hiện tướng lưỡi trùm cả mười phương đồng thời nói rằng: “Phật Thích-ca khen ngợi, khuyên tất cả phàm phu chuyên tâm niệm Phật và làm tất cả các việc thiện khác, rồi hồi hướng nguyện sanh, nhất định sẽ được sanh về cõi ấy. Đây là lời hư dối, nhất định không có việc này”. Dù ta nghe các Đức Phật nói như thế, nhưng cũng không khởi một niệm nghi ngờ, sợ không được sanh về cõi Phật. Vì sao? Vì một Phật là tất cả Phật. Tất cả những tri kiến, giải hành, chứng ngộ, quả vị, đai bi… đều đồng nhất, không mảy may sai biệt. Cho nên, một Phật chế định tức tất cả Phật đồng chế định. Giống như Phật trước, chế các giới trừ diệt tội thập ác: như sát sanh… trọn vẹn không phạm, không làm, tùy thuận sáu độ . Nếu Phật sau xuất hiện, lẽ nào dạy đổi thập thiện, khiến làm thập ác sao? Suy nghiệm từ đạo lí này thì biết rõ ngôn hạnh của các Đức Phật không bao giờ trái nhau. Ví như Đức Thích-ca khen ngợi, khuyên bảo tất cả phàm phu hãy trọn một đời này chuyên niệm, chuyên tu, sau khi chết, nhất định sanh về cõi nước kia, thì các Đức Phật trong mười phương cũng đồng khen ngợi, đồng khuyên bảo, đồng xác chứng. Vì sao? Vì đồng thể đại bi vậy. Việc giáo hoá của một Đức Phật, tức là việc giáo hoá của tất cả các Đức Phật và ngược lại. Như trong kinh A-di-đà nói : Đức Phật Thích-ca khen ngợi cõi Cực Lạc có vô số trang nghiêm. Lại khuyên tất cả phàm phu, nếu từ một ngày cho đến bảy ngày, nhất tâm niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nhất định được vãng sanh. Đoạn sau lại nói: Trong mười phương, mỗi phương đều có vô số các Đức Phật đồng khen ngợi Đức Thích-ca có năng lực ở trong thời kì có năm trược ác, đầy dẫy bất tín: thời đại ác, thế giới ác, chúng sanh ác, kiến ác, phiền não tà ác, mà khen ngợi danh hiệu A-di-đà, khuyên chúng sanh xưng niệm, nhất định được vãng sanh. Đây là minh chứng cho việc Phật Phật đồng một phương cách giáo hóa.

Hơn nữa, các Đức Phật trong mười phương sợ chúng sanh không tin lời của Đức Thích-ca, nên liền đồng tâm, đồng thời triển tướng lưỡi rộng dài, trùm khắp cả tam thiên đại thiên thế giới nói lời chân thật: “Chúng sanh các ngươi nên tin lời khen ngợi, lời khuyên bảo, lời xác chứng của Đức Thích-ca. Tất cả phàm phu, không kể tội phước ít nhiều, thời gian dài ngắn, lâu thì trọn một đời, mau thì bảy ngày hay chỉ một ngày, nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nhất định được vãng sanh, trọn không nghi ngờ”. Cho nên biết rằng, một Đức Phật nói ra việc gì thì tất cả các Đức Phật đồng xác chứng chân thật cho sự việc ấy. Đây gọi là căn cứ theo người mà lập tín.

Căn cứ theo hạnh lập tín. Hạnh có hai loại là chánh hạnh và tạp hạnh, như trước đã nói. Ở đây không cần thuật lại.

Tâm hồi hướng phát nguyện: Tức đem tất cả căn lành thế gian, xuất thế gian do ba nghiệp của ta tu tập từ quá khứ cho đến ngày nay. Tất cả các căn lành thế gian, xuất thế gian do ba nghiệp của các thánh phàm tu tập mà ta tùy hỉ đó, từ tâm chân thật tin sâu mà hồi hướng nguyện vãng sanh về Tịnh độ Tây phương. Hồi hướng nguyện sanh, nhất định phải từ tâm quyết định chân thật mà hồi hướng nguyện được vãng sanh. Tâm tin sâu này như kim cang, không bị những người có dị kiến, dị học, biệt giải, biệt hành phá hoại hay làm cho loạn động. Chỉ quyết định nhất tâm thẳng tiến, không được nghe lời của người khác mà thoái tâm, sanh lòng khiếp sợ, quay đầu lạc bước, làm mất lợi ích lớn vãng sanh.

Hỏi: Nếu có kẻ tà kiến, không đồng giải hạnh đến mê hoặc, nhiễu loạn, dùng nhiều lời lẽ gạn hỏi, rồi cho rằng không được vãng sanh, hoặc nói rằng: “Chúng sanh các ông từ vô số kiếp đến nay, ba nghiệp thân miệng ý đã gây tạo các tội mười ác, năm nghịch , bốn trọng , Xiển-đề , phá giới, phá kiến đối với bậc Thánh, nay vẫn chưa trừ hết, các tội này thuộc đường ác trong ba cõi. Vậy làm sao trong một đời tu phước, niệm Phật mà có thể vào cõi vô lậu vô sanh, vĩnh viễn chứng ngộ giai vị bất thoái?

Đáp: Số lượng giáo pháp của Đức Phật nhiều hơn cát bụi, cơ duyên nhận biết tùy tâm cũng chẳng phải là một. Thí như người đời, hễ mắt thấy mới tin, như sáng trừ tối, hư không hàm chứa muôn vật, đất có công năng chở và dưỡng dục, nước có công năng làm thấm ướt, lửa có công năng tạo thành và phá hoại. Các việc như thế đều gọi là pháp đối đãi. Mắt có thể thấy được muôn ngàn sai biệt, huống gì Phật pháp có năng lực không thể nghĩ bàn, há không có nhiều lợi ích hay sao? Hễ ra khỏi một cửa tức ra khỏi một cửa phiền não, hễ vào một cửa tức vào một cửa trí huệ giải thoát. Đó chính là tùy duyên, khởi hạnh cầu giải thoát. Vì sao ông lại đem hạnh tu chẳng có duyên với ta mà hoặc loạn ta? Nhưng hạnh mà ta thích, tức là hạnh ấy có duyên với ta, mà chẳng có duyên với ông. Hạnh ông thích, tức hạnh ấy có duyên với ông, mà chẳng có duyên với ta. Cho nên mỗi người tùy theo sở thích mà tu một hạnh, ắt chóng được giải thoát.

Hành giả nên biết, nếu muốn học hiểu từ phàm đến thánh, cho đến quả Phật, đều học được, hoàn toàn không ngại. Nhưng nếu muốn học tu thì nhất định phải nhờ vào một pháp môn có duyên, dụng công ít mà được lợi ích lớn. Xin thưa với những người cầu vãng sanh rằng: “Nay ta vì các vị mà nêu ra một ví dụ giữ gìn tâm tin sâu, đề phòng nạn ngoại đạo, tà tông dị kiến. Thí như có người muốn đi về phương Tây trăm ngàn dặm. Trên đường, bỗng gặp hai con sông, một là sông lửa ở hướng nam, hai là sông nước ở phương bắc, đều rộng một trăm bước, sâu không đáy, dài vô tận. Giữa hai sông có một con đường rộng chỉ bốn năm tấc, cũng dài một trăm bước, chạy từ Đông sang Tây. Sóng nước dội ướt con đường, sóng lửa cũng cháy tạt vào con đường. Bấy giờ người này đang đi trên một vùng hoang vắng, không có bóng người vật, mà lại có nhiều giặc cướp và thú dữ. Chúng thấy người này đi một mình, nên tranh nhau đến sát hại. Người này quá sợ chết, chạy thẳng về hướng Tây, bỗng thấy con sông này liền suy nghĩ rằng: Hai sông này, Nam, Bắc không thấy bờ, chỉ giữa hai sông có một con đường quá hẹp. Hai bờ tuy cách nhau không xa, nhưng đâu thể qua được. Ngày hôm nay ta nhất định chết. Người ấy vừa muốn quay đầu thì giặc và thú dữ đuổi đến. Muốn chạy tránh sang Nam sang Bắc thì ác thú, trùng độc lại tranh nhau kéo đến. Muốn chạy về hướng Tây, theo con đường vượt sông, nhưng sợ rơi vào lửa hoặc nước. Trong lúc vô cùng sợ hãi, hoảng hốt như thế, người ấy chợt suy nghĩ: “Ta quay lại cũng chết, dừng cũng chết, đi cũng chết. Thà rằng ta theo con đường này đi về phía trước, đã có con đường, ắt có thể qua được”. Đang lúc nghĩ như vậy, bên bờ Đông bỗng nhiên có tiếng người khuyên rằng:

- Nhân giả! Cứ quyết định theo con đường ấy mà đi, sẽ không chết đâu! Nếu dừng lại ngài sẽ chết!

Cũng lúc ấy, bên bờ Tây có tiếng người gọi rằng:

- Ngài nên nhất tâm chánh niệm đi thẳng qua đây, ta sẽ giúp đỡ, hoàn toàn không sợ rơi vào lửa hoặc nước!

Người ấy nghe bên này bảo đi, bên kia kêu gọi, liền tự an định thân tâm, nhất quyết theo con đường tiến thẳng về phía trước, không nghi ngờ, không khiếp sợ thoái lui. Vừa đi một hai phần đoạn đường, bọn giặc bên bờ Đông lớn tiếng gọi rằng:

- Nhân giả hãy quay trở lại đây! Con đường ấy nguy hiểm lắm, không thể qua được đâu! Nếu đi, ắt chết đó! Chúng tôi không có tâm ác với Ngài đâu!

Người này tuy nghe, nhưng không quay lại, chỉ nghĩ đến con đường, một lòng tiến thẳng. Trong phút chốc đã qua đến bờ Tây, vĩnh viễn xa lìa các nạn khổ hiểm nguy. Bạn bè trông thấy vui mừng khôn xiết.

Sau đây xin liên hệ ví dụ trên với giáo pháp: Bờ Đông dụ cho nhà lửa Ta-bà; bờ Tây dụ cho cõi báu Cực lạc; giặc cướp và thú dữ giả làm thân thuộc là dụ cho sáu căn , sáu trần , sáu thức , năm ấm , bốn đại của chúng sanh; vùng hoang vắng không bóng người vật là dụ cho chúng sanh luôn theo bạn ác, không được gặp thiện tri thức ; sông nước là dụ cho tham ái; sông lửa dụ cho sân hận, ganh ghét; con đường nhỏ hẹp bốn tấc ở khoảng giữa dụ cho chúng sanh tuy sống trong phiền não tham sân, nhưng hay phát tâm thanh tịnh nguyện vãng sanh; lại do tham sân mạnh cho nên dụ như lửa và nước, tâm thiện yếu nên dụ như con đường nhỏ hẹp; sóng nước dội ướt con đường là dụ cho tâm ái làm nhiễm ô tâm thiện; sóng lửa tạt cháy con đường là dụ cho tâm sân hận, ganh ghét đốt cháy công đức pháp tài ; người đi trên đường thẳng đến bờ Tây là dụ cho chúng sanh xoay các hành nghiệp hướng thẳng về Tây phương; nghe bên bờ Đông có tiếng người khuyên bảo nên theo con đường ấy tiến thẳng về Tây, là dụ cho việc Đức Thích-ca đã diệt độ, chúng sanh đời sau không thể gặp Ngài, thì có thể tìm nơi giáo pháp, như nghe tiếng vậy; vừa đi được một hai phần đoạn đường thì giặc cướp bảo quay lại, là dụ cho những người có biệt giải, biệt hành, ác kiến, càn loạn nêu ra kiến giải sai biệt, thay nhau làm mê loạn dẫn đến lui sụt; bên bờ tây có tiếng người gọi là dụ cho ý bản nguyện của Đức A-di-đà; trong phút chốc đã qua đến bờ Tây, bạn bè trông thấy vui mừng là dụ cho chúng sanh từ lâu chìm trong sanh tử, bao kiếp luân hồi, điên đảo tự trói buộc không có ngày thoát ra, nhờ Đức Thích-ca khuyên bảo, chỉ đến phương Tây; lại nhờ Đức A-di-đà từ bi kêu gọi, nay tin thuận ý của hai Đức Phật, không để tâm đến hai con sông nước và lửa, niệm niệm không gián đoạn, theo con đường nguyện lực thẳng tiến. Sau khi bỏ thân này, được sanh về nước kia, gặp Phật, vui sướng không cùng.

Bất kể đi đứng nằm ngồi, không luận ngày hay đêm, ba nghiệp tu tập luôn luôn tin hiểu như thế, quán tưởng như thế. Đó gọi là tâm Hồi hướng phát nguyện. Hồi hướng còn có nghĩa là sau khi đã sanh về nước Cực Lạc, lại phát khởi lòng đại bi, trở về cõi sanh tử giáo hóa chúng sanh.

Đã đủ ba tâm thì tất cả các hạnh đều thành tựu. Nguyện hạnh đã thành mà không vãng sanh thì thật vô lí. Lại nên biết, ba tâm này gồm thâu cả Định và Tán.

Vãng Sanh Lễ Tán ghi: “Hỏi: Nay muốn khuyên người vãng sanh, nhưng chưa biết, như an tâm khởi hạnh tu tập, nhất định được vãng sanh không? Đáp: Người quyết định muốn sanh về nước kia, như Quán Kinh nói thì cần phải đầy đủ ba tâm mới được. Ba tâm: Một, tâm chí thành, tức tất cả những hạnh tu tập như: thân lễ bái, miệng khen ngợi, ý chuyên niệm và quán tưởng Đức Phật A-di-đà đều phải chân thật. Hai, thâm tâm tức là tâm chân thật tin sâu, tin biết tự thân là phàm phu đầy dẫy phiền não, căn lành cạn mỏng, mãi lưu chuyển trong ba cõi, không có ngày thoát ra. Nay tin biết bản thệ nguyện của Đức Phật A-di-đà và xưng danh hiệu Ngài mười tiếng hay một tiếng, nhất định được vãng sanh, hoặc chỉ một niệm với tâm không nghi cũng được vãng sanh, cho nên gọi là tâm chân thật tin sâu. Ba, tâm hồi hướng phát nguyện, tức hồi hướng tất cả căn lành có được cầu nguyện vãng sanh. Đầy đủ ba tâm này, nhất định vãng sanh, thiếu một cũng không được sanh, như Quán Kinh đã nói.

LUẬN RẰNG:

Ba tâm vừa nêu trên là điều kiện chí yếu của người tu Tịnh độ. Vì sao? Vì kinh nói hễ đầy đủ ba tâm thì nhất định vãng sanh. Còn Lễ Tán thì giải thích là nếu thiếu một cũng không được sanh. Do đó, người muốn sanh Tịnh độ, cần phải đầy đủ ba tâm. Trong đó tâm chí thành tức là tâm chân thật. Hành tướng của tâm này như đã nói ở trên. Bên ngoài hiện tướng hiền thiện tinh tấn, bên trong hư giả. Ngoài là đối với trong, tức tướng bên ngoài và tâm bên trong không tương thích; ngoài hiện trí, trong thật ngu; hiền thiện là đối với ngu ác, tức ngoài hiện tướng hiền, trong toàn là ngu; ngoài hiện tướng thiện, trong ẩn lòng ác. Tinh tấn là đối với biếng trễ. Nếu đổi bên ngoài vào bên trong để nuôi dưỡng thân tâm thì đủ để xuất li. Bên trong hư giả… tức tâm bên trong và tướng bên ngoài không tương thích. Trong đó hư là đối với thật, tức bên trong hư, bên ngoài thật; giả là đối với chân, tức bên trong giả, bên ngoài chân. Nếu đổi trong ra ngoài thì cũng đủ để xuất li. Tâm tin sâu, nên biết ngôi nhà sanh tử lấy nghi làm nơi nương tựa, tòa thành Niết-bàn lấy tín làm cửa vào. Vì thế nay kiến lập ba loại tín tâm để quyết định chín phẩm vãng sanh. Trong đây nói: biệt hành, biệt giải, dị học, dị kiến, tức là các giải, hành, học, kiến trong Thánh đạo môn. Như thế đủ biết ý của ngài Thiện Đạo không ngoài hai môn này. Tâm hồi hướng phát nguyện thì không cần phải giải thích, hành giả xem đoạn văn trên có thể biết. Nói chung thì ba tâm này gồm tất cả hành pháp; nói riêng thì cốt ở hạnh vãng sanh. Nay nêu chung, bao quát cả riêng thì ý cũng đã đầy đủ. Hành giả nên lưu tâm, chớ bỏ qua.

IX. Người niệm Phật có thể thực hành pháp tứ tu

TRÍCH DẪN:

Vãng Sanh Lễ Tán ghi: Lại khuyên thực hành ba tu:

- Cung kính tu: tức cung kính lễ bái Đức Phật A-di-đà và tất cả các bậc Thánh. Lấy cái chết làm kì hạn, thệ không bỏ nửa chừng chính là trường thời tu.

- Vô dư tu: tức chuyên xưng, chuyên niệm, chuyên nghĩ tưởng, chuyên lễ bái, chuyên khen ngợi Đức Phật A-di-đà và các bậc Thánh, không xen các hành nghiệp khác. Lấy cái chết làm kì hạn, thệ không bỏ nửa chừng chính là trường thời tu.

- Vô gián tu: tức liên tục cung kính, lễ bái, xưng danh, khen ngợi, nhớ nghĩ, quán sát, hồi hướng phát nguyện, tâm tâm nối tiếp, không cho các việc khác xen vào. Vô gián tu còn có nghĩa là không để các niệm tham sân phiền não đến làm gián đoạn, hễ phạm liền sám hối, không để cách niệm, cách giờ, cách ngày, thường luôn thanh tịnh. Lấy cái chết làm kì hạn, thệ không bỏ nửa chừng chính là trường thời tu.

Tây Phương Yếu Quyết ghi: Chỉ nên dùng bốn tu làm chánh nghiệp.

- Trường thời tu: Tức từ lúc mới phát tâm cho đến chứng Bồ-đề, luôn luôn tạo nhân duyên Tịnh độ, không bao giờ lui sụt.

- Cung kính tu: Có năm trường hợp:

+ Cung kính những bậc Thánh có duyên: lúc đi đứng nằm ngồi không xoay lưng về phương Tây; hỉ mũi, khạc nhổ, đại tiểu tiện không hướng về Tây

+ Cung kính kinh tượng có duyên: cung kính tượng, tức là tạo tượng biến tướng A-di-đà Tây phương. Nếu không thể tạo lớn và đầy đủ các Tôn vị, thì chỉ cần vẽ một Đức Phật và hai vị Bồ-tát cũng được. Về giáo thì dùng bọc năm màu giữ các kinh A-di-đà… đồng thời tự mình đọc tụng, khuyên dạy người đọc tụng. Tôn trí tượng trong phòng, ngày đêm sáu thời lễ bái sám hối, đốt hương, dâng hoa cúng dường, đặc biệt trân trọng tôn kính.

+ Cung kính thiện tri thức có duyên: nếu có người tuyên dương giáo nghĩa Tịnh độ, dù xa ngàn dặm cũng phải gần gũi, cung kính cúng dường. Đối với những vị tu các pháp môn khác cũng phải xem chính như mình, càng phải tôn trọng. Nếu khinh thường sẽ bị tội nặng, cho nên cần phải cung kính hết thảy để trừ chướng ngại.

+ Cung kính bạn đồng tu: một mình tu tập, do chướng sâu nặng nên đạo nghiệp khó thành tựu, vì thế cần phải nhờ vào bạn tốt phò nguy, cứu nạn, trợ giúp lẫn nhau. Bạn đồng tu chính là duyên lành, nên cần phải xem trọng.

+ Cung kính Tam bảo: Đồng thể Tam bảo và Biệt tướng Tam bảo đương nhiên phải vô cùng cung kính, nhưng ở đây không trình bày, vì những người căn cơ thấp kém không thật sự nương vào đó tu tập, cho nên chỉ lược nói về Trụ trì Tam bảo, hầu làm nhân duyên tốt cho những người hiểu biết hạn hẹp tu tập.

* Phật bảo tức các linh tượng Phật được chạm khắc bằng gỗ chiên-đàn , vàng ngọc, tạc bằng đá, đắp bằng đất, họa vẽ trên lụa, trên giấy… Hành giả phải đặc biệt cung kính tôn thờ các Tôn tượng này. Bởi chỉ chiêm ngưỡng hình tượng trong chốc lát mà tội tiêu, tăng phước. Nếu có mảy tâm xem thường thì pháp thiện mất, pháp ác tăng. Chỉ cần chuyên tâm quán tưởng tôn tượng, nhất định sẽ thấy được Phật chân thật.

* Pháp bảo chính là giáo pháp Tam thừa, lưu thông cùng pháp giới, được văn tự, câu cú chuyển tải, là nhân duyên sanh ra sự giải ngộ, cho nên cần phải quí kính. Vì là nền tảng khai phát trí huệ, cho nên cần phải sao chép tôn kinh, đặt trong hòm quí, cất giữ nơi ngôi nhà thanh tịnh. Phải tắm gội thân hình, rửa tay sạch sẽ trước khi đọc tụng.

* Tăng bảo chính là những Bồ-tát Thánh tăng hay hàng xuất gia phá giới. Tất cả ta phải khởi tâm cung kính, chớ khinh thường.

- Vô gián tu: luôn luôn niệm Phật và khởi tưởng vãng sanh. Bất cứ lúc nào tâm cũng tưởng Phật. Thí như có người bị bắt làm nô lệ, chịu mọi sự gian khổ. Bỗng nhiên nhớ nghĩ đến cha mẹ, muốn trở về quê, nhưng hành trang chưa đủ, vẫn còn ở lại quê người. Do đó ngày đêm nhớ nghĩ, đau khổ khôn cùng và không lúc nào quên cha mẹ. Sau đó mưu kế thành, trốn thoát trở về quê hương, được gần gũi cha mẹ, mặc tình vui sướng. Người tu tập cũng như thế, khi xưa do phiền não phá hoại tâm thiện, khiến cho của báu phước trí tiêu tan, từ lâu đã trôi theo dòng sanh tử, không được tự do, làm nô lệ cho Ma vương, dong ruỗi trong sáu đường, khiến thân tâm vô cùng đau khổ. Hôm nay gặp duyên lành, bỗng nghe nói đến Đức Từ phụ A-di-đà không trái nguyện lớn cứu giúp quần sanh, do đó ngày đêm vội vàng phát nguyện vãng sanh. Vì thế siêng năng không biết mỏi mệt, nghĩ đến ân sâu của Phật, nên tâm hằng niệm Phật mà lấy cái chết làm kì hạn.

- Vô dư tu: tức chỉ cầu vãng sanh Cực lạc, lễ niệm Đức Phật A-di-đà, không xen các hạnh nghiệp khác. Hằng ngày chỉ niệm Phật A-di-đà, tụng kinh A-di-đà, không tu các pháp khác.

LUẬN RẰNG:

Văn nói về bốn tu có thể nhận biết, e rườm lời nên không giải thích thêm. Trong Vãng Sanh Lễ Tán, đầu tiên nêu ra bốn tu, nhưng sau chỉ luận có ba tu. Như thế, là sót văn hay có ý khác? Thật chẳng phải sót mà thật có ý riêng. Làm sao biết? Bốn tu là: Trường thời tu, Ân trọng tu, Vô dư tu, Vô gián tu. Nhưng lấy Trường thời tu dùng chung cho ba tu sau mà không chia riêng. Nghĩa là nếu tu Ân trọng mà lui sụt thì hạnh Ân trọng không thành; tu Vô dư mà lui sụt thì hạnh Vô dư không thành; tu Vô gián mà lui sụt thì hạnh Vô gián không thành. Vì giúp thành tựu ba hạnh tu sau, nên lấy Trường thời tu đưa vào dùng chung cho mỗi ba tu sau. Cho nên cuối mỗi một tu của ba tu sau đều có câu: “Lấy cái chết làm kì hạn, thệ không bỏ nửa chừng chính là Trường thời tu”. Ví như Tinh tấn ba-la-mật dùng chung cho năm Ba-la-mật sau vậy.

X. Phật A-di-đà và các Hóa Phật đến đón, không khen ngợi công đức thiện nghe kinh mà chỉ khen ngợi hạnh Niệm Phật

TRÍCH DẪN:

Kinh Quán Vô Lượng Thọ ghi: “Có chúng sanh tạo các nghiệp ác, nhưng không phỉ báng kinh điển Phương đẳng , người ngu này tạo các nghiệp ác như thế mà không biết hổ thẹn. Người này lúc sắp chết, gặp được thiện tri thức tụng đọc tên của mười hai thể loại kinh Đại thừa . Vì nghe được tên của các thể loại kinh này, nên trừ được nghiệp ác cực nặng trong ngàn kiếp lại được người trí dạy chắp tay, xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật. Vì xưng danh nên diệt được tội sanh tử trong năm mươi ức kiếp. Bấy giờ Đức Phật lại sai Hóa Phật và Hóa Bồ-tát Quán Thế Âm, Hóa Bồ-tát Đại Thế Chí đến trước mặt người ấy khen ngợi rằng: Này Thiện nam tử! Ngươi xưng niệm danh hiệu Phật, cho nên tội tiêu trừ, nay ta đến đón ngươi”.

Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ ghi: “Được nghe Hóa Phật và Hóa Bồ-tát khen ngợi công đức xưng niệm danh hiệu Phật, chứ không nói đến việc nghe kinh. Chỉ vì đối với chủ ý trong nguyện Phật thì chỉ khuyên chánh niệm xưng danh Phật. Nghĩa vãng sanh chuyên nhất không đồng với hạnh tu tạp tán. Như vậy trong kinh và các bộ sách giải thích đều khuyên xưng danh là chính yếu”.

LUẬN RẰNG:

Công đức thiện nghe kinh chẳng phải là bản nguyện mà thuộc tạp tu, cho nên Hóa Phật và Hóa Bồ-tát không khen ngợi. Hạnh Niệm Phật là bản nguyện thuộc chánh nghiệp, nên Hóa Phật khen ngợi. Lại nêu thêm công đức nghe kinh và niệm Phật nhiều ít khác nhau. Quán Kinh Sớ ghi: “Hỏi: Vì sao nghe tên của mười hai thể loại kinh mà chỉ trừ được tội chướng trong ngàn kiếp, còn xưng niệm một tiếng danh hiệu Phật lại trừ diệt tội trong năm trăm vạn ức kiếp? Đáp: Người tạo tội, nghiệp chướng sâu nặng, lại thêm sự khổ của cái chết đến bức bách, thiện tri thức dù thuyết nhiều kinh, nhưng tâm người lãnh thọ tán loạn. Do tâm tán loạn nên tội diệt ít. Danh hiệu Phật là bậc nhất có năng lực thâu nhiếp tán loạn, giúp tâm an trụ. Người này lại được dạy chánh niệm xưng danh, do tâm chuyên nhất nên trừ tội nhiều kiếp.

XI. Khen ngợi hạnh Niệm Phật

TRÍCH DẪN:

Kinh Quán Vô Lượng Thọ ghi: “Nên biết hành giả niệm Phật là hoa Phân-đà-lợi trong loài người. Bồ-tát Quán Thế Âm, bồ-tát Đại Thế Chí là bạn tốt của người ấy. Người ấy sẽ ngồi đạo tràng , sanh vào nhà Phật.

Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ ghi: “Từ câu ‘Nên biết hành giả’ đến câu ‘sanh vào nhà Phật’ là nói về công năng của Niệm Phật tam-muội thật siêu việt, tạp thiện không thể sánh bằng. Đoạn này có năm ý: Một, chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Hai, chỉ khen ngợi người Niệm Phật. Ba, người niệm Phật liên tục không gián đoạn thì thật hiếm có, không gì có thể so sánh được nên dùng hoa Phân-đà-lợi để ví dụ. Hoa Phân-đà-lợi còn gọi là Nhân trung hảo hoa (hoa quí trong đời), Hi hữu hoa (hoa hiếm có), Nhân trung thượng thượng hoa (hoa tối thượng trong đời), Nhân trung diệu hảo hoa (hoa tuyệt đẹp trong đời), tương truyền hoa này là hoa Thái. Như vậy người niệm Phật là người quí trong đời, người hiếm có trong đời, người tuyệt diệu trong đời, người tối thượng trong đời, người tối thắng trong đời. Bốn là nói người chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà thì bồ-tát Quán Thế Âm, bồ-tát Đại Thế Chí luôn theo bảo vệ người ấy như bạn thân. Năm, nói đời này đã được lợi ích như thế, sau khi mạng chung được sanh vào nhà Phật, tức Tịnh độ. Đã đến đây thì mãi mãi được nghe pháp, phụng sự cúng dường các Đức Phật. Đến lúc ngồi đạo tràng, nhân viên quả mãn, đâu có xa!

LUẬN RẰNG:

Hỏi: Kinh nói như vậy là chỉ căn cứ theo người niệm Phật mà khen ngợi, còn các nhà giải thích vì sao lại nói tạp thiện không thể so sánh? Đó là đối với tạp thiện mà đặc biệt khen ngợi Niệm Phật ư?

Đáp: Trong văn kinh, tuy nghĩa này ẩn kín, nhưng cũng có thể biết. Làm sao biết đưọc? Kinh này đã nói Định thiện, Tán thiện và hạnh Niệm Phật, mà ở đây chỉ ví dụ người niệm Phật như hoa Phân-đà-lợi. Nếu chẳng phải đối đãi với tạp thiện, làm sao có thể hiển bày công năng siêu việt các hạnh thiện khác? Thế thì nói: người niệm Phật là người tốt nhất trong đời, là đối đãi với ác mà khen thiện; người diệu tuyệt trong đời, là đối đãi với thô ác mà khen tuyệt diệu; người tối thượng trong đời, là đối đãi với quá thấp mà khen tối thượng; người hiếm có trong đời, là đối đãi với thường có mà khen ngợi hiếm có; người tối thắng trong đời là đối đãi với quá kém mà khen ngợi tối thắng.

Hỏi: Đã cho người niệm Phật là tối thượng, vì sao không nói từ thượng thượng phẩm đến hạ hạ phẩm?

Đáp: Đã nói hạnh Niệm Phật rất rộng, xuyên suốt cả chín phẩm. Đoạn trước có dẫn Vãng Sanh Yếu Tập: “Tùy căn cơ và việc tu tập có hơn kém mà phân làm chín phẩm”. Hơn nữa, hạ phẩm hạ sanh là những người phạm năm tội nghịch. Do đó, chỉ có niệm Phật mới đủ năng lực diệt trừ tội nghịch, các hạnh tu khác không thể. Cho nên vì những người cực ác cực kém mà nói pháp cực thiện tối thượng. Ví như căn bệnh Vô minh sâu dày mà không có thuốc Trung đạo thâm áo thì không thể chữa trị được. Cũng thế, nay căn bệnh nặng năm nghịch sâu dày này nếu không có thuốc quí Niệm Phật thì biết lấy gì chữa trị đây? Cho nên trong Luận Nhị Giáo , Hoằng Pháp đại sư dẫn kinh Ba-la-mật : “Đệ tam Pháp bảo tức là chánh pháp mà vô lượng các Đức Phật quá khứ đã thuyết và ta hôm nay đang thuyết. Đó là tám vạn bốn ngàn Pháp uẩn vi diệu dùng để điều phục thuần thục chúng sanh có duyên, giúp các đệ tử lớn như: A-nan-đà… vừa nghe liền ghi nhớ. Tất cả được gom vào năm tạng: Tố-đát-lãm , Tì-nại-da , A-tì-đạt-ma , Bát-nhã Ba-la-mật-đa, Đà-la-ni . Năm tạng này dùng để giáo hóa hữu tình, tùy theo đối tượng được độ mà tuyên thuyết một tạng tương ứng. Nếu hữu tình kia thích ở núi rừng, nơi vắng vẻ tu hạnh tịch tĩnh, thì nói cho họ nghe tạng Tố-đát-lãm; nếu hữu tình thích tu tập oai nghi, bảo vệ chánh pháp thuần một vị hòa hợp, khiến trụ lâu ở thế gian, thì thuyết cho họ nghe tạng Tì-nại-da. Nếu hữu tình thích thuyết chánh pháp, phân biệt tánh tướng, suy tìm nghiên cứu đến chỗ sâu xa rốt ráo thì thuyết cho họ nghe tạng A-tì-đạt-ma. Nếu hữu tình thích tu tập trí huệ Đại thừa chân thật, lìa tâm phân biệt pháp chấp, ngã chấp thì thuyết cho họ nghe tạng Bát-nhã Ba-la-mật-đa. Nếu hữu tình không thể thọ trì Khế kinh (Kinh), Đối pháp (Luận), Điều phục (Luật), Bát-nhã, hoặc tạo các nghiệp ác nặng như: bốn tội nặng, tám tội nặng , năm tội vô gián, phỉ báng kinh Phương đẳng, Nhất-xiển-đề… mà muốn diệt tội, chóng được giải thoát, thì thuyết cho họ nghe tạng Đà-la-ni.

Năm tạng này giống như sữa, lạc, sanh tô, thục tô và đề hồ. Trong đó Khế kinh như sữa, Điều phục như lạc, Đối pháp như sanh tô, Đại thừa Bát-nhã như thục tô, môn Tổng trì như đề hồ. Đề hồ là vị thuốc tốt và quí nhất, có năng lực chữa trị các bệnh, làm cho thân tâm an ổn. Cũng như vậy, Tổng trì môn là tạng bậc nhất trong Khế kinh, có năng lực diệt trừ tất cả tội nặng, giúp chúng sanh thoát khỏi sanh tử, chóng chứng Pháp thân , Niết-bàn an lạc”.

Trong đó, năm tội Vô gián chính là năm tội nghịch, nếu không có thuốc quí đề hồ thì không thể chữa lành, niệm Phật cũng thế. Trong giáo Vãng sanh, Niệm Phật tam-muội cũng như môn Tổng trì, cũng như đề hồ. Nếu không có thuốc Niệm Phật tam-muội đề hồ, thì bệnh nặng năm nghịch khó mà trị lành.

Hỏi: Thế thì hạ phẩm thượng sanh thuộc hạng người tạo tội thập ác nhẹ, vì sao cũng thuyết môn Niệm Phật?

Đáp: Niệm Phật tam-nuội có năng lực diệt trừ được tội nặng, huống gì tội nhẹ! Các hạnh tu khác thì không thể như thế, có môn thì diệt được tội nhẹ, không thể diệt được tội nặng, hoặc trừ một phần mà không trừ hết. Niệm Phật thì tội nặng hay nhẹ đều trừ sạch, trị được tất cả bệnh. Giống như thuốc A-gia-đà trị được tất cả bệnh. Cho nên biết, pháp Niệm Phật là vua trong các tam-muội. Nếu phối hợp chín phẩm với các tội, nên theo nghĩa đơn phối. Trong đó, hàng tạo năm tội nghịch hồi tâm thì có thể sanh vào bậc thượng thượng; hàng đọc tụng có thể sanh vào bậc hạ hạ. Hạng tạo mười ác nhẹ, phá giới, hiểu Đệ nhất nghĩa và phát tâm Bồ-đề cũng có thể sanh vào bậc thượng hạ. Mỗi mỗi lại có chín phẩm, tổng cộng chín mươi mốt phẩm. Thêm vào đó, ngài Ca Tài nói: “Chúng sanh vừa khởi hạnh tu tập đã có chín bậc sai biệt, cho nên vãng sanh thấy cõi nước cũng có muôn ngàn sai biệt, chẳng nên vừa thấy nghĩa phối hợp đơn liền sanh tâm chấp trước. Trong đó Niệm Phật là hạnh tối thắng, cho nên so sánh như hoa Phân-đà-lợi. Được khen ngợi như năm hạng người cao quí vừa nói trong Quán Kinh Sớ lại được hai vị Bồ-tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí theo bảo vệ, đó là lợi ích hiện đời; mai sau vãng sanh Tịnh độ cho đến thành Phật là lợi ích ở tương lai. Thiền sư Đạo Xước thì nói hạnh Niệm Phật có hai lợi ích là thỉ và chung. An Lạc Tập ghi: “Luôn luôn nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật, không bao giờ buông bỏ. Chúng sanh này khi mạng chung sẽ được sanh về nước ấy; đó là lợi ích lúc đầu (thỉ). Kinh Quán Âm Thọ Kí ghi: “Đức Phật A-di-đà dù trụ thế vô số kiếp, nhưng cũng có lúc diệt độ. Lúc Phật vào niết-bàn, chỉ còn hai vị bồ-tát Quán Âm và Thế Chí trụ trì cõi An Lạc tiếp dẫn chúng sanh trong mười phương. Thời gian Đức Phật ấy diệt độ cũng bằng với thời gian trụ thế. Tất cả nhân dân cõi nước ấy không ai thấy Phật, chỉ có những người một bề chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà được vãng sanh thường thấy Phật hiện còn, không diệt độ. Đây là lợi ích sau cùng”.

Như thế, niệm Phật có hai lợi ích là hiện đời và mai sau, cũng như lợi ích lúc đầu và lợi ích sau cùng.

XII. Đức Thích Tôn không phó chúc các hạnh Định thiện Tán thiện mà chỉ phó chúc hạnh Niệm Phật cho A-nan

TRÍCH DẪN:

Kinh Quán Vô Lượng Thọ ghi: “Đức Phật bảo A-nan rằng: Ông hãy thọ trì kĩ lời này, giữ gìn lời này tức là thọ trì danh hiệu Phật”.

Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ ghi: “Từ câu ‘Đức Phật bảo A-nan’ trở về sau là nói Đức Thích-ca phó chúc danh hiệu Phật A-di-đà lưu truyền cho đời tương lai xa mai sau. Từ trước đến đây tuy nói lợi ích của hai môn Định-Tán, nhưng theo ý nghĩa bản nguyện của Phật thì nhằm vào khuyên chúng sanh một bề xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà.

LUẬN RẰNG:

Văn sớ chia ra làm hai hạnh là Định-Tán và Niệm Phật.

a. Định-Tán gồm có hai là Định thiện và Tán thiện. Định thiện lại phân làm mười ba môn: Quán tướng mặt trời, quán tưởng nước, quán tưởng đất, quán tưởng cây báu, quán tưởng ao báu, quán lầu gác báu, quán tòa hoa, quán tưởng hình tượng, quán tưởng Phật A-di-đà, quán tưởng bồ-tát Quán Thế Âm, quán tưởng bồ-tát Đại Thế Chí, quán chung, quán tưởng các tướng biến hiện của Tam tôn (Tạp tưởng). Dẫu không tu các hạnh, chỉ cần tùy khả năng tu một pháp hay nhiều pháp trong mười ba pháp quán tưởng cũng được vãng sanh. Yếu chỉ nêu rõ trong kinh, không nên nghi ngờ. Tán thiện phân làm hai hạnh: ba phước, chín phẩm.

* Ba phước: Kinh ghi: “Ba phước: Một, hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính hầu hạ thầy tổ, thể hiện tâm từ không sát sanh, thực hành mười điều thiện. Hai, thọ trì Tam qui, giữ trọn các giới, chẳng trái phạm oai nghi. Ba, phát tâm bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người tu tập”.

Hiếu dưỡng cha mẹ, gồm có hiếu dưỡng cha mẹ thế gian và hiếu dưỡng cha mẹ xuất thế gian. Hiếu dưỡng cha mẹ thế gian, như trong Hiếu Kinh đã nói. Hiếu dưỡng cha mẹ xuất thế gian như suốt đời phụng sự giáo pháp, như Luật đã ghi. Cung kính hầu hạ thầy tổ, lại có thầy tổ thế gian và thầy tổ xuất thế gian. Thầy tổ thế gian dạy cho ta nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Thầy tổ xuất thế gian dạy cho ta Thánh đạo môn và Tịnh độ môn. Dẫu không có các hạnh khác, thì lấy hiếu dưỡng cha mẹ và hầu hạ thầy tổ làm hạnh vãng sanh. Thể hiện tâm từ không sát sanh.

Thực hành mười điều thiện cũng có hai nghĩa: Một, thể hiện tâm từ không sát sanh, tâm từ đây chính là Từ vô lượng trong bốn tâm vô lượng (từ, bi, hỉ, xả). Ở đây nêu một tâm đầu tiên, nhưng lại gồm thâu ba tâm còn lại. Ví như không có các hạnh khác thì dùng bốn tâm vô lượng làm hạnh nghiệp vãng sanh. Hai, thực hành mười điều thiện là: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không ác khẩu, không nói đôi chiều, không tham, không sân, không tà kiến. Nếu hợp hai câu “tâm từ không sát sanh và thực hành mười điều thiện” thành một câu, thì “tâm từ không sát sanh” chẳng phải là tâm Từ vô lượng mà là chỉ chung cho chi thứ nhất không sát sanh trong mười thiện. Cho nên biết, “tâm từ không sát sanh” ở đây là chỉ cho chi thứ nhất. Nếu không có các hạnh khác thì dùng mười thiện làm hành nghiệp vãng sanh.

Thọ trì Tam qui cũng có hai loại là Đại thừa tam qui và Tiểu thừa tam qui. Giữ trọn các giới, có hai loại là giới Đại thừa và giới Tiểu thừa.

Chẳng phạm oai nghi có hai là oai nghi Đại thừa gồm tám vạn, oai nghi Tiểu thừa có ba ngàn.

Phát tâm Bồ-đề thì có các chủ trương khác nhau. Tông Thiên Thai có tâm Bồ-đề của bốn giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên được trình bày đầy đủ trong bộ Chỉ Quán . Tông Chân Ngôn thì lập ba loại tâm Bồ-đề là Hạnh nguyện, Thắng nghĩa và Tam-ma-địa được nói trong Luận Bồ-đề Tâm . Tông Hoa Nghiêm cũng có lập tâm Bồ-đề như trong bộ Bồ-đề Tâm Nghĩa và Du Tâm An Lạc Đạo đã nói. Tông Tam Luận và Pháp Tướng cũng có lập tâm Bồ-đề như trong các bộ sách giải thích của hai tông này đã trình bày. Ngài Thiện Đạo cũng đã giải thích về tâm Bồ-đề như trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh Sớ đã ghi. Tuy đều nói phát tâm Bồ-đề, nhưng tùy theo tông phái mà ý nghĩa khác nhau. Thế thì chỉ một câu “tâm Bồ-đề” mà liên quan rộng đến các kinh, bao gồm các giáo Hiển-Mật, ý khí rộng xa, diễn bày thật sâu xa rộng lớn. Nguyện xin các hành giả chớ chấp một mà bỏ nhiều. Các hành giả cầu vãng sanh nên phát tâm Bồ-đề theo đúng nghĩa của tông mình. Nếu không có các hạnh tu khác thì nên dùng tâm Bồ-đề làm hành nghiệp vãng sanh. Về tin sâu nhân quả, cũng có hai ý là nhân quả thế gian và nhân quả xuất thế gian. Nhân quả thế gian tức là nhân quả sáu đường , như kinh Chánh Pháp Niệm đã nói. Nhân quả xuất thế gian tức là nhân quả của tứ thánh , như trong các kinh Đại Tiểu thừa đã nói. Nếu phối hợp hai pháp nhân quả với các kinh, thì các tông có các chủ trương khác nhau. Trong đó, tông Thiên Thai cho rằng Hoa Nghiêm nói nhân quả Phật và Bồ-tát; A-hàm nói nhân quả Thanh văn và Duyên giác; các bộ kinh Phương Đẳng nói nhân quả bốn thừa ; các bộ Bát-nhã nói nhân quả của ba giáo Thông, Biệt, Viên; Pháp Hoa nói nhân Phật, quả Phật; Niết-bàn lại nói nhân quả bốn thừa. Thế thì nói tin sâu nhân quả, đã bao quát cả giáo pháp trong một đời Như Lai. Những người cầu vãng sanh, ví như không có các hạnh khác, thì nên lấy tin sâu nhân quả làm hành nghiệp vãng sanh.

Đọc tụng kinh điển Đại thừa, có hai ý: Một là tụng đọc, hai là nói về Đại thừa. Đọc tụng, tức là nên chuyển đọc, phúng tụng để hiển rõ nghĩa thọ trì trong năm loại Pháp sư . Nếu căn cứ theo mười pháp hành , thì nêu hai loại xem đọc và phúng tụng để hiển rõ tám pháp hành còn lại là biên chép, cúng dường… Nói Đại thừa là để phân biệt với Tiểu thừa; nhưng không chỉ riêng một kinh nào mà chung cho tất cả kinh Đại thừa. Nói tất cả, theo ý Phật, thì chỉ cho tất cả các kinh Đại thừa mà Đức Phật đã nói trong một đời, gồm cả những kinh chưa được kết tập. Lại trong những kinh đã kết tập, có quyển còn ẩn tại Long cung, chưa lưu hành ở nhân gian, hoặc có quyển lưu hành ở Ấn Độ, nhưng chưa lưu hành tại Trung Quốc. Nay luận theo những kinh đã phiên dịch sang Hán ngữ, thì trong Trinh Nguyên Nhập Tạng Lục, kinh Đại thừa bắt đầu ghi từ bộ Đại Bát-nhã sáu trăm quyển đến cuối cùng là kinh Pháp Thường Trụ. Tổng cộng có 637 bộ, 2883 quyển kinh Đại thừa Hiển – Mật, tất cả đều gom vào câu “đọc tụng kinh điển Đại thừa”. Xin các hành giả cầu sanh Tây phương tùy theo ý thích, hoặc đọc tụng kinh Pháp Hoa, hoặc kinh Hoa Nghiêm, hoặc thọ trì đọc tụng Già-na Giáo Vương kinh cho đến các Tôn pháp làm hành nghiệp vãng sanh, hoặc giải thích, giảng nói, biên chép các kinh Bát-nhã, Phương Đẳng và Niết-bàn làm hành nghiệp vãng sanh. Đó là chủ ý trong kinh Quán Vô Lượng Thọ của tông Tịnh Độ.

Hỏi: Yếu chỉ của Hiển giáo và Mật giáo khác nhau, vì sao trong Hiển thâu nhiếp Mật?

Đáp: Ở đây không phải nói thâu nhiếp yếu chỉ Hiển-Mật, mà chỉ nói câu “đọc tụng kinh điển Đại thừa” bao quát việc đọc tụng kinh điển Đại thừa Hiển-Mật đã xếp vào trong Khai Nguyên Nhập Tạng Lục.

Hỏi: Vậy trong các kinh trước Quán Kinh, sao lại gồm thâu cả kinh Pháp Hoa?

Đáp: Ở đây nói gồm thâu, không phải nói đến các nghĩa quyền, thật, thiên, viên mà chỉ nói câu “đọc tụng kinh điển Đại thừa” thông từ trước đến sau. Trước là những kinh Đại thừa Phật nói trước Quán Kinh, sau là những kinh Đại thừa Phật nói sau hội Vương Cung . Chỉ nói kinh Đại thừa, chứ không chọn quyền hay thật, cho nên bao gồm các kinh Đại thừa như Hoa Nghiêm, Phương Đẳng, Bát-nhã, Pháp Hoa, Niết-bàn.

“Khuyên người tu tập” tức khuyên tu các pháp Định thiện, Tán thiện và Niệm Phật tam-muội.

* Chín phẩm: Tức phân chia ba phước làm hành nghiệp của chín phẩm. Trong Thượng phẩm thượng sanh nói: “Thể hiện tâm từ không sát sanh” là hợp với câu thứ ba trong Thế phước. Nói: “Đầy đủ giới hạnh” là hợp với câu thứ hai trong Giới phước. Nói: “Đọc tụng kinh điển Đại thừa” là hợp với câu thứ ba trong Hạnh phước. Kế đến nói thực hành sáu niệm là ý thứ ba thuộc phước thứ ba trong ba phước vừa nêu. Trong Thượng phẩm trung sanh nói “hiểu rõ nghĩa thú” là hợp với ý thứ hai và ba trong phước thứ ba. Trong Thượng phẩm hạ sanh nói “tin sâu nhân quả, phát đạo tâm” là hợp với ý thứ nhất và hai trong phước thứ ba. Trong Trung phẩm thượng sanh nói “thọ trì năm giới” là hợp với ý thứ hai trong phước thứ hai. Trong Trung phẩm trung sanh nói “một ngày một đêm thọ trì tám trai giới” là hợp với phước thứ hai. Trong Trung phẩm hạ sanh nói “hiếu dưỡng cha mẹ, thực hành nhân từ thế gian” là hợp với ý một và hai của phước thứ nhất. Hạ phẩm thượng sanh dành cho những người tạo thập ác, lúc lâm chung một niệm xưng danh hiệu Phật, tội diệt liền được vãng sanh. Hạ phẩm trung sanh dành cho những người mang tội phá giới, lúc lâm chung nghe nói công đức y báo chánh báo của Phật, nên tội diệt, liền được vãng sanh. Hạ phẩm hạ sanh dành cho những người tạo năm tội nghịch, lúc lâm chung xưng mười niệm danh hiệu Phật, tội diệt được vãng sanh. Ba phẩm này dành cho những người lúc bình thường chỉ tạo nghiệp ác, không cầu vãng sanh, nhưng lúc lâm chung gặp thiện tri thức chỉ dạy, nên được sanh về. Nếu căn cứ theo ba phước thì phước thứ ba thuộc Đại thừa.

b. Niệm Phật: Tức chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà. Nghĩa “niệm Phật” như thường giải thích. Ở đây chỉ nói việc phó chúc danh hiệu này cho A-nan lưu truyền mãi mãi về sau. Kinh này đã nói rộng về hai hạnh Định thiện và Tán thiện, nhưng Đức Phật Thích-ca không dặn dò A-nan lưu truyền đời sau, mà chỉ dặn dò lưu truyền Niệm Phật Tam-muội.

Hỏi: Vì sao như vậy?

Đáp: Vì hành nghiệp có sâu cạn, nên không phó chúc. Trong ba phước nghiệp, có phước nghiệp cạn mỏng, có phước nghiệp sâu dày. Phước nghiệp cạn mỏng là hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính hầu hạ thầy tổ; phước nghiệp sâu dày là giữ trọn các giới, phát tâm Bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa. Cần phải bỏ hành nghiệp cạn mà phó chúc hành nghiệp sâu. Vì pháp quán có cạn sâu, nên Đức Phật không phó chúc. Trong mười ba pháp quán, có pháp quán cạn, có pháp quán sâu. Pháp quán cạn là pháp quán mặt trời, pháp quán nước. Pháp quán sâu gồm mười một pháp, từ pháp quán đất đến tạp quán. Như thế cần phải bỏ pháp quán cạn mà phó chúc pháp quán sâu. Trong đó pháp thứ chín, quán Phật A-di-đà tức là Quán Phật Tam-muội. Lại bỏ mười hai pháp kia, chỉ phó chúc Quán Phật Tam-muội.

Hỏi: Phần Huyền Nghĩa trong Quán Kinh Sớ ghi: “Kinh này lấy Quán Phật Tam-muội làm tông, cũng lấy Niệm Phật Tam-muội làm tông”. Đã lấy hai hạnh làm tông chỉ của kinh, vì sao chỉ phó chúc Niệm Phật Tam-muội?

Đáp: Đã nói chủ ý trong bản nguyện của Đức Phật là nhằm khuyên chúng sanh một bề chuyên ròng xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, mà hai thiện Định và Tán không phải là bản nguyện, cho nên không phó chúc. Quán Phật Tam-muội tuy rất thù thắng, nhưng cũng chẳng phải là bản nguyện, cho nên cũng không phó chúc. Niệm Phật Tam-muội là bản nguyện Phật, nên được phó chúc. Nói bản nguyện, tức là nguyện thứ mười tám trong bốn mươi tám nguyện, kinh Vô Lượng Thọ.

Hỏi: Nếu như thế, tại sao không nói thẳng vào hạnh Niệm Phật mà phải nhiều lời nói đến các các hạnh Định Tán, không phải bản nguyện?

Đáp: Hạnh bản nguyện niệm Phật đã nói rõ trong kinh Vô Lượng Thọ Phật, không cần phải bàn thêm. Nhưng nói Định-Tán là để hiển rõ Niệm Phật siêu việt các hạnh thiện khác. Nếu không nói Định-Tán thì lấy gì so sánh để biết Niệm Phật là kỳ đặc? Giống như kinh Pháp Hoa, nêu ba thừa để hiển bày thượng thừa, nếu không có ba thừa lấy gì hiển Pháp Hoa là bậc nhất. Cho nên, vì phế bỏ mà phải nói Định-Tán, vì dựng lập mà nói Niệm Phật Tam-muội. Nhưng hai thiện Định-Tán cũng thật khó lường, phàm “Quán y, chánh như gương soi vạn tượng, nguyện vãng sanh mau đến thật rõ ràng”; hoặc nhờ sức một pháp quán mà tội nhiều kiếp tiêu trừ, hoặc công nhiều vạn ức cuối cùng được Tam-muội thù thắng.

Thế thì, người cầu vãng sanh nên tu định quán. Trong đó, pháp thứ chín, quán chân thân Phật chính là Quán Phật Tam-muội. Nếu thành tựu, tức thấy được Đức Phật A-di-đà. Thấy được Phật A-di-đà thì thấy được các Đức Phật. Vì thấy các Đức Phật, nên hiện tiền được thọ kí. Pháp quán này đem lại lợi ích to lớn như thế. Nhưng đến phần Lưu thông trong Quán Kinh, khi Đức Thích-ca Như Lai phó chúc yếu pháp vãng sanh, Ngài không phó chúc pháp Quán Phật, mà chọn pháp Niệm Phật để phó chúc cho A-nan. Pháp Quán Phật Tam-muội còn không được phó chúc, huống gì các pháp quán khác. Thế thì mười ba pháp định quán đều không được Như Lai phó chúc.

Nhưng người đời nay, nếu ai thích tu quán Phật… mà không chịu niệm Phật, không chỉ trái với bản nguyện của Đức A-di-đà mà còn trái với lời phó chúc của Đức Thích Tôn, người tu hành nên suy xét kĩ!

Trong Tán thiện có các hạnh như: Trì giới Đại thừa và Tiểu thừa, người đời đều cho rằng trì giới là pháp cốt yếu để vào chân đạo, người phá giới thì không được vãng sanh. Lại có hạnh phát tâm Bồ-đề, người đời đều cho tâm bồ-đề là cương yếu của Tịnh độ, nếu không có tâm Bồ-đề thì không được vãng sanh. Lại có hạnh hiểu Đệ nhất nghĩa không, đây là lí quán, người đời cũng cho lí quán là nguồn Phật, không thể lìa lí mà cầu sanh Phật quốc. Nếu không có lí quán thì không thể vãng sanh. Lại có hạnh đọc tụng kinh điển Đại thừa, mọi người đều cho rằng đọc tụng kinh điển ấy sẽ được vãng sanh, nếu không đọc tụng thì không thể vãng sanh. Đọc tụng có hai việc là trì kinh và trì chú. Trì kinh chính là trì kinh Bát-nhã, Pháp Hoa… trì chú tức là trì các thần chú Huỳnh Tùy Cầu, Tôn Thắng Đà-la-ni, Quang Minh Chân ngôn, A-di-đà Đại Tâm chú…

Tán thiện tuy có mười một hạnh (hiếu dưỡng cha mẹ, cung kính hầu hạ thầy tổ, thể hiện tâm từ không sát sanh, thực hành mười điều thiện, thọ trì Tam qui, giữ trọn các giới, chẳng trái phạm oai nghi, phát tâm bồ-đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyên người tu tập), nhưng bốn hạnh trên (trì giới, phát tâm Bồ-đề, hiểu Đệ nhất nghĩa không, đọc tụng kinh điển Đại thừa) rất được người đời ưa thích, dùng các hạnh này để phá hạnh Niệm Phật. Nhưng ý kinh không phó chúc lưu thông các hạnh này, chỉ phó chúc hạnh Niệm Phật. Đức Thích Tôn sở dĩ không phó chúc lưu thông các hạnh khác, vì đó không phải là bản nguyện của Đức A-di-đà. Ngài phó chúc hạnh Niệm Phật, vì đó là bản nguyện của A-di-đà. Ngày nay ngài Thiện Đạo sở dĩ bỏ các hạnh mà trở về hạnh Niệm Phật, vì đó không chỉ là hạnh bản nguyện của Đức A-di-đà mà còn là hạnh được Đức Thích Tôn phó chúc. Cho nên biết, các hạnh khác đã không hợp cơ mà còn không đúng thời. Hạnh Niệm Phật vãng sanh vừa hợp cơ vừa đúng thời, há cảm ứng suông ư?

Nên biết, vì tùy người, nên đầu tiên Đức Phật tạm thời mở ra hai môn Định-Tán, nhưng sau vì tùy mình nên đóng hai môn Định-Tán, mở ra môn Niệm Phật, một lần mở ra thì vĩnh viễn không đóng lại. Hành giả nên biết, ý bản nguyện của Đức A-di-đà và ý phó chúc của Đức Thích Tôn chính ở nơi đây. Nói “đời tương lai xa mai sau”, theo ý trong kinh Vô Lượng Thọ, chính là chỉ cho thời gian một trăm năm sau mạt pháp một vạn năm. Thời gian sau khi pháp diệt hết mà còn như thế, huống gì là thời Mạt pháp; mạt pháp mà còn như thế, huống gì là Tượng pháp và Chánh pháp. Cho nên biết con đường niệm Phật vãng sanh thông suốt cả ba thời Chánh, Tượng, Mạt và một trăm năm sau khi giáo pháp diệt hết.

XIII. Niệm Phật nhiều căn lành, Tạp thiện ít căn lành

TRÍCH DẪN:

Kinh A-di-đà ghi: “Không thể với nhân duyên một ít phước đức căn lành mà được vãng sanh cõi nước kia. Này Xá-lợi-phất! Nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe nói đến Phật A-di-đà rồi trì niệm danh hiệu ấy trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, bảy ngày, nhất tâm không loạn. Lúc mạng chung, người này được Đức Phật A-di-đà và các vị Thánh hiện đến trước mặt, tâm người ấy không điên đảo, liền được sanh về nước Cực Lạc”.

Hòa thượng Thiện Đạo trong bộ An Lạc Hành Đạo Chuyển Kinh Nguyện Sanh Tịnh Độ Pháp Sự Tán quyển hạ, giải thích đoạn kinh trên như sau:

Niết-bàn, Cực Lạc chỉ một miền

Khó về, bởi hạnh Tạp tùy duyên

Vì thế Như Lai chọn pháp yếu

Dạy niệm Di-đà chuyên càng chuyên

Bảy ngày, bảy đêm không gián đoạn

Lâu dài tu tập lại thêm siêng

Lâm chung Thánh chúng mang hoa đến

Thân tâm vui thỏa ngự liên đài

Ngự rồi liền được Vô sanh nhẫn

Nhất niệm liền đưa đến Phật tiền

Pháp lữ tranh nhau đem y đến

Chứng ngay bất thoái, vị Tam hiền.

LUẬN RẰNG:

Không thể với nhân duyên một ít phước đức căn lành mà được sanh về nước kia. Tức những người tu tạp hạnh khó sanh về, cho nên nói “khó về”, bởi hạnh Tạp tùy duyên. Tu Tạp thiện thì ít căn lành, tu niệm Phật thì nhiều căn lành. Long Thư Tịnh Độ ghi: “Kinh A-di-đà khắc trên đá tại Tương Dương là do Trần Nhân Lăng đời nhà Tùy viết chữ, nét chữ thanh thoát rất đẹp, mọi người đều thích ngắm nhìn. Sau câu: “ Nhất tâm chẳng loạn” có ghi thêm: “Chuyên trì niệm danh hiệu, vì trì niệm, nên tội tiêu diệt, đây chính là nhân duyên nhiều phước đức căn lành. Bản kinh lưu truyền ở thế gian thiếu câu này”.

Không chỉ có nghĩa nhiều ít mà còn có nghĩa lớn nhỏ và nghĩa thắng liệt. Tức tu Tạp thiện thì căn lành nhỏ, tu niệm Phật thì căn lành lớn; tu Tạp thiện thì căn lành kém, tu niệm Phật thì căn lành thù thắng.

XIV. Vô lượng các Đức Phật trong mười phương đều không chứng thực cho tạp hạnh, chỉ chứng thực cho hạnh Niệm Phật

TRÍCH DẪN:

Quán Niệm Pháp Môn ghi: “Kinh A-di-đà nói: Vô lượng các Đức Phật trong sáu phương đều hiện tướng lưỡi rộng dài che phủ cả tam thiên đại thiên thế giới mà nói lời chân thật rằng: Hoặc Phật còn ở đời hoặc sau khi Phật diệt độ, tất cả những phàm phu tạo tội chỉ cần hồi tâm niệm danh hiệu A-di-đà Phật, nguyện sanh về cõi Tịnh, nhiều thì trọn một đời, ít thì bảy ngày, một ngày, mười niệm, ba niệm, một niệm. Người này lúc sắp qua đời, Đức Phật và các vị Thánh tự đến đón rước, liền được vãng sanh. Các Đức Phật trong sáu phương hiện tướng lưỡi như thế, nhất định là vì chứng thực cho hàng phàm phu diệt tội, được vãng sanh. Nếu chẳng đúng theo lời chứng thực này, được vãng sanh, thì các Đức Phật trong sáu phương sau khi lưỡi hiện ra khỏi miệng sẽ không thể thâu vào mà còn tự nhiên hư nát nữa.

Vãng Sanh Lễ Tán dẫn kinh A-di-đà: “Vô lượng Đức Phật ở phương Đông, vô lượng Đức Phật ở phương Tây, Nam, Bắc, trên, dưới mỗi mỗi đều ở tại trụ xứ của mình, hiện tướng lưỡi che phủ cả tam thiên đại thiên thế giới mà nói lời thành thật rằng: Chúng sanh các ngươi nên tin kinh Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm này. Thế nào gọi là hộ niệm? Đó là, nếu có chúng sanh xưng niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hoặc bảy ngày, hoặc một ngày, cho đến mười tiếng, một tiếng hay chỉ một niệm. Người này nhất định được vãng sanh. Chứng thực cho việc này, nên gọi là kinh Hộ Niệm”. Lại nói:

Sáu phương Như Lai đồng minh xác

Chuyên trì danh hiệu, đến Lạc bang

Đến rồi, hoa nở, nghe diệu pháp

Hạnh nguyện Thập địa tự nhiên toàn.

Quán Kinh Sớ ghi: “Các Đức Phật trong mười phương sợ chúng sanh không tin lời của Đức Phật Thích-ca, nên liền đồng tâm, đồng thời, mỗi mỗi hiện tướng lưỡi che phủ cả ba ngàn đại thiên thế giới nói lời thành thật: “Chúng sanh các ngươi nên tin lời Phật Thích-ca nói, khen ngợi và chứng thực. Tất cả phàm phu, không luận là kẻ gây tội, người tạo phước hoặc nhiều hoặc ít, thời gian tu tập lâu hay mau, chỉ cần lâu thì trọn đời, mau thì từ một ngày, bảy ngày nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nhất định sẽ được vãng sanh”.

Pháp Sự Tán ghi:

Tâm tâm niệm Phật, đâu nên ngại

Sáu phương chư Phật chứng chẳng sai

Ba nghiệp chuyên ròng không tạp loạn

Hoa sen trăm báu tức thời lai.

Tịnh Độ Ngũ Hội Pháp Sự Tán của thiền sư Pháp Chiếu ghi:

Tịnh Độ bậc nhất trong muôn hạnh

Mau chóng cấp thiết không gì sánh

Không chỉ là lời Thích-ca Phật

Mười phương các Phật cũng chứng thành.

LUẬN RẰNG:

Hỏi: Vì sao các Đức Phật trong sáu phương chỉ chứng thực một hạnh Niệm Phật?

Đáp: Theo ý của ngài Thiện Đạo thì hạnh Niệm Phật là bản nguyện của Đức A-di-đà cho nên các Đức Phật mới chứng thực, còn các hạnh khác không phải bản nguyện, nên không chứng thật.

Hỏi: Nếu căn cứ theo bản nguyện mà chứng thực hạnh Niệm Phật, tại sao trong Quán Kinh và kinh Vô Lượng Thọ, khi Đức Thích-ca nói pháp Niệm Phật, các Đức Phật không chứng thực?

Đáp: Câu này có hai cách giải thích. Một, trong hai bộ kinh đó tuy nói hạnh Niệm Phật bản nguyện, nhưng cũng nói đến các hạnh khác, cho nên các Đức Phật không chứng thực. Kinh này chỉ một bề nói hạnh Niệm Phật, nên các Đức Phật mới chứng thực. Hai, trong hai bộ kinh trên, tuy không có lời chứng thực, nhưng đã có lời chứng thực trong kinh A-di-đà. Từ đó suy ra thì hạnh Niệm Phật trong hai bộ kinh trên thật ra cũng có nghĩa chứng thực. Lại nữa, văn kinh này có thể thông với văn của kinh kia. Cho nên Luận Thập Nghi ghi: “Kinh A-di-đà, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Cổ Âm Thanh Đà-la-ni đều nói khi Phật Thích-ca thuyết kinh này, có vô lượng các Đức Phật trong mười phương hiện tướng lưỡi che phủ cả ba ngàn đại thiên thế giới, nói lời thành thật rằng: ‘Tất cả chúng sanh niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nhờ sức bản nguyện đại bi của Phật, cho nên nhất định được sanh về thế giới Cực Lạc”.

XV. Các Đức Phật trong sáu phương đều hộ niệm hành giả Niệm Phật

TRÍCH DẪN:

Quán Niệm Pháp Môn ghi: “Kinh A-di-đà nói: Nếu có chúng sanh trong bảy ngày bảy đêm cho đến trọn đời, một lòng chuyên niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện vãng sanh, người này luôn được vô lượng Đức Phật trong sáu phương đến hộ niệm, nên gọi là kinh Hộ Niệm. Hộ niệm không để cho ác quỉ thần thừa dịp làm hại, cũng không để vô cớ sanh bệnh, chết oan, gặp nguy hiểm, tất cả tai họa tự nhiên tiêu trừ, không bao giờ đến với thân tâm”.

Vãng Sanh Lễ Tán ghi: “Nếu niệm danh hiệu Phật cầu vãng sanh, thường được vô lượng các Đức Phật trong sáu phương hộ niệm, nên gọi là kinh Hộ Niệm. Vậy nay đã có thệ nguyện tăng thượng đáng nương tựa này rồi, vì sao các Phật tử không gắng sức đi!

LUẬN RẰNG:

Hỏi: Vì sao chỉ có các Đức Như Lai trong sáu phương hộ niệm?

Đáp: Không hạn cuộc các Như Lai trong sáu phương, mà Phật A-di-đà, bồ-tát Quán Thế Âm… cũng đến hộ niệm. Cho nên trong Vãng Sanh Lễ Tán ghi: “Kinh Thập Vãng Sanh nói: Nếu có chúng sanh niệm danh hiệu Phật A-di-đà, nguyện vãng sanh, Đức Phật ấy liền sai hai mươi lăm vị Bồ-tát theo bảo vệ. Trong tất cả các thời, ngày hay đêm, khi đi đứng, lúc nằm ngồi không để cho ác quỉ, ác thần làm hại. Quán Kinh ghi: Nếu người lễ lạy, trì niệm Phật A-di-đà, nguyện sanh về nước ấy, Đức Phật ấy sẽ sai vô số Hóa Phật, vô số Hóa Bồ-tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí hộ niệm. Các vị Hóa Phật và Bồ-tát ấy lại cùng với hai mươi lăm vị Bồ-tát vừa nêu tạo thành trăm lớp, ngàn lớp vây quanh, không kể khi đi đứng, lúc nằm ngồi, dù ngày hay đêm cũng không bao giờ rời người ấy. Đã có lợi ích quí báu đáng tin này, xin hành giả nên chí tâm cầu vãng sanh”.

Quán Niệm Pháp Môn ghi: “Như Quán Kinh nói: Nếu có người chí tâm niệm Phật A-di-đà và hai vị bồ-tát là Quán Âm, Thế Chí thì ba vị Thánh này luôn làm bạn lành, luôn theo bên để bảo vệ người ấy. Trong phẩm Hành, kinh Bát-chu Tam-muội , Phật dạy: Nếu người chuyên thực hành tam-muội Niệm Di-đà Phật này, thì thường được tất cả trời, Tứ thiên vương , bát bộ rồng, thần theo bên mình bảo vệ, ưa thích gặp mặt, vĩnh viễn không bị các ác quỉ thần, tai ách, chướng nạn não loạn. Trong phẩm Hộ Trì nói rất rõ điều này. Kinh này còn ghi: “Trừ lúc vào Tam-muội đạo tràng, còn hằng ngày đặc biệt niệm một vạn biến A-di-đà không gián đoạn, nhất định được Đức A-di-đà hộ niệm, giúp tiêu trừ các tội chướng. Lại được Phật và các Thánh thường đến bảo vệ, do đó mà tuổi thọ kéo dài”.

XVI. Đức Phật Thích-ca thiết tha phó chúc danh hiệu A-di-đà cho Xá-lợi-phất

TRÍCH DẪN:

Kinh A-di-đà ghi: “Đức Phật thuyết kinh này xong, Xá-lợi-phất, các vị Tì-kheo, tất cả trời, người, a-tu-la nghe dạy hoan hỉ tin nhận, lễ lạy rồi lui ra.

Trong Pháp Sự Tán, ngài Thiện Đạo giải thích đoạn này như sau: “Khi Đức Thế Tôn thuyết pháp sắp xong, Ngài đã thiết tha phó chúc danh hiệu A-di-đà. Trong thời năm trược ác tăng mạnh, nhiều người nghi ngờ phỉ báng, đạo tục khinh chê không chịu nghe. Hễ thấy ai tu pháp môn này, liền khởi tâm giận dữ, dùng mọi cách phá hoại, nối nhau sanh oán hận. Những kẻ sanh manh xiển-đề như thế, hủy diệt đốn giáo, sẽ mãi mãi chìm đắm, trải qua số kiếp nhiều như hạt bụi trong đại địa này vẫn không thoát khỏi thân trong ba đường ác. Mọi người hãy đồng tâm sám hối những nhân duyên của tội phá pháp!”

LUẬN RẰNG:

Xét kĩ chủ ý của ba bộ kinh , đều chọn hạnh Niệm Phật trong các hạnh làm chỉ thú. Trước nhất, trong kinh Vô Lượng Thọ có ba tuyển chọn là: tuyển chọn bản nguyện, tuyển chọn khen ngợi, tuyển chọn giáo pháp để lưu. Tuyển chọn bản nguyện, tức pháp Niệm Phật này là hạnh vãng sanh mà Tì-kheo Pháp Tạng đã tuyển chọn từ hai trăm mười ức cõi Phật, như đã trình bày kĩ ở trên. Tuyển chọn khen ngợi, trong ba bậc vãng sanh nói ở trên, tuy có nêu đủ các hạnh như phát tâm Bồ-đề… nhưng Đức Thích-ca không khen ngợi, chỉ khen ngợi hạnh Niệm Phật rằng: “Nên biết, dù chỉ một niệm cũng có công đức vô thượng”. Tuyển chọn giáo pháp để lưu, tuy nêu các hạnh thiện, nhưng Đức Thích-ca chỉ chọn một pháp Niệm Phật để lưu lại đời sau.

Trong Quán Kinh cũng có ba loại tuyển chọn: tuyển chọn nhiếp thủ, tuyển chọn Hóa Phật tán thán, tuyển chọn phó chúc. Tuyển chọn nhiếp thủ, trong Quán Kinh tuy nói các hạnh Định-Tán, nhưng ánh sáng của Đức A-di-đà chỉ chiếu đến chúng sanh niệm Phật, giữ lấy không lìa bỏ. Tuyển chọn Hóa Phật khen ngợi, hàng Hạ phẩm thượng sanh tuy có thực hành hai hạnh là nghe kinh và niệm Phật, nhưng Hóa Phật A-di-đà chỉ chọn người niệm Phật mà khen ngợi rằng: “Vì ngươi xưng niệm danh hiệu Phật, các tội tiêu diệt, nên nay ta đến đón ngươi”. Tuyển chọn phó chúc, kinh tuy nói đầy đủ hai thiện Định-Tán, nhưng chỉ phó chúc một hạnh Niệm Phật mà thôi.

Kinh A-di-đà có một loại tuyển chọn là tuyển chọn chứng thực. Các kinh khác tuy nói rất nhiều hạnh vãng sanh, nhưng các Đức Phật trong sáu phương không chứng thực. Đến khi thuyết hạnh Niệm Phật vãng sanh trong kinh này, vô lượng các Đức Phật trong sáu phương mới hiện tướng lưỡi rộng dài che phủ cả tam thiên đại thiên thế giới nói lời thành thật để chứng thực cho việc này.

Kinh Bát-chu Tam-muội có một loại tuyển chọn là tuyển chọn “ngã danh”. Phật A-di-đà tự nói rằng: “Nếu muốn sanh đến nước ta, thì nên luôn niệm danh hiệu ta (ngã danh) không dừng nghỉ”.

Bốn loại tuyển chọn: Bản nguyện, nhiếp thủ, ngã danh, Hóa Phật tán thán là của Đức Phật A-di-đà tuyển chọn. Ba loại tuyển chọn còn lại là của Đức Thích-ca tuyển chọn. Thế thì Đức Phật Thích-ca, A-di-đà và vô lượng các Đức Phật trong sáu phương đồng tâm chọn một hạnh Niệm Phật. Cho nên biết, ba kinh đều chọn Niệm Phật làm tông chỉ.

Phàm muốn chóng xa lìa sanh tử, cần phải bỏ Thánh đạo môn mà vào Tịnh độ môn. Trong Tịnh độ môn nên bỏ Tạp hạnh mà tu Chánh hạnh. Trong Chánh hạnh cần phải gác qua Trợ nghiệp mà chọn lấy Chánh định nghiệp. Chánh định nghiệp tức là xưng niệm danh hiệu Phật. Hễ xưng danh liền được vãng sanh, vì nhờ sức bản nguyện của Phật.

Hỏi: Các sư tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Chân Ngôn, Thiền, Tam Luận, Pháp Tướng đều có soạn những sớ giải cho pháp môn Tịnh Độ, vì sao không y cứ mà chỉ sử dụng các tác phẩm của ngài Thiện Đạo?

Đáp: Các sư kia tuy có soạn sớ giải cho pháp môn Tịnh Độ, nhưng không chọn Tịnh Độ làm tông chỉ, mà lấy Thánh đạo môn làm tông. Cho nên ở đây chỉ căn cứ theo chủ trương của ngài Thiện Đạo.

Hỏi: Tổ sư tông Tịnh Độ rất nhiều như: Ngài Ca Tài ở chùa Hoằng Pháp, Tam tạng Từ Mẫn… vì sao không y cứ mà chỉ theo ngài Thiện Đạo?

Đáp: Các sư ấy tuy là tông tổ, nhưng chưa đạt được tam-muội, còn ngài Thiện Đạo đã đạt Tam-muội. Đối với đạo đã có chỗ chứng ngộ, cho nên mới y cứ.

Hỏi: Nếu căn cứ theo việc đạt tam-muội, thì thiền sư Hoài Cảm cũng đã phát khởi tam-muội, sao không y cứ?

Đáp: Hòa-thượng Thiện Đạo là thầy, thiền sư Hoài Cảm là đệ tử. Vì thế nương theo thầy, không nương theo đệ tử, huống gì sự giải thích giữa thầy và trò có nhiều khác biệt. Cho nên không y cứ.

Hỏi: Nếu nói y cứ theo thầy chứ không theo đệ tử, vậy thiền sư Đạo Xước là thầy của hòa-thượng Thiện Đạo, lại là tổ sư của tông Tịnh Độ, vì sao không y cứ?

Đáp: Ngài Đạo Xước tuy là thầy, nhưng chưa phát tam-muội, chẳng biết mình được vãng sanh hay không, mới hỏi Thiện Đạo rằng: “Đạo Xước niệm Phật có được vãng sanh chăng?”. Sư bảo đặt một đóa sen trước Phật rồi hành đạo bảy ngày, nếu hoa không héo thì được vãng sanh. Ngài Đạo Xước làm theo, quả nhiên trải qua bảy ngày mà hoa không úa vàng. Ngài Đạo Xước khen Sư đã đạt đến chỗ sâu xa. Nhân đó thỉnh Sư nhập định quán xem sẽ được vãng sanh chăng. Sư liền vào định, chốc lát báo rằng: “Thầy cần phải sám hối ba tội mới được vãng sanh. Một là thầy đặt tôn tượng Phật nơi phòng dưới mái hiên, còn mình thì ở trong phòng sâu. Hai là thường sai khiến người xuất gia. Ba là xây dựng phòng ốc, nhà cửa làm tổn thương các loài côn trùng. Thầy nên đối trước các Đức Phật trong mười phương sám hối tội thứ nhất; đối trước tăng bốn phương, sám hối tội thứ hai; đối trước tất cả chúng sanh, sám hối tội thứ ba. Ngài Đạo Xước lắng tâm xét lại lỗi xưa, rồi nói: “Không sai!”. Thế là Đạo Xước tẩy tâm sám hối. Sau đó đến gặp Sư, Sư nói: “Tội của thầy đã diệt. Về sau, khi có luồng ánh sáng trắng chiếu soi, đó là tướng Thầy vãng sanh” (trích trong Tân Tu Vãng Sanh Truyện). Như thế biết được hòa-thượng Thiện Đạo đã đạt tam-muội, đủ năng lực làm thầy, hàng phàm phu đâu thể biết được giải hạnh của Sư. Huống gì người đời thường nói: “Từ khi Phật pháp truyền đến Trung Quốc đến nay, vẫn chưa xuất hiện bậc thiền sư có đức lớn”. Như thế, danh tiếng tuyệt luân của Sư không thể tán dương hết. Lại thêm lúc soạn sớ giải cho Quán Kinh, cảm được điềm lành, nhiều lần được chư thánh điểm hóa. Đã được các Thánh âm thầm gia hộ mà soạn, cho nên tăng tục thời bấy giờ gọi bộ kinh sớ này là Chứng Định Sớ, mọi người quí trọng như kinh của Phật.

Như trong phần cuối quyển 4, Quán Kinh Sớ, Sư thưa rằng: “Kính bạch tất cả các bậc tri thức hữu duyên! Tôi là phàm phu trong chốn tử sanh, trí huệ nông cạn, mà giáo pháp của Phật thì sâu xa, đâu dám tự ý sanh kiến giải khác. Do đó, tôi biểu đạt ý nguyện, cầu thỉnh chư Thánh hiển linh chứng nghiệm, ngõ hầu đạt đến chỗ sâu xa. Nam-mô qui mạng tận hư không biến pháp giới tất cả Tam bảo, Đức Phật Thích-ca, Đức Phật A-di-đà, Đức Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, đại hải chúng Bồ-tát và tất cả tướng trang nghiêm ở cõi kia ! Ngày hôm nay con muốn giải thích yếu nghĩa kinh này, làm phép tắc cho mai sau. Nếu hợp với bản nguyện đại bi của các Đức Phật trong ba đời, Đức Thích-ca, Đức A-di-đà… thì cầu xin trong mộng thấy được các cảnh giới như con đã nguyện ở trên”.

Trước tôn tượng Phật cầu nguyện rồi, hằng ngày ta tụng ba biến kinh A-di-đà, niệm ba vạn biến danh hiệu A-di-đà Phật và chí thành phát nguyện. Trong một đêm, ta mộng thấy các tướng cảnh giới như nguyện hiện ra rõ ràng trên không trung ở phương Tây. Nào là trăm lớp, ngàn lớp núi báu nhiều màu sắc phát ra vô lượng ánh sáng rực rỡ chiếu xuống mặt đất; mắt đất như vàng ròng, trên đó có các Đức Phật và Bồ-tát, hoặc ngồi, hoặc đứng, hoặc nói, hoặc im lặng, hoặc cử động, hoặc đứng yên. Khi thấy như vậy, ta đứng quán sát hồi lâu mới tỉnh thức. Sau khi thức, lòng ta vô cùng vui mừng liền biên soạn Nghĩa môn . Từ đó về sau, hằng đêm ta thường mộng thấy một vị Tăng đến chỉ bày khoa văn . Sau khi xong thì không còn thấy nữa. Khi soạn xong, ta lại chí tâm định kì hạn bảy ngày, mỗi ngày tụng mườì biến kinh A-di-đà, niệm danh hiệu Phật A-di-đà ba vạn biến. Đầu đêm, cuối đêm quán tưởng các tướng trang nghiêm của cõi Phật ấy, thành tâm qui mạng tất cả, nhất nhất đều thực hành như đã nói trên. Đêm thứ nhất, ta thấy ba cái cối xay bằng sức nước đang tự xoay bên đường, rồi bỗng nhiên có một người cưỡi lạc đà trắng đến khuyên: “Sư nên nỗ lực, nhất định vãng sanh, chớ lui sụt! Cõi này xấu ác, khổ nhiều, không nên nhọc lòng ưa thích”.

Ta đáp: “Được Hiền giả có lòng tốt chỉ dạy, tôi xin lấy cái chết làm kì hạn, không dám sanh tâm biếng trễ… Đêm thứ hai, ta thấy Đức Phật A-di-đà, thân màu vàng ròng, ngồi trên tòa sen vàng nơi cội cây bảy báu, có mười vị Tăng vây quanh, mỗi mỗi cũng ngồi nơi cội cây báu. Trên cây nơi Đức Phật ngồi có y trời treo quanh. Ta ngồi chắp tay, mặt quay về hướng Tây mà nhìn. Đêm thứ ba, ta thấy hai trụ rất lớn và cao vút, treo tràng phan năm màu, đường sá ngang dọc, người xem rất đông. Thấy các tướng này, ta liền thôi, không tiếp tục đến trọn bảy ngày. Các linh tướng ta thấy ở trên vốn là vì chúng sanh, chớ không phải vì mình, cho nên chẳng dám che dấu, mà ghi lại sau bộ sớ này, mong truyền đến đời sau. Nguyện cho tất cả những ai nghe được, phát khởi lòng tin, hoặc thấy được mà quy hướng Tây phương. Nguyện đem công đức này hồi hướng cho tất cả chúng sanh đều phát tâm Bồ-đề, đối xử với nhau bằng lòng từ, nhìn nhau bằng mắt Phật, quyến thuộc Bồ-đề là thiện tri thức chân thật. Nguyện cho tất cả chúng sanh đồng trở về cõi Phật, đồng thành Phật đạo”.

Bộ Sớ giải này đã cầu thỉnh Phật, Thánh chứng minh, xác định xong, không thể thêm bớt một lời, một câu. Nếu ai muốn sao chép, nhất nhất phải y như pháp chép kinh.

Kính nghĩ rằng: Quán Kinh Sớ của hòa-thượng Thiện Đạo chính là kim chỉ nam của giáo Tây Phương, là phương tiện không thể thiếu của hành giả Tịnh độ. Vậy hành giả Tịnh độ cần phải quí kính. Trong lời kể: Mỗi đêm mộng thấy một vị Tăng chỉ dạy huyền nghĩa . Vị Tăng này e là Đức A-di-đà ứng hiện. Như thế các vị nên cho rằng bộ sớ giải này là do Đức A-di-đà truyền dạy. Huống gì, vào thời Đường, người người truyền rằng ngài Thiện Đạo là hóa thân của Phật A-di-đà. Thế thì các vị nên cho rằng văn sớ này là do chính Đức A-di-đà thuyết. Đã nói: “Muốn sao chép, nhất nhất phải nên y như pháp chép kinh”, thì biết đây là lời chân thật vậy. Ngưỡng tìm về Bản địa thì Ngài chính là Pháp vương của bốn mươi tám nguyện, lời xướng niệm Phật của bậc Thập kiếp chánh giác thật có bằng chứng; cúi hỏi đến Thùy tích thì đây chính là Đạo sư chuyên tu niệm Phật, lời vãng sanh của bậc đạt Tam-muội chánh thọ thật chẳng nghi. Bản-Tích tuy khác, nhưng con đường giáo hóa chẳng hai. Lúc ấy bần đạo xem đọc sớ văn, tạm hiểu được bản ý, quyết định bỏ các hạnh khác mà trở về niệm Phật. Từ đó đến nay, dù tự tu hay độ người đều chọn lấy môn Niệm Phật. Cho nên, chỉ rõ bến bờ chung Tây phương cho người tham học, dạy khuyên biệt hạnh Niệm Phật cho những người thích hành trì. Người tin pháp này thì nhiều, người không tin rất ít.

Nên biết giáo pháp Tịnh Độ hợp thời cơ mà đang lưu thông, hạnh nghiệp Niệm Phật cảm đến triều đình mà tiến thoái. Nhưng nay chẳng vì mong được kính ngưỡng, mà vì không thể chối từ, mới gom chép những văn từ và nghĩa lí cốt yếu của môn Niệm Phật. Tôi chỉ quan tâm đến chỉ thú mà không kể mình là kẻ bất tài, thật là không biết hổ thẹn! Mong rằng mọi người một khi xem qua liền chôn kĩ nơi chân tường, chớ sơ suất để bên song cửa, khiến cho người phá pháp phải rơi vào đường ác!

Nguyên Không Pháp Nhiên Thượng nhân soạn
Thích Nguyên Chơn dịch

Từ khóa
Lưu ý : Nguoiphattu.com sẽ biên tập ý kiến của quý vị trước khi xuất bản. Người Phật tử hoan nghênh những ý kiến khách quan, có tính xây dựng và sẽ không đăng những ý kiến cực đoan. Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo sẽ không được đăng. Cám ơn sự đóng góp và quan tâm của quý vị.
Xem tin tức theo ngày:

Tin tức liên quan