Tên gọi chùa Yên Lệ đã gắn liền với nhiều lần thay đổi địa danh và địa giới hành chính qua các thời kỳ. Trước đây, chùa thuộc thôn Yên Lệ, xã Đại Tiết; sau đó thuộc thôn Yên Hòa, xã Thạch Linh; rồi đến Tổ dân phố 6, phường Nguyễn Du và ngày nay là Tổ dân phố 32, phường Thành Sen, tỉnh Hà Tĩnh.

Tháp mộ còn lại của chùa Yên Lệ, xã Đại Tiết, Hà Tĩnh một trong những dấu tích hiếm hoi của ngôi cổ tự.
Những thay đổi về tên làng, tên xã và đơn vị hành chính là một phần của quá trình biến đổi địa giới, đô thị hóa và phát triển của vùng đất Hà Tĩnh qua từng giai đoạn. Tuy nhiên, giữa những đổi thay ấy, tên gọi chùa Yên Lệ vẫn được người dân lưu giữ và nhắc nhớ qua nhiều thế hệ.
Đối với người dân trong vùng, chùa Yên Lệ không chỉ là một địa danh mà còn gắn với những ký ức về làng quê, đời sống tâm linh và những câu chuyện được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Dù địa danh hành chính đã nhiều lần thay đổi, tên gọi Yên Lệ và những ký ức về ngôi chùa vẫn còn đó, trở thành một phần trong đời sống văn hóa và ký ức của người dân địa phương, nối liền những câu chuyện của quá khứ với cuộc sống hôm nay.
Theo tư liệu còn ghi lại trong công trình nghiên cứu về chùa cổ Hà Tĩnh, của nhà nghiên cứu văn hóa Thái Kim Đỉnh. Yên Lạc tự vốn là một ngôi chùa lớn trong vùng, được xây dựng từ rất xa xưa và từng trải qua nhiều đợt đại trùng tu dưới các thời Lê, Nguyễn.
Tới nay, chưa thấy văn bia hay tư liệu cổ nào ghi chính xác năm chùa được khởi dựng. Dẫu vậy, có thể khẳng định đây là một ngôi cổ tự có niên đại rất sâu, nhiều khả năng đã hiện diện từ thời Lê và tiếp tục trầm mặc qua các triều đại. Những khoảng trống về năm dựng chùa, vị tổ khai sơn hay các đời trụ trì vẫn đang cần thông tin tư liệu, gia phả các dòng họ và ký ức còn sót lại của người già trong làng.
Dấu ấn chùa Yên Lệ trong thế kỷ XVIII
Trong số những mảnh ghép lịch sử hiếm hoi còn sót lại, quý giá nhất phải kể đến bài thơ “Đề Yên Lạc tự” của danh sĩ, Hoàng giáp Bùi Huy Bích.
Sách của nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh ghi lại: năm 1777, trên đường vào kinh lý và nhận chức Hiệp trấn Nghệ An, Bùi Huy Bích từng dừng chân nghỉ lại chùa Yên Lạc. Trước cảnh chùa thanh tịnh, ông đã đề thơ lưu niệm.
Nguyên tác có câu:
Sổ gian Yên Lạc tự,
Thiên lý dịch trình biên.
Điểu ngữ sơ tình thú,
Vân âm bán thực điền.
Càn khôn thành Phật quốc,
Hoa thảo cận xuân thiên...
Nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh dịch thơ:
Ngôi chùa Yên Lạc vài gian,
Bên đường thiên lý dừng chân mai này.
Chim kêu inh ỏi lùm cây,
Xấp xôi lúa chín, bóng mây qua đồng.
Cỏ hoa đượm vẻ xuân nồng,
Cảnh Thiền bỗng hóa một vùng càn khôn...
Mấy dòng thơ ấy chính là "chứng minh thư" lịch sử vô giá cho Yên Lạc tự. Qua nét vẽ bằng thơ của Bùi Huy Bích, người đời sau hình dung được trọn vẹn khung cảnh ngôi chùa cách đây gần 250 năm: một mái chùa khiêm nhường đứng bên con đường thiên lý, bao bọc bởi ruộng lúa, lùm cây, tiếng chim hót và nhịp sống làng quê êm đềm.

Dấu tích tháp mộ chùa Yên Lệ gắn với lịch sử và đời sống Phật giáo của người dân địa phương - Hình ảnh Phật tử nhân dân nhiễu tháp Sư bà trong ngày lễ húy kỵ
Sự kiện một bậc đại thần, danh sĩ lẫy lừng ghé nghỉ và đề thơ đã cho thấy Yên Lạc tự không chỉ là chỗ thờ tự đơn thuần, mà đã có vị trí rõ nét trong đời sống văn hóa – tâm linh của xứ Nghệ vào cuối thế kỷ XVIII.
Một ngôi đại tự của vùng Đại Tiết
Những tư liệu cũ đều nhìn nhận chùa Yên Lệ xưa là ngôi chùa lớn, có khi được gọi là "đại tự" của xã Đại Tiết. Không chỉ là chốn thờ tự linh thiêng, chùa còn là tâm điểm sinh hoạt tinh thần của cả vùng. Qua bao biến động, người dân vẫn gom góp công sức sửa sang, tôn tạo để giữ gìn nơi đi về tâm linh cho làng.
Lược theo lời kể của các vị cao niên, khuôn viên chùa xưa rất rộng khoảng hơn 1ha. Ngoài chánh điện bề thế tới bảy gian, xung quanh có nhà bái đường, công trình phụ như giếng nước, có hai nhà Thánh phía Đông và Đông bắc, những cây cổ thụ bóng che rợp mát. Trong đó, ấn tượng nhất là hai cây muỗm già đứng sừng sững trước cổng chùa qua nhiều thế hệ. Hai "cụ" muỗm ấy chỉ mới ngã xuống sau một trận bão lớn vào khoảng năm 1988.
Những câu chuyện ấy nay chỉ còn thấp thoáng trong trí nhớ của vài người già còn sống, nhưng lại là những mảnh ký ức cực kỳ giúp hậu thế hình dung lại dáng dấp ngôi chùa xưa.
Chùa Yên Lệ trong đời sống Phật giáo thế kỷ XX
Bước sang giữa đầu thế kỷ XX, các hoạt động tại chùa Yên Lệ vẫn rất quy cũ và bài bản, nhất là giai đoạn 1934 – 1955. Các ghi chép về Hòa thượng Thích Nhật Sách (pháp hiệu Thích Tinh Cần) cho biết: năm 1935, khi vào Hà Tĩnh hoằng pháp, Ngài đã dừng chân và hành đạo tại nhiều chùa trong vùng, trong đó có Yên Lệ. Tư liệu thời kỳ này cũng nhắc đến cụ Lê Văn Lung (pháp danh Lệ Thủy, tự Duyên Sinh) từng giữ chức Hội trưởng Hội Phật tử chùa Yên Lệ, hay Phật tử Nguyễn Văn Đản, pháp danh Chân Đôn, hay cụ Lê Văn Loát là những người Phật tử sinh sống gần chùa.

Dấu tích còn lại trước tháp mộ của chùa Yên Lệ bị hư hỏng phai mờ theo thời gian
Sự xuất hiện của Hội Phật tử cho thấy ở giai đoạn đó, Yên Lệ không phải một ngôi chùa hoang vắng mà có tổ chức sinh hoạt Phật giáo rất nề nếp. Đến năm 1953, Hòa thượng Thích Nhật Sách còn trao tặng cụ Lê Văn Lung một ấn triện Tam Bảo, chiếc mõ, và một số kinh sách. Đây là những manh mối quan trọng mà nếu được tiếp tục sưu tầm, đào sâu, sẽ góp phần vẽ được bức tranh Phật giáo Hà Tĩnh nửa đầu thế kỷ XX.
Những biến động của thời gian
Cũng chung số phận với nhiều ngôi cổ tự khác trên vùng đất lửa Hà Tĩnh, chùa Yên Lệ không tránh khỏi những biến động và xáo trộn của lịch sử.
Trải qua các cuộc chiến tranh và những giai đoạn cải tạo xã hội, ngôi chùa dần xuống cấp, hư hại rồi bị tháo dỡ hoàn toàn. Khuôn viên chùa cũ một phần được giao cho bộ đội, một phần được sử dụng cho Trung tâm Nông nghiệp và các mục đích khác. Tượng Phật, chuông đồng cùng nhiều đồ thờ tự cũng phần lớn bị thất lạc, mất mát theo thời gian.
Ngôi chùa từng được bao thế hệ người dân chung tay xây dựng, gìn giữ, cuối cùng chỉ còn lại một phần tháp mộ. Tháp có bốn mặt, trên mỗi mặt trước đây có ba hàng chữ Hán được đúc sẵn trên đất nung. Qua năm tháng, hai mặt tháp đã bị hư hỏng, hiện chỉ còn lại hai mặt vẫn có thể nhận ra những dòng chữ, trong đó có các chữ được đọc là “Võ Thị Tú” và “Ni Quý Bổn”.


Phần hoa văn và chữ Hán trên tháp mộ chùa Yên Lệ bị hư hỏng.


Những dòng chữ Hán còn nhận diện được để xác định đây là phần tháp mộ của một vị Ni
Xung quanh các góc tháp, một số hoa văn đã bị gãy vỡ. Những câu đối trên tháp cũng bong tróc, mờ nhạt, nhiều chỗ không còn đọc được rõ như trước.
Theo lời kể của Phật tử Lê Văn Lung, được truyền lại cho con cháu và những đạo hữu thân cận, đây là tháp mộ của một người con gái họ Võ trong làng, tên là Võ Thị Tú.


Thượng tọa Thích Thiện Nhơn cùng Phật tử và bà con nhân dân thành kính tưởng niệm Lịch đại Tổ sư và Giác linh Sư bà trước tháp mộ chùa Yên Lệ.
Chuyện kể rằng, khi bà đến tuổi trưởng thành và lấy chồng, trong ngày đưa dâu, khi đoàn rước dâu vừa về đến ngõ nhà chồng thì người chồng qua đời. Sau biến cố ấy, bà không lấy chồng nữa mà phát tâm đi tu.
Đến năm 88 tuổi, bà tự chọn cho mình cách rời khỏi cõi đời. Bà cho người chất củi thành giàn, rồi ngồi lên đó, châm lửa và ngồi tư thế kiết già, tay lần tràng hạt cho đến khi thân thể cháy thành tro.
Sau khi bà qua đời, người dân và Phật tử trong làng giữ nguyên vị trí, xây tháp mộ để tưởng nhớ. Ngôi tháp ấy vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, trở thành một trong những dấu tích hiếm hoi còn lại của chùa Yên Lệ xưa.
Chùa Yên Lệ không chỉ lưu giữ câu chuyện về vị sư bà Võ Thị Tú, mà còn gắn với nhiều câu chuyện dân gian về sự linh thiêng, huyền bí được người dân trong làng truyền kể từ thế hệ này sang thế hệ khác cho đến ngày nay. Những câu chuyện ấy, dù có những điều chưa thể kiểm chứng đầy đủ, vẫn là một phần ký ức dân gian gắn bó với ngôi chùa và đời sống tinh thần của người dân Yên Lệ.
Những dấu tích còn lại
Đến Yên Lệ hôm nay, dấu vết ngôi chùa cổ vẫn âm thầm hiện diện. Người ta vẫn chỉ cho nhau khoảng nền đất chùa cũ, cái giếng cổ và ngôi tháp mộ của một vị sư bà.
Tung tích về cuộc đời, đạo nghiệp cũng như thời điểm xây tháp của Sư bà đến nay vẫn chưa có đủ tư liệu xác minh. Đây vẫn là câu hỏi mở dành cho các nhà nghiên cứu, các gia đình và bà con Phật tử địa phương cùng tìm hiểu.
Một điểm sáng đáng nhớ là vào năm 2013, các Phật tử địa phương đã tìm về nền chùa cũ để tổ chức Lễ Tắm Phật. Tiếng chuông và lời kinh Phật vang lên trở lại trên mảnh đất xưa là minh chứng rõ nhất cho thấy: lòng người vẫn chưa hề quên Yên Lạc tự.
Ngôi chùa đã mất, nhưng lịch sử còn nguyên
Chùa Yên Lệ bây giờ không còn mái ngói cổ kính, không còn tiếng chuông chiều trầm bổng. Những gian chùa bên con đường thiên lý năm nào chỉ còn trong tưởng tượng.
Nhưng lịch sử của nó thì chưa bao giờ mất. Nó sống trong sách của Thái Kim Đỉnh, sống trong thơ Bùi Huy Bích, sống trong những kỷ vật của các bậc trụ trì, và sống trong ký ức của những người dân làng Đại Tiết xưa.
Từ hình ảnh "Ngôi chùa Yên Lạc vài gian / Bên đường thiên lý..." năm 1777, cho đến một ngôi chùa có Hội Phật tử sinh hoạt sôi nổi ở thế kỷ XX, lịch sử Yên Lạc tự chính là một phần máu thịt của làng Yên Lệ.
Dù vẫn chưa biết hết về ngôi chùa này:
- Chưa biết năm chùa phát móng dựng nền.
- Chưa có danh sách đầy đủ các đời trụ trì.
- Chưa ghi lại những lần chùa được trùng tu.
- Chưa gom đủ những tượng Phật, chuông, khánh, hoành phi, câu đối bị thất lạc.
Nhưng bấy nhiêu dấu tích còn lại cũng đã quá đủ để khẳng định: Yên Lệ tự từng giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tâm linh của vùng đất này.
Việc ghi chép, gom góp lại lịch sử chùa Yên Lệ không chỉ đơn thuần là tìm lại một ngôi chùa đã mất, mà là nhặt nhạnh lại một phần ký ức quê hương. Mỗi mảnh tư liệu sót lại, mỗi câu chuyện của người già, mỗi hiện vật còn nằm trong lòng đất đều cần được trân trọng và lưu giữ. Biết đâu từ những mảnh ghép khiêm nhường ấy, một ngày nào đó, bức tranh về ngôi cổ tự Yên Lệ sẽ lại hiện lên trọn vẹn như vốn có.
Hồng Lam
Nguồn tư liệu bước đầu:
- Thái Kim Đỉnh, Chùa cổ Hà Tĩnh – Tư liệu về chùa Yên Lạc (Yên Lệ) và bài thơ “Đề Yên Lạc tự” của Bùi Huy Bích.
- Các tư liệu Phật giáo ghi chép về chùa Yên Lệ, Hòa thượng Thích Nhật Sách, Hội Phật tử Yên Lệ và các di tích còn lại.
- Lời kể cụ Lê Văn Lung, Lê Văn Đính, Lê Văn Ngụ, Lê Văn Hiệp, Lê Đăng Nồng, ký ức dân gian và thông tin truyền miệng trong cộng đồng cư dân địa phương.
*Bài viết là bản tổng hợp, biên soạn bước đầu từ các nguồn tài liệu hiện có. Một số chi tiết chưa đủ căn cứ xác thực cần tiếp tục sưu tầm, đối chiếu trước khi ghi nhận là tư liệu lịch sử chính thức.