Hòa thượng thế danh Trần Quảng Dung sinh ngày 19 tháng 8 năm 1904 (Giáp Thìn), quê huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên trong một gia đình nông dân nhiều đời kính tín Tam bảo.
Tuổi thiếu niên, Dung là một cậu bé cần mẫn lại có thiện duyên với Phật pháp. Cậu sớm nhận ra được trần gian ảo mộng, đời huyền giả vô thường và đã lập chí xuất gia. Cơ duyên hội đủ, Dung xin phép cha mẹ đến quy y với sư tổ chùa Phục Lễ, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Năm 17 tuổi, tiểu Dung được thụ giới Sa di tại chùa. Thấy ngài học giỏi văn hay chữ đẹp bậc đàn anh là sư Tâm An khuyên ngài lên tu học ở chùa Đa Bảo, xã Vĩnh Ninh, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội).

Hòa thượng Thích Quảng Dung (1904 – 1980)
Năm 1923, sư Dung được Nghiệp sư cho đăng đàn thụ Tỷ khiêu giới và Bồ tát giới tại chốn tổ Lâm Tế Khê Hồi (Hoa Lâm tự) xã Hà Hồi, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Nội), được ban pháp danh Thích Quảng Dung, đạo hiệu Chân Thành. Sau đó ngài du phương tham học các tổ đình: Bồ Đề, Bà Đá, Vĩnh Nghiêm rồi về trụ trì chùa tại Hưng Yên. Tháng 11 năm 1934, Hội Phật giáo Bắc Kỳ thành lập để lãnh đạo phong trào chấn hưng Phật giáo xứ Bắc. Ngày 17 tháng 2 năm Ất Hợi (21/3/1935) Ban Đại lý Phật giáo tỉnh Hưng Yên thành lập. Sư cụ Tâm An chùa Quốc Sư, thị xã Hưng Yên là Trưởng ban bên Tăng. Chùa của sư Thích Quảng Dung sinh hoạt trong Ban Đại lý này.
Tháng 4 năm 1939 (Kỷ Mão) , ngài và sư Tâm An xin chính quyền tỉnh Hưng Yên cấp đất ở khu Văn Miếu thị xã Hưng Yên để lập trường Phật học Hưng An. Tùng lâm tồn tại tới đầu năm 1947 thì tan rã.
Năm 1953, chùa Đa Bảo, thôn Vĩnh Ninh, xã Tri Thủy, huyện Phú Xuyên, Hà Đông bị tàn phá bởi bom đạn quân xâm lược Pháp. Bấy giờ chùa bị đổ nát và không có ai trụ trì.
Nhân dịp giỗ Tổ sơn môn Đa Bảo tại chùa Trung Gián, xã Châu Giang, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam, sơn môn quyết định điều sư ông Quảng Dung về kế đăng đời thứ 7 chùa Đa Bảo. Ni trưởng Đàm Thuyên cử 4 đệ tử trong đó có sư thầy Đàm Hằng về chấp tác san lấp hố bom, khắc phục chùa cảnh điêu tàn. 3 sư Ni đi đi về về chùa Trung Gián đến chùa Đa Bảo, còn sư Đàm Hằng thì ở lại chùa dưới sự chỉ dạy của sư ông Quảng Dung cùng chư Tăng Ni và nhân dân địa phương dọn dẹp, xây dựng 5 gian Tiền đường, tôn tạo lại nhà Khách, nhà Bếp, đón thợ ở làng nghề Võ Lăng huyện Thanh Oai, Hà Đông về tô lại hệ thống tượng 2 lần và khôi phục các công trình bị tàn phá. Nhà chùa tích cực tham gia các hoạt động ủng hộ công cuộc kháng chiến chống Pháp.
Năm 1954, hòa bình lập lại trên miền Bắc, ngài Quảng Dung đã vận động Tăng Ni Phật tử địa phương khắc phục hậu quả chiến tranh, tích cực tăng gia lao động sản xuất.
Tháng 10 năm 1956, Thượng tọa Quảng Dung cùng Hòa thượng Thích Mật Ứng, các Thượng tọa: Thích Tâm Nguyệt, Kim Cương Tử, Thích Thanh Chỉnh… thành lập Ban Đại diện Phật giáo Thủ đô nhằm mục đích thờ đạo yêu nước do Hòa thượng Thích Mật Ứng trụ trì chùa Quảng Bá làm Trưởng ban, trụ sở đặt tại chùa Bà Đá, Hà Nội. Thượng tọa giao cho sư Đàm Hằng trông coi chùa Đa Bảo.
Đầu năm 1958, Thượng tọa Thái Hòa và Thượng tọa Viên Tu từ Hà Nội về huyện Phú Xuyên mời Thượng tọa Thích Quảng Dung ra Hà Nội làm việc cho Trung ương Hội. Tháng 3 năm 1958, Đại hội thành lập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam diễn ra tại chùa Quán Sứ, Hà Nội suy tôn Pháp sư Thích Trí Độ làm Hội trưởng, Hòa thượng Tuệ Tạng Thích Tâm Thi, Thượng tọa Thích Đức Nhuận, Thượng tọa Lê Đức Chính, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám được bầu làm Phó Hội trưởng.
Năm 1959, ngài cùng Thượng tọa Thích Thanh Chân, các sư Thích Thanh Chỉnh, Thích Thanh Viên …thành lập Chi hội Phật giáo Thống nhất Hà Đông ngài được suy cử làm Phó ban Trị sự Tỉnh.
Đến Đại hội Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam lần 3 diễn ra tại chùa Quán Sứ từ ngày 28/9 đến ngày 1/10/1964. Thượng tọa Trần Quảng Dung chùa Đa Bảo Trưởng đoàn Đại biểu Phật giáo tỉnh Hà Đông đã đọc tham luận: “Muốn bảo vệ tự do tín ngưỡng, bảo vệ Đạo, phải đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc”. Đại hội đã bầu 37 vị (27 vị Tăng, 7 vị Ni và 3 cư sĩ) vào Ban Trị sự Trung ương Hội. Thượng tọa Thích Quảng Dung được bầu là Phó Hội trưởng kiêm Trưởng Tiểu ban Nghi lễ Trung ương gồm 5 vị: Thượng tọa Giám Sinh Phó trưởng Tiểu ban và 3 ủy viên là Thượng tọa Thích Tâm Tịch, cụ Nguyễn Quang Tiến và bà Dương Thị Bình (tức bà Hoan).
Từ ngày 12 -15 tháng 4 năm 1972, Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam họp Đại hội lần thứ 4 tại chùa Quán Sứ, Hà Nội. Đại hội đã bầu Ban Trị sự Trung ương gồm 30 vị do Pháp sư Thích Trí Độ làm Hội trưởng, các Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Thích Tâm An, Thích Quảng Dung làm Phó Hội trưởng kiêm Trưởng ban Nghi lễ.
Về việc xã hội, mặc dầu Phật sự đa đoan Thượng tọa Trần Quảng Dung được bầu là đại diện của Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam trong Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ngài là bậc chân tu đức cao đạo trọng có uy tín với nhân dân địa phương đã được nhân dân tín nhiệm bầu trúng cử Đại biểu Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa các khóa III (nhiệm kỳ 1964 – 1971); khóa IV (nhiệm kỳ 1971 – 1975); khóa V (nhiệm kỳ 1975-1976) tại khu vực tỉnh Hà Đông, Hà Tây.
Là hàng giáo phẩm Trung ương Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam, Hòa thượng được cung thỉnh làm Giới sư hầu hết các giới đàn do Tỉnh hội Hà Tây, thành hội Hà Nội tổ chức, hoặc là chủ Hạ các hạ trường trong sơn môn.
Năm 1979, bệnh duyên chợt đến bên Hòa thượng, thuận thế vô thường, ngài an nhiên thị tịch vào giờ Dậu ngày 21 tháng Giêng năm Canh Thìn (1980) tại Hà Nội, thọ 77 tuổi.
Nam mô Hội Đồng tháp, Đa Bảo Đệ thất đăng, pháp húy Thích Quảng Dung, hiệu ChânThành