Trong những ngôi chùa cổ miền Bắc, bước qua Tam quan, vào không gian Phật điện, người ta thường bắt gặp hai ban thờ hoặc khám thờ đặt ở hai bên: Đức Chúa Ông và Đức Thánh Hiền.
Ngày nay, nhiều người chỉ biết đó là những vị Hiền, Thánh được thờ trong chùa, nhưng nếu nhìn lại cách người xưa tổ chức không gian thờ tự, sẽ thấy đằng sau hai ban thờ, khám thờ ấy là một quan niệm rất sâu sắc: người đến chùa không chỉ để lễ Phật, mà còn để học cách sống có trước có sau, biết tri ân và nhớ về cội nguồn.

Bàn thờ Đức Chúa Ông trong chùa Việt thể hiện nét đẹp tín ngưỡng và truyền thống tri ân những người có công với Phật pháp.
Đức Chúa Ông trong truyền thống chùa Bắc Bộ gắn với Cấp Cô Độc (Anāthapiṇḍika), vị trưởng giả cư sĩ thời Đức Phật. Ông đã dùng tài sản để mua vườn Kỳ Viên, kiến lập tinh xá và cúng dường Đức Phật cùng Tăng đoàn. Tên tuổi ông vì thế gắn liền với một trong những già-lam quan trọng của Phật giáo thời Đức Phật.
Về sau, trong văn hóa Phật giáo Việt Nam, hình tượng ấy được Việt hóa thành Đức Chúa Ông – Già Lam Hộ Pháp. Đứng trước ban thờ Đức Chúa Ông, người xưa không chỉ nhắc đến một vị đại thí chủ, mà còn nhắc đến công lao của người đã góp phần tạo dựng một nơi chốn để Phật pháp được phụng trì và truyền bá.

Bàn thờ Đức Thánh Hiền gợi nhắc đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, lòng biết ơn và sự tri ân trong đời sống văn hóa Việt.
Hoành phi 伽藍宗賢 – GIÀ LAM TÔNG HIỀN, do Nhà giáo – Cư sĩ Phạm Phú Thành sáng tác riêng cho Chùa Chân Quê Bắc Bộ Phúc Lâm, đặt tại khám thờ Đức Chúa Ông, càng gợi mối liên hệ ấy.
伽藍 – Già Lam là chùa, là đạo tràng; 宗, ngoài nghĩa “tông phái”, còn có thêm các nghĩa: gốc, giềng mối, đầu mối, dòng truyền thừa. Đặt trong văn cảnh Đức Chúa Ông, chữ 賢 – Hiền gợi đến bậc Hiền có công với Già Lam.
Bên kia là Đức Thánh Hiền, truyền thống chùa Bắc Bộ thường gắn với Tôn giả A-nan, vị thị giả của Đức Phật, nổi tiếng về đa văn, nghe nhiều, nhớ nhiều và có vai trò quan trọng trong việc gìn giữ, truyền tụng lời Phật dạy.
Bởi vậy, hoành phi 多聞述聖 – ĐA VĂN THUẬT THÁNH, cũng do Nhà giáo – Cư sĩ Phạm Phú Thành sáng tác riêng cho khám thờ Đức Thánh Hiền của Chùa Chân Quê Bắc Bộ Phúc Lâm, mang một ý nghĩa rất đẹp. Đa Văn gợi phẩm chất đặc biệt của A-nan; Thuật Thánh gợi việc thuật lại, truyền trao lời dạy của các bậc Thánh.
Nếu Đức Chúa Ông gợi nhớ đến người có công tạo dựng Già Lam, thì Đức Thánh Hiền gợi nhớ đến người tiếp nhận, gìn giữ và truyền thuật Thánh giáo.
Đến đây, ta mới thấy cái sâu sắc của cổ nhân về đạo lý: 木本水源 – MỘC BẢN THỦY NGUYÊN → Cây có cội, nước có nguồn.
Người xưa không nhất thiết phải viết một bài giáo huấn dài để dạy người đến chùa biết ơn. Chỉ bằng hệ thống tượng thờ và những đại tự đặt trong không gian thờ tự ấy, họ đã tạo nên một bài học đạo lý rất tự nhiên.
Nhìn Đức Chúa Ông, hãy nhớ đến công lao tạo dựng Già Lam. Nhìn Đức Thánh Hiền, hãy nhớ đến nguồn truyền thừa của Thánh giáo. Được thừa hưởng một ngôi chùa, phải nhớ người dựng chùa. Được thừa hưởng Phật pháp, phải nhớ Đức Phật và những bậc đã gìn giữ, truyền trao giáo pháp. Được hưởng thành quả của tiền nhân, phải biết tri ân tiền nhân.
Đó chính là đạo lý: 飲水思源 – ẨM THỦY TƯ NGUYÊN → Uống nước nhớ nguồn.
Cái hay của văn hóa Phật giáo miền Bắc xưa là ở chỗ ấy: người xưa không tách đạo Phật khỏi đạo làm người. Họ đưa đạo lý biết ơn vào ngay trong kiến trúc, tượng thờ và chữ Hán của ngôi chùa.
Người đến chùa trước hết là lễ Phật; nhưng trong khi lễ Phật, họ đồng thời được nhắc nhở về một nếp sống: biết cội nguồn, trọng người đi trước, biết tri ân người tạo dựng và gìn giữ những giá trị mà mình đang được thừa hưởng.
Có lẽ đó chính là một trong những vẻ đẹp sâu sắc nhất của chùa Bắc Bộ xưa: Tượng để thờ, chữ để đọc, không gian để giáo hóa; và sau cùng, tất cả quy về một chữ: TRI ÂN.
Bần sư Thích Minh Trí
Chùa Chân Quê thuần Việt Bắc Bộ Phúc Lâm, Mạnh Thu, Bính Ngọ – 2026.