1. Kinh Châu Báu (Ratanasutta, Khp 6, Snp 2.1)
Sở hữu một uy lực có phạm vi ảnh hưởng trên 1.000 tỷ thế giới. Kinh này đã mang lại sự chứng ngộ các Đạo và Quả và sự thành tựu Niết-bàn cho 588.000 chúng sanh thuộc loài người, chư Thiên và Phạm thiên. Do đó, đây là một câu thần chú hộ mệnh hay một bài kinh hộ trì (paritta) có uy quyền và ảnh hưởng to lớn.
2. Kinh Hạnh Phúc (Maṅgalasutta, Khp 5, Snp 2.4)
Cũng sở hữu một uy lực có phạm vi ảnh hưởng trên 1.000 tỷ thế giới. Vô số chúng sanh thuộc loài người, chư Thiên và Phạm thiên đã chứng ngộ các Đạo và Quả và đạt đến Niết-bàn nhờ lắng nghe bài kinh này.
3. Kinh Tâm Từ (Mettasutta hay Karaṇīyametta Sutta, Khp 9, Snp 1.8)
Là một bài kinh nổi tiếng có uy lực vĩ đại. Uy lực của kinh này có phạm vi ảnh hưởng trên 1.000 tỷ thế giới. Kinh này đã giúp các vị tỳ-khưu tu trong rừng trở thành A-la-hán thông qua việc đoạn tận các lậu hoặc (Āsava). Bằng cách chuyên cần và tu tập trọn vẹn những lời giáo huấn đạo đức được đặt ra trong bài kinh này, một người chắc chắn có thể đạt được con đường giải thoát. Đây cũng là một bài kinh hộ trì (paritta) đầy uy lực.
Kinh Uẩn (Khandha-sutta hay Ahirājasutta, AN 4.67)
Là một bài kinh đầy uy lực khác, có phạm vi ảnh hưởng trên 1.000 tỷ thế giới. Kinh này có năng lực hộ thân khỏi các nguy hiểm từ nhiều loại nọc độc khác nhau vào mọi lúc. Bài kinh này chứa đựng những phần mô tả ân đức và vinh quang của Phật, Pháp và Tăng, cũng như những ảnh hưởng tốt lành của tâm từ (mettā). Do đó, đây là một bài kinh hộ trì (paritta) đầy uy lực có thể mang lại những kết quả lợi lạc đặc thù.
4. Kinh Tràng Phan (Dhajagga-sutta, SN 11.3)
Cũng là một bài kinh có uy lực vĩ đại với phạm vi ảnh hưởng trên 1.000 tỷ thế giới. Việc quán tưởng về ân đức của Phật, Pháp và Tăng được tán thán trong bài kinh này là một phương tiện để củng cố năng lực trí tuệ, để hưởng thiên lạc trong 3.000 kiếp, được tái sanh làm Đế-thích (Sakka) 80 lần, làm Chuyển Luân Thánh Vương 1.000 lần, làm một vị vua hay hoàng đế bình thường vô số lần; để luôn giàu có và thịnh vượng trong mọi kiếp sống, khi tài sản mà người đó sở hữu không thể bị mất, bị trộm cắp hay bị phá hủy. Trong 100.000 kiếp, người đó sẽ không tái sanh vào các cõi khổ, cũng sẽ không bị phiền nhiễu hay rúng động bởi sự sợ hãi đến dựng tóc gáy và nổi da gà. Đó là uy lực bao la của bài kinh này, vốn sẽ dẫn dắt một người đến sự giác ngộ cuối cùng.
5. Kinh Thất Giác Chi (Bojjhaṅga-sutta, SN 46.14–16)
Có một uy quyền to lớn với phạm vi ảnh hưởng trên 1.000 tỷ thế giới, sở hữu năng lực xua tan hiểm nguy và bệnh tật. Sự tu tập trọn vẹn bảy yếu tố giác ngộ chứa đựng trong bài kinh này sẽ dẫn đến Niết-bàn ngay trong đời này thông qua việc chứng ngộ các Đạo và Quả.
6. Kinh A-sá-nang-chi (Āṭānāṭiyasutta, DN 32)
Nguyên được sáng tác bởi Tứ Đại Thiên Vương (Catu-mahārājika), khi các vị hội họp tại thiên thành Āṭānāṭā. Các vị ấy trước tiên đảnh lễ bảy vị Phật, tán thán ân đức và các thuộc tính của các Ngài. Sau đó, các vị sáng tác bài kinh này và tuyên cáo rằng: “Những chúng sanh trên trời ngang ngược, hoang dã như loài Dạ-xoa (Yakkha), những kẻ không tuân theo sự chỉ dạy của Đức Phật, cũng như không theo quy tắc ứng xử do chính chúng tôi đặt ra, sẽ bị trừng phạt theo thiên luật.”
Các vị Hộ thế Thiên sau đó đã đến gặp Đức Phật, cùng với một số lượng lớn các thiên binh và hộ vệ, và trình lên Ngài bài kinh đầy uy lực này mà họ đã sáng tác. Đức Phật đã dạy lại bài kinh này cho các vị tỳ-khưu, và do đó nó đã trở thành một câu thần chú hộ mệnh hay một bài kinh hộ trì (paritta) có uy quyền và sức mạnh to lớn.
ĐỐI VỚI NGƯỜI TẠI GIA
Bộ chú giải liên quan đã đặt ra phương pháp thực hành việc hộ trì như sau:
Trong trường hợp những người bị ma quỷ, ngạ quỷ (Peta) và các chúng sanh ngang ngược ám nhập, không nên trì tụng Kinh A-sá-nang-chi (Āṭānāṭiyasutta) ngay từ đầu. Trong bảy ngày liên tục, nên trì tụng Kinh Tâm Từ (Metta-sutta), Kinh Tràng Phan (Dhajagga-sutta) và Kinh Châu Báu (Ratana-sutta) trước. Nếu người bị ám nhập trở lại bình thường sau những lần trì tụng này, thì không cần phải trì tụng Kinh A-sá-nang-chi. Chỉ khi không đạt được kết quả mong muốn sau khi trì tụng liên tục ba bài kinh đầu tiên trong bảy ngày thì mới nên trì tụng Kinh A-sá-nang-chi.
Vị tỳ-khưu trì tụng Kinh A-sá-nang-chi không nên ăn bánh làm từ bột, thịt và cá; cũng không nên trú ngụ trong nghĩa địa. Điều này là vì nếu vị tỳ-khưu đó ăn bánh bột, thịt cá hoặc ở trong nghĩa địa, vị ấy có nguy cơ bị tà ma ám nhập.
Nơi được chọn để trì tụng kinh hộ trì nên được giữ sạch sẽ, gọn gàng và xức bột nghệ.
Vị tỳ-khưu thực hành việc hộ trì nên được dẫn từ tu viện đến nhà, được bao quanh bởi một đội hộ vệ gồm những người mang cung tên, khiên, gươm và giáo.
Vị tỳ-khưu không nên trì tụng kinh ở ngoài trời; cổng, cửa sổ và cửa ra vào của ngôi nhà nên được đóng chặt và vị tỳ-khưu nên ngồi xuống, được bao quanh chặt chẽ bởi đội hộ vệ vũ trang.
Sau đó, với một trái tim tràn đầy tâm từ, vị ấy nên thực hành việc hộ trì theo những hướng dẫn sau: điều cốt yếu là người bệnh trước tiên phải được an lập trong giới (Sīla) bằng cách thọ trì các giới luật, và sau đó mới trì tụng kinh hộ trì.
Nếu các biện pháp như vậy không xua đuổi được các tà ma, người bị ám nhập nên được đưa đến tu viện và đặt nằm trên nền tháp thờ xá-lợi (stūpa). Nền tháp nên được quét dọn sạch sẽ và dâng cúng đèn; sau đó nên trì tụng các đoạn văn xuôi và kệ Pāḷi, chẳng hạn như: Divā tapati ādicco… (Dhp 387), v.v…, những bài kệ thường mang lại sự tốt lành.
Sau đó nên thông báo rằng tất cả các vị tỳ-khưu đã tập trung tại nơi đó. Tiếp theo, một người nên đi đến khu rừng gần đó, nơi có một cái cây nổi bật bởi những đặc điểm đặc biệt như kích thước, chiều cao, v.v…, và thỉnh mời vị thần cây hộ trì, nói rằng: “Tất cả các vị tỳ-khưu đều mong muốn ngài đến tham dự buổi hội họp.” Một lời thỉnh mời như vậy của các vị tỳ-khưu không bao giờ có thể bị từ chối.
Sau đó, người bị ám nhập nên được hỏi: “Ngươi tên là gì?” Ví dụ, nếu là Naradeva, người đó nên được gọi bằng cái tên đó:
“Này Naradeva, ngươi đã được chia phần phước từ việc cúng dường chỗ ở cho Tăng đoàn, phần phước từ việc cúng dường hương và hoa, từ việc cúng dường trai Tăng; các vị tỳ-khưu cũng đã trì tụng các bài kinh tốt lành như Kinh Hạnh Phúc (Maṅgalasutta), như một món quà Pháp thí cho ngươi. Vì vậy, xét đến những hành động tử tế này và vì lòng kính trọng đối với Tăng đoàn, chúng tôi cầu mong ngươi hãy thả bệnh nhân này ra.”
Nếu các biện pháp như vậy không giải trừ được sự ám nhập của ma quỷ, tình hình nên được thông báo cho các vị thiện thần: “Thưa các vị thiện thần, các vị hoàn toàn biết rằng ác thần ngang ngược này không để ý đến yêu cầu của chúng tôi được đưa ra với tâm từ. Chúng tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc phải viện đến và cầu thỉnh uy lực của Đức Phật.”
Nói xong, nên trì tụng Kinh A-sá-nang-chi (Āṭānāṭiyasutta). Phương pháp trên chỉ áp dụng cho người tại gia.
ĐỐI VỚI VỊ TỲ-KHƯU
Đối với vị tỳ-khưu bị ma quỷ, ngạ quỷ và các chúng sanh ngang ngược ám nhập, phòng của vị ấy nên được quét dọn sạch sẽ và gọn gàng, sau đó tất cả Tăng chúng nên được mời đến tập trung ở đó. Sau khi chia phước từ việc cúng dường hoa, hương, v.v…, nên trì tụng Kinh A-sá-nang-chi như đã mô tả trước đó.
Như vậy, việc thực hành Kinh A-sá-nang-chi được mô tả công phu trong bộ chú giải của kinh. Khi được trì tụng một cách hệ thống như đã được đặt ra trong chú giải, Kinh A-sá-nang-chi có uy quyền vô cùng, mang một sức mạnh và ảnh hưởng to lớn.
Tương tự, các bài kinh hộ trì khác cũng có sức mạnh và ảnh hưởng to lớn theo cách riêng của chúng.
Tóm lại, lời của Đức Phật, chẳng hạn như Tạng Kinh (Sutta-piṭaka) bao gồm năm Bộ Kinh (Nikāya), có uy quyền vĩ đại, ảnh hưởng của nó lan tỏa khắp 1.000 tỷ thế giới, thúc đẩy sự an lạc và thịnh vượng cả trong lĩnh vực thế gian và siêu thế. Nó hộ trì khỏi mọi loại hiểm nguy và mở đường cho sự thành tựu Niết-bàn thông qua việc chứng ngộ các Đạo và Quả.
Những lời dạy này của Đức Phật, được lưu giữ trong các Bộ Kinh, là cao quý nhất trong tất cả các lời nói và do đó nên được tin tưởng một cách vững chắc rằng chúng có uy quyền vô cùng, mang một sức mạnh và ảnh hưởng to lớn, phù hợp với câu nói này (SN 8.6):
Yaṁ Buddho bhāsate vācaṁ,
khemaṁ Nibbāna-pattiyā,
dukkhassanta-kiriyāya,
sā ve vācānam-uttamā.
Lời nào Phật nói ra,
an ổn, đến Niết-bàn,
chấm dứt mọi khổ đau,
lời ấy là tối thượng.
Đấng Toàn Giác đã vì lòng đại bi mà tuyên thuyết Năm Bộ Kinh với mục đích thành tựu Niết-bàn, vốn là sự chấm dứt mọi khổ đau. Lời Phật dạy, được chứa đựng trong các Bộ Kinh, trác việt hơn tất cả các lời nói khác, không chút lỗi lầm và đưa đến sự an lạc và hạnh phúc.
Đại Phật sử – Phật Mingun Sayādaw (Bhaddanta Vicittasārābhivaṁsa)
Được dịch bởi T. U Ko Lay, U Tin Lwin và U Tin Oo
Hiệu đính: Ānandajoti Bhikkhu
Phiên bản 1.2, tháng 8 năm 2024
Ân Đức