Một mùa xuân mới lại đến với mỗi người trong chúng ta. Mùa xuân nào mà chẳng mang lại hy vọng và niềm vui cho cuộc sống. Thế nhưng mỗi khi trông thấy mùa xuân ló dạng thì đôi khi cũng có thể

Tôi lớn lên và sống trên quê hương hơn một phần ba thế kỷ, tiếp theo đó là một cuộc sống lưu vong suốt nửa thế kỷ. Các thử thách trong khoảng thời gian dài đó đã biến tôi trở thành một con người mang nặng suy tư và thật nhiều khắc khoải. Thế nhưng hôm nay, khi hồi tưởng lại những mùa xuân trôi qua, tôi vẫn không hiểu «Tôi là ai?», và cũng chẳng biết tôi đã làm được những gì cho bản thân tôi và cho kẻ khác. Tôi chỉ nhận thấy chung quanh tôi, không gian và thời gian, con người và sự sống, tất cả làm cho các khắc khoải của tôi ngày càng sâu kín và nặng nề hơn : «Tôi là ai?».
Tôi sinh ra trong một vùng đất từng là ‘thuộc địa’, lớn lên trong chiến tranh và khỏi lửa. Thế rồi một hôm, trước cảnh hận thù và giả dối, tôi được một quốc gia từng là ‘mẫu quốc’ đón tôi với một vòng tay. Tôi trở thành công dân của ‘mẫu quốc’, được luật pháp bảo vệ, được thừa hưởng đôi chút tự do và nhân phẩm, và cũng đã kiếm được bát cơm hằng ngày. Tôi rất muốn an phận với cái hiện thực khiêm tốn đó của riêng tôi, và cứ nghĩ rằng tôi đã hé thấy, qua một vài khía cạnh nào đó: «Tôi là ai». Với sự hé thấy đó, và thật ra thì cũng chẳng khác gì với phần đông mọi người, tôi muốn sống rất thật với chính tôi, rất thật với hiện thực bao quanh tôi, rất thật như tôi ngữa hai bàn tay, mỗi bàn tay năm ngón.
Tôi đã lầm, cái thắc mắc «Tôi là ai?», tuy có vẻ ngốc nghếch và vô nghĩa, thế nhưng thật ra là một cái gì đó rất sâu xa và thầm kín. Chẳng phải tôi có một người mẹ, tôi có một người cha, tôi có một quá khứ, tôi có một cội nguồn, tôi có một giống nòi, tôi có một dân tộc, tôi có một quê hương, hay sao?
Tuy nhiên, cứ mỗi độ xuân về thì tôi vẫn cứ tự hỏi: «Tôi là ai?». Cái thắc mắc vừa ngớ ngẫn vừa ngô nghê đó lại hiện lên với tôi, khiến tôi không khỏi bật cười. Thế nhưng đôi lúc, và cũng thật lạ lùng, cái thắc mắc đó lại hiện lên với tôi thật xót xa và khắc khoải, khiến nước mắt chảy quanh. Chẳng phải tôi có một người mẹ, tôi có một người cha, tôi có một quá khứ, tôi có một cội nguồn, tôi có một giống nòi, tôi có một dân tộc, tôi có một quê hương, hay sao?
Thế nhưng cái hiện thực đó, cái hiện thực mà tôi vừa thực hiện được lại đưa tôi vào một hiện thực khác, qua một cuộc phiêu lưu thật rộng lớn. Là một địa chất gia, một kỹ sư trong ngành dầu khí, tôi được cử đi công tác nhiều nơi trên địa cầu này, từ khắp các vùng lục địa, từ khắp các miền biển khơi, tạo dịp cho tôi tiếp xúc với các nền văn hóa khác, các dân tộc khác, các con người khác, khác với tôi từ màu da đến tiếng nói, từ phong tục đến văn hóa. Khung cảnh thiên nhiên cũng khác, khác từ ruộng đồng đến núi non, khác từ làng mạc đến cỏ cây. Trong cuộc phiêu lưu đó, trước sự đa dạng và kỳ thú đó của tập thể con người và bối cảnh thiên nhiên, cái thắc mắc «Tôi là ai?» lại hiện lên với tôi thật day dứt: «Quê hương tôi ở tận phương trời nào trên địa cầu này. Phải chăng tôi đã đánh mất cái quê hương thân thiết của riêng tôi từ bên trong con người của tôi?».
Thế rồi một hôm, tôi được cử đi công tác tại các chi nhánh tạm của công ty tại Hà Nội và tại Sài Gòn, khi các nơi này bắt đầu ‘mở cửa’. Nhân dịp này, tôi tìm lại được, với thật nhiều kỷ niệm, nơi chôn nhau cắt rốn của tôi trên mảnh đất ‘thuộc địa’ nơi sông nước miền Nam. Theo những lời kể chuyện của mẹ từ những ngày thơ ấu, tôi tìm được gian nhà của ông ngoại và bà ngoại tôi trong một ngôi làng cổ kính nơi miền Bắc, và cả vài người trong họ hàng của cha tôi tại Hà Nội. Sự khám phá bất ngờ đó xóa mờ cái hiện thực rất thật nơi ‘mẫu quốc’ mà tôi đang sống, đưa tôi vào một hiện thực khác thật xa xưa, một hiện thực vừa xa lạ nhưng cũng vừa quen thuộc, một hiện thực hiện lên với tôi như một ảo giác.
Thế nhưng trong cái hiện thực thật xa xưa tương tự như ảo giác đó, tôi chợt nhận thấy tôi có một cái gì đó rất thật: tôi có một người mẹ, tôi có một người cha, tôi có một quá khứ, tôi có một cội nguồn, tôi có một giống nòi, tôi có một dân tộc, tôi có một quê hương.
Và cũng thật hết sức phi lý, trước cái hiện thực tương tự như ảo giác đó, tôi cảm thấy tôi là một người mất gốc, không hề sinh ra trong một vùng đất ‘thuộc địa’, cũng không phải là công dân nơi ‘mẫu quốc’, tôi không có mẹ, cũng chẳng có cha, tôi không có tổ quốc cũng chẳng có quê hương. Phải chăng tôi chỉ là một kẻ lưu vong? Qua sự cảm nhận lạ lùng đó, tôi chợt cảm thấy tôi chì là một làn gió thật nhẹ, không hình tướng, không màu sắc, không âm thanh, một làn gió thoang thoảng phiêu bạt trong không gian và thời gian.
Thật vậy, nào có gì nhốt được gió, nào có gì giam cầm được tư tưởng con người, nào có gì đánh lừa được con tim. Dù chỉ là một làn gió, thế nhưng tôi cũng không muốn và cũng sẽ chẳng bao giờ để mình trở thành một cơn bão táp. Tôi chỉ ước mơ được làm một làn gió thật nhẹ, âm thầm và kín đáo, thổi yêu thương vào lòng người, một làn gió hòa tan trong muôn ngàn làn gió khác đang bao quanh địa cầu này, một địa cầu nhỏ bé mang nặng trên lưng hơn tám tỉ con người, những con người luôn phải chống lại bão táp với mưa sa.
Cụ Nguyễn Công Trứ, thế kỷ XVIII-XIX, có một câu thơ rất đẹp:
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.
Trong nền văn hóa cổ xưa của Trung quốc, cây thông biểu trưng cho người quân tử. Tôi không phải là một người quân tử, cũng không phải là một gốc thông đứng giữa trời mà reo. Tôi chỉ ước mơ được làm một làn gió vô hình, len vào các cành thông để réo gọi yêu thương. Tôi ước mơ được làm một làn gió tỏa ra từ chiếc quạt nơi bàn tay phe phẩy của một thiếu phụ ru con trong một buổi trưa hè. Tôi ước mơ được làm một ngọn gió bốc cao cánh diều của một đứa bé cầm sợi dây diều chạy nhanh trên bờ đê vào một buổi chiều êm ả.
Lại thêm một mùa xuân mới mang theo những niềm hy vọng mới hiện lên với mỗi người trong chúng ta hôm nay. Tôi xin gửi đến các độc giả quen thuộc hai bài thơ xưa, viết cách nay đã một phần tư thế kỷ, gợi lên các ước mơ và các khắc khoải vẫn còn day dứt trong tôi:
Bures-Sur-Yvette, 17.02.26
(Mùng một Tết Bính Ngọ)
Bài thứ nhất:
***
Tôi là hoa, là lá, hay là người?
Thênh thang, tôi làm mây lưng trời?
Hay nhỏ nhoi, kiếp côn trùng cỏ dại?
Không, tôi không phải hoa, chẳng phải lá,
Không sâu bọ, chẳng phải người,
Không phải đá, chẳng phải mây.
Vô hình tôi là gió.
Heo may, tôi lung lay ngọn cỏ,
Úa vàng trên nấm mồ bỏ hoang.
Heo may, tôi ru hoa trong nắng,
Thở vào tôi, là hơi trong phổi,
Âm ấm, làn hơi thở con người.
Tôi là gì?
Mong manh, là bọt sóng đại dương?
Long lanh, một giọt sương trên lá?
Hay vỏn vẹn, một giọt mưa trong rừng?
Âm ấm giọt nước mắt tổ tiên?
Tí tách giọt thời gian quá khứ?
Hay buốt lạnh, giọt ngày xưa lịch sử?
Không, tôi không là quá khứ,
Cũng chẳng là tương lai.
Không phải sương trên lá,
Chẳng phải mưa trong rừng.
Chẳng phải nửa giọt thương, mười giọt nhớ,
Chẳng phải chín giọt hận, trăm giọt thù.
Tôi nguyện là tình người nghìn giọt,
Giọt tình người chưa vơi,
Chảy quanh trên khoé mắt,
Âm ấm hai giọt mặn,
Tôi rơi xuống cho vơi,
Đau khổ chút tình người.
Ai là tôi?
Là ngây thơ đôi mắt,
Là hồn nhiên nụ cười,
Em là tôi, người em nhỏ mồ côi,
Bên vệ đường lây lất.
Ta cùng đi hành khất,
Chiều nay, ta xin chút cơm thừa,
Đêm nay, ta ngủ chung trên đất,
Dưới mái hiên vệ đường.
Ai là tôi?
Là đôi mắt xa xôi?
Một thời xưa trong mắt?
Này cụ già hành khất,
Cụ đưa tay tôi dắt.
Tôi là con cụ đấy.
Cụ đưa con tay gầy,
Hai chân cụ run rẩy,
Trong hẽm buồn tối om.
Này cụ, con nắm tay cụ đây.
Ta quay về quá khứ,
Đi tìm con cháu cụ.
Quê cụ tận phương nào?
Dù lối xưa không nhớ,
Ta nhìn ra trước mặt,
Vẫn còn chút tình người,
Ta bước vào tương lai.
Tôi là ai?
Từ ngàn xưa lịch sử,
Trên quê hương quá khứ,
Tôi làm lính biên cương,
Nhìn rừng hoang trước mặt,
Nhìn núi đồi bát ngát,
Mưa ruộng đồng sau lưng.
Tôi là ai?
Là mồ hôi trên đất,
Nước mắt trên luống khoai?
Đi khai hoang ruộng đồng,
Tôi vác cuốc trên vai,
Nhìn hoa mầu trong nắng,
Làng xa con đê dài.
Tôi là gì?
Là giọt máu người xưa?
Rót trong lòng lịch sử?
Là nước mắt rừng hoang,
Chảy thành sông trên đất?
Là giọt tình trong mắt,
Là bát cơm trên tay?
Tình tôi, xin làm bát cơm đầy,
Tôi nâng bằng hai tay,
Hai bàn tay ngón nhỏ,
Run run dâng cho người,
Vì quê hương hôm nay,
Còn lại chút tình này.
(Bures-Sur-Yvette, 14.04.01)
Bài thứ hai:
Chắp tay
Diễn ngâm: Hồng Vân
Xem đính kèm, hoặc địa chỉ liên kết:
https://thuvienhoasen.org/a33082/chap-tay
***
Chắp tay,
Xin dược làm ngọn gió,
Lay ngọn nến lập loè,
Trên bàn thờ giỗ mẹ.
Chắp tay,
Hóa làm thân hạt bụi,
Bám trên vết chân người.
Chốn hồng trần tha phương.
Chắp tay,
Ước làm manh chiếu rách,
Đắp cụ già hành khất,
Bên vỉa hè co ro.
Úp mặt,
Xin hóa làm nước mắt,
Giọt nước mắt thật mặn,
Lăn trên má người tình.
Ngửa tay,
Gió luồn qua năm ngón,
Mười ngón tay thật thà,
Là những vần thơ tôi.
Ngửa tay,
Rơi xuống làm hạt bụi,
Hồng trần cơn gió lốc,
Một cõi nào lang thang.
Khe khẽ,
Tôi kéo manh chiếu rách,
Đắp thân người hành khất,
Trên vìa hè quê hương.
Đưa tay,
Lau hai dòng nước mắt,
Những giọt nước thật mặn,
Hoen trên má người tình.
Dòng nước mắt yên lặng,
Như một vần thơ câm.
Cứ giữ yên trong mắt,
Thôi đừng chờ tôi lau.
Lạc bước tận phương nào?
Chót làm thân hạt bụi,
Bám trên vết chân nguời,
Cõi về đâu nhớ lối.
Vào một đêm mưa lạnh,
Có một người hành khất,
Ngủ bên lề cuộc đời,
Thiếu cả manh chiếu rách.
Nhẹ như thân hạt bụi,
Phương nào theo gió bay?
Ngọn nến bàn thờ mẹ,
Ngọn gió về lung lay.
(Bures-Sur-Yvette, 21.11.02)