Cụ thể, 30 hiện vật, nhóm hiện vật được công nhận bảo vật quốc gia (đợt 14, năm 2025) gồm:

Bảo vật quốc gia tượng Phật Mẫu Man Nương bằng gỗ tại chùa Tổ, tỉnh Bắc Ninh.
1. Sưu tập trống đồng Làng Vạc Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Thế kỷ III - I trước Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Nghệ An - Xô viết Nghệ Tĩnh, tỉnh Nghệ An.
2. Sưu tập muôi đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ II - I trước Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.
3. Bộ chuông đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ II trước Công nguyên - thế kỷ I sau Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.
4. Bộ áo giáp đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ I trước Công nguyên - thế kỷ I sau Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.
5. Chậu trống đồng Văn hoá Đông Sơn, niên đại: Khoảng thế kỷ I trước Công nguyên - thế kỷ I sau Công nguyên, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Kính Hoa, thành phố Hà Nội.
6. Bát bồng gốm Văn hoá Hoa Lộc, niên đại: Khoảng 4.000 - 3.800 năm cách ngày nay, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Gốm thời dựng nước, Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Tượng Phật bằng đá Văn hóa Óc Eo, niên đại: Thế kỷ VI - VII, hiện lưu giữ tại Sưu tập tư nhân Đào Danh Đức, thành phố Hà Nội.
8. Tượng thần Vishnu bằng đá Văn hóa Óc Eo, niên đại: Thế kỷ VI - VII, hiện lưu giữ tại Sưu tập tư nhân Đào Danh Đức, thành phố Hà Nội.
9. Tượng đồng Nữ thần Durga Văn hoá Chăm Pa, niên đại: Thế kỷ VII, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
10. Sưu tập đồ thờ bằng vàng tại tháp Chăm An Phú, niên đại: Thế kỷ IX - X, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Pleiku, tỉnh Gia Lai.
11. Nắp hộp gốm men xanh lục thời Lý, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XI, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
12. Bia đá chùa Nghĩa Xá, niên đại: Thiên Phù Duệ Vũ 3 (1122), hiện lưu giữ tại chùa Nghĩa Xá (Viên Quang tự), xã Xuân Trường, tỉnh Ninh Bình.
13. Thành bậc rồng thời Lý, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XII - XIII, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
14. Chậu gốm hoa nâu thời Trần, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XIII, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
15. Sưu tập đĩa đèn đồng thời Trần, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XIII - XIV, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
16. Bia Ma nhai kỷ công Thành Nam thời Trần, niên đại: Tháng 12 nhuận, năm Ất Hợi (niên hiệu Khai Hựu thứ 7 - 1335), hiện lưu giữ trên vách núi Thành Nam, xã Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
17. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Thượng Nương, niên đại: Đại Trị năm thứ 7 (1364), hiện lưu giữ tại chùa Thượng Nương, thôn Tam Tứ, xã Liêm Hà, tỉnh Ninh Bình.
18. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Hương Trai, niên đại: Thế kỷ XIV (niên hiệu Đại Định năm thứ hai - 1370, thời Trần), hiện lưu giữ tại chùa Hương Trai, xã Dương Hoà, thành phố Hà Nội.
19. Bàn thờ Phật bằng đá chùa Đại Bi, niên đại: Thế kỷ XIV (niên hiệu Long Khánh 2 - 1374, thời Trần), hiện lưu giữ tại chùa Đại Bi, xã Dương Hoà, thành phố Hà Nội.
20. Bộ tranh khắc ma nhai 18 vị La Hán Động Liên Hoa, chùa Phong Phú, niên đại: Thời Trần, hiện lưu giữ tại động Liên Hoa, chùa Phong Phú, phường Tây Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.
21. Sách đồng Khâm Ban của Lê Thánh Tông, niên đại: Thời Lê Sơ (ngày 06 tháng 3, niên hiệu Hồng Đức thứ 3 - 1472), hiện lưu giữ tại đình Cầu Không, xã Bắc Lý, tỉnh Ninh Bình.
22. Bình gốm men trắng vẽ rồng thời Lê Sơ, Hoàng thành Thăng Long, niên đại: Thế kỷ XV, hiện lưu giữ tại Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội, thành phố Hà Nội.
23. Bàn thờ Phật bằng đá thời Mạc chùa Nhạn Tháp, niên đại: Thế kỷ XVI, hiện lưu giữ tại Chùa Nhạn Tháp, xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên.
24. Bộ 03 ngai thờ gỗ thời Mạc đền Đa Hòa, niên đại: Thế kỷ XVI, hiện lưu giữ tại đền Đa Hòa, xã Mễ Sở, tỉnh Hưng Yên.
25. Chuông chùa An Xá, niên đại: Thời Lê Trung hưng (niên hiệu Chính Hòa thứ 11 - 1690, đời vua Lê Hy Tông), hiện lưu giữ tại chùa Bắc Biên, phường Bồ Đề, thành phố Hà Nội.
26. 03 bia đá chùa Keo Hành Thiện thời Lê Trung hưng, niên đại: Hoằng Định 13 (1613), Cảnh Trị 9 (1671) và Chính Hòa 25 (1704), hiện lưu giữ tại chùa Keo Hành Thiện (Thần Quang tự), xã Xuân Hồng, tỉnh Ninh Bình.
27. Tượng Phật bằng gỗ Mẫu Man Nương chùa Tổ, niên đại: Thế kỷ XVIII, hiện lưu giữ tại chùa Phúc Nghiêm (chùa Tổ), phường Song Liễu, tỉnh Bắc Ninh.
28. Bộ tượng gốm men nhiều màu Tam quan Đại đế, niên đại: Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX, hiện lưu giữ tại Sưu tập tư nhân Lê Thanh Nghĩa, Thành phố Hồ Chí Minh.
29. Bộ cồng chiêng Kơ Đơ, niên đại: Đầu thế kỷ XX, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Pleiku, tỉnh Gia Lai.
30. Sổ vàng Trường Nguyễn Ái Quốc, niên đại: 1949 - 1950, hiện lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử quốc gia.
Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp nơi có bảo vật quốc gia, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ, người đứng đầu ngành, tổ chức được giao quản lý bảo vật quốc gia được công nhận tại Quyết định này trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý đối với bảo vật quốc gia theo quy định của pháp luật về di sản văn hóa.
Theo Znews.vn
Truyền thuyết về Phật Mẫu Man Nương.
Vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất, bên bờ tây sông Thiên Đức có ngôi chùa Phúc Thắng. Trụ trì trong chùa là nhà sư Đà La, chẳng những tài cao đức trọng mà còn có rất nhiều thuật phép lạ, nên được dân chúng khắp nơi kính phục, tìm đến theo học rất đông.
Thủa ấy, trong vùng có một người con gái tên gọi Man Nương, cha mẹ mất sớm, nhà lại rất nghèo, cũng tìm đến chùa để xin theo học.
Man Nương tính tình thật thà, chất phác, lại siêng năng chăm chỉ, nhưng vì có tật nói lắp không tụng kinh được, nên sư Đà La giao cho việc nấu nướng cho các Tăng Ni.
Một đêm vào giữa Tháng 5 trời khi ấy đã khuya, Man Nương nấu chín nồi cháo đã lâu mà các nhà sư vẫn còn mải mê tụng kinh niệm Phật. Ngồi tựa ở cửa bếp để chờ, vô tình Man Nương ngủ thiếp đi từ lúc nào không biết.
Khi tụng kinh xong, không thấy Man Nương bưng cháo lên như mọi lần, sư Đà La bèn xuống bếp để xem sự thể thế nào. Thấy Man Nương đã ngủ say, không tiện đánh thức dậy, nhà sư Đà La liền né người bước qua để vào lấy cháo. Không ngờ, chỉ như vậy thôi, mà Man Nương đã mang thai.
Có thai được ba tháng thì Man Nương cảm thấy xấu hổ quá, bèn bỏ chùa ra về. Sư Đà La, sau đó cũng rời đi nơi khác. Mấy tháng sau Man Nương sinh hạ được một bé gái, bèn tìm đến nơi nhà sư đang tu để trả lại con.
Su Đà La ôm đứa trẻ, cùng Man Nương đi tới cây phù dung ở một ngã ba đường. Đó là một cây cổ thụ, cành lá xum xuê xanh tốt, lại có cái hốc rất to ở phía gần gốc. Đặt đứa trẻ vào trong hốc cây, nhà sư nói: "Này cây, ta gửi con Phật. Ngươi hãy giữ lấy, sau này sẽ được thành Phật"...
Nhà sư nói xong, thấy miệng hốc cây tự nhiên khép kín ngay lại.
Trước khi từ giã Man Nương, sư Đà La bảo nàng hãy tiếp tục đi tu, rồi giao cho một cây trượng mà bảo: "Ta cho nàng vật này. Khi nào trời hạn, đem cắm xuống đất, tự nhiên sẽ có mưa lớn". Man Nương cung kính đón nhận.
Từ đó, mỗi khi trời làm hạn hán, Man Nương lại cắm trượng xuống đất, thế là trời lại đổ mưa to.
Dân chúng trong vùng thấy vậy, đều rất đỗi vui mừng và cảm phục.
Một năm, trời đổ mưa to lại thêm bão lớn, làm cho cây phù dung có đứa bé ở trong, bị đổ. Cây trôi đến bến sông mà phía trên có ngôi chùa sư cụ Man Nương đang trụ trì thì dừng lại, dập dềnh ở bên mép nước.
Dân trong làng thấy vậy, bèn cùng nhau mang thừng chão ra buộc vào để kéo cây lên. Nhưng lạ thay, mấy chục người, rồi sau đó mấy trăm người, cùng xúm vào, mà cây vẫn không nhúc nhích.
Giữa lúc ấy, sư cụ Man Nương chống gậy từ trong chùa bước ra bến rửa tay. Thấy sự lạ, sư cụ bèn cầm vào một đầu dây kéo thử. Nhưng thật chẳng ngờ, khi sư cụ vừa khẽ chạm tay vào thì cây cũng lập tức chuyển động. Mọi người vui mừng, nhờ sư cụ kéo hẳn cây lên bờ, trong lòng ai ấy cũng đều thấy vừa ngạc nhiên vừa vô cùng cảm phục.
Cho rằng cây phù dung này linh thiêng nên dân làng bàn nhau sẻ cưa ra, để tạc thành tượng thờ. Nhưng khi những người thợ mang dao, cưa đến để phát cành xẻ gỗ, thì dao và cua đều bị quằn, mẻ, không thể làm gì được.
Dân làng lại phải nhờ đến sư cụ Man Nương. Chỉ sau khi sư cụ thắp hương đặt lể vật, khấn vái, rồi đứng ở đấy chứng kiến, thì tốp thợ mới phát cành và xẻ cây đuọc.
Họ cưa thân cây ra làm bốn khúc, dự định sẽ tạc bốn pho tượng thờ. Nhưng đến đoạn gốc nơi có cái hốc đặt đứa trẻ ngày trước, thì tự nhiên một tảng đá lăn ra.
Vì thấy tảng đá làm cho các đầu mũi cưa bị gẫy, nên tốp thợ tức quá, hò nhau lấy gáy rìu đập lấy đập để vào, cho hả giận. Lạ thật, tảng đá vẫn trơ ra, còn các gáy rìu, tất cả đêu bị quăn queo, méo mó.
Biết không thể làm gì được, nhưng vẫn tức, tốp thợ lại hò nhau bê tảng đá ném xuống sông. Nhưng thật bất ngờ, khi vừa chạm mặt nước, thì tàng đá lóe sáng rồi vừa phát sáng vừa chìm xuống dưới đáy làm cho cả một khúc sông sáng bừng lên, cùng với những quầng sóng rộng.
Tất cả tốp thợ kinh hoàng, thế rồi tự nhiên, không ai bảo ai, cùng lảo đảo, loạng choạng, rồi nhất loạt ngã vật ra đất, bất tỉnh nhân sự.
Tình thế thật vô cùng khẩn cấp. Những người được chúng kiến vội vã đi tìm lể vật, hương đăng, rồi mời sư cụ Man Nương xuống tận nơi khấn vái. Lại thuê cả thợ lặn đến để vớt tảng đá lên. Chỉ đến khi các việc xong xuôi, mới thấy tốp thợ dần dần hồi tỉnh lại
Bốn khúc gỗ cắt ở thân cây phù dung ra, sau đó được tạc thành 04 pho tượng thờ.
Lúc ấy nhà sư Đà La hay tin, cũng trở về chứng kiến. Ngài đặt pháp hiệu cho 04 pho tượng là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, ý là để câu mong cho dân làng yên vui và quanh năm mưa thuận gió hòa, không bị mưa, bão, sấm, sét làm cho thiệt hại.
Ngài lại bảo đem tảng đá vào đặt bên cạnh các pho tượng đã tạc. Thế rồi, mọi người nhìn thấy, các pho tượng tụ nhiên đều sáng bừng lên, hệt như đã được dát bên ngoài bằng vàng bằng bạc.
Sau đó, theo lời dạy của nhà sư Đà La, 04 pho tượng được đưa về 04 ngôi chùa lớn trong vùng và các ngôi chùa này, từ đấy được mang các tên như tên của 04 pho tượng đã tạc.
Riêng tảng đá, được đặt ở chính ngôi chùa có sư cụ Man Nương đang Trụ trì (tức là ngôi chùa có bến sông đã vớt được cây phù dung dạo trước).
Sư cụ Nương trụ trì tại ngôi chùa này thêm mấy chục năm nữa rồi mới viên tịch, lúc ở tuổi gần trăm.
Ngày viên tịch là ngày mồng bốn tháng tư (âm lịch), đúng bốn ngày trước Lễ Phật Đản.
Dân chúng trong vùng vừa thương tiếc nhưng cũng vừa kính cẩn, tôn xưng sư cụ là Phật Mẫu Man Nương. Danh hiệu "Phật Mẫu" này để chỉ, khi sinh thời sư cụ đã sinh ra đứa trẻ - tảng đá, sau trờ thành tiền thân của bốn ngôi chùa Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện trong vùng.
Lại nói về 04 ngôi chùa này, từ khi có 04 pho tượng thờ mới, thì càng ngày càng trở nên linh ứng đặc biệt.
Những năm lụt lội hay hạn hán kéo dài, dân chúng đến đây kêu cầu, đều thấy luôn được ứng nghiệm.
Từ đấy, thiện nam tín nữ tìm về ngày mỗi thêm đông. Để tưởng nhớ Phật Mẫu Man Nương, nên dân chúng trong vùng lấy ngày Mùng Bốn Tháng Tư - ngày sư cụ viên tịch làm ngày Lễ hội chung của cả 04 ngôi chùa.
Hàng năm, cứ đến ngày này, ở các nơi dân chúng lại nô nức tìm về trảy hội, và dùng nước sạch để tắm rửa cho các pho tượng Phật trong chùa. Lâu dần, trở thành phong tục, gọi là Hội Tắm Phật.
(MT St)