Hỏi: Trong năm uẩn, thiền sinh có thể hành thiền và làm việc chỉ trên hai uẩn và bỏ qua ba uẩn còn lại được

không?
Đáp: Trong thực tế, chánh niệm hay trí nhớ chỉ có thể ghi nhận một lần một uẩn mà thôi.
Vì vậy, Kinh Đại Niệm Xứ nói rất rõ: “Vị tỳ khưu quán thân trong thân”, nghĩa là vị Tỳ kheo chỉ niệm thân thôi chứ không thể vừa niệm thân vừa niệm thọ.
Vị ấy chỉ ghi nhận hoàn toàn thân và trong thân mà thôi.
Trong năm uẩn, hành giả chỉ cần ghi nhận hoàn toàn một uẩn thôi để hiểu rõ cái uẩn đó như thế nào.
Đối tượng đầu tiên mà hành giả nào cũng niệm là sắc uẩn. Sắc uẩn là thân. Niệm thân ý nói là niệm hơi thở của mình.
Khi thở vào, hành giả biết có hơi thở vào. Khi thở ra, biết có hơi thở ra. Bài kinh dạy rất rõ như vậy.
Trong thiền minh sát, vị thiền sư luôn luôn hướng dẫn hành giả có trí nhớ theo dõi đối tượng một cách rõ ràng và chính xác.
Điều này có nghĩa là hành giả niệm một cách chín chắn, xuyên thấu, không hời hợt.
Hành giả cần theo dõi để thấy rõ tiến trình của một hơi thở. Bắt đầu thấy vào, vào, vào...
Nếu chú tâm nơi bụng, hành giả bắt đầu thấy phồng, phồng, phồng...
Rồi hành giả theo dõi sự kéo dài và sự chấm dứt của hơi thở.
Một hơi thở vào rồi kéo dài, kéo dài... và chấm dứt.
Thở vào cũng như thở ra đều giống nhau. Chúng có sự bắt đầu, kéo dài và chấm dứt.
Sự phồng và xẹp của bụng cũng giống như thế.
Đây là một bài học rất đơn giản về niệm hơi thở mà chúng ta đã quá thuộc lòng nhưng kinh nghiệm thì lại chưa thật sự kinh nghiệm.
Như vậy, sự kinh nghiệm khác hẳn với sự suy nghĩ.
Nếu có đầy đủ trí nhớ, chúng ta sẽ thấy tâm rất rõ.
Vì thế, chúng ta hãy bắt đầu tập chánh niệm. Khi có hơi thở vào, chúng ta đưa tâm ngay đến đó.
Đặc tính của tâm là hay biết đối tượng nên nó biết liền là có hơi thở vào. Nó hay biết gì về hơi thở vào?
Nó biết có sự chuyển động hoặc biết phồng và xẹp.
Đó gọi là sự làm việc của thức uẩn.
Ngay sau đó, chúng ta đưa tâm sở chánh niệm tới. Bây giờ tâm chúng ta có chánh niệm hay trí nhớ. Trí nhớ theo dõi tâm ở chỗ đó, nghĩa là theo dõi tâm ở nơi bụng và tâm hay biết có sự phồng và sự xẹp ở đó.
Hơi thở vào ra hay bụng phồng xẹp chính là sắc uẩn.
Nếu chúng ta cứ tiếp tục thực hành như thế, cái thấy đó sẽ đưa chúng ta tới sự giác ngộ.
Khi hành giả thấy với trí tuệ rằng uẩn chỉ là uẩn thôi, vị ấy sẽ không còn chấp trong đối tượng, không dính mắc trong đối tượng, không hiểu sai trong đối tượng.
Đó là không chấp trong ngũ uẩn cho dù vị ấy chỉ thấy sắc uẩn – một trong năm uẩn.
Thiền sinh có thể giác ngộ trong thân quán niệm xứ hoặc giác ngộ trong các pháp quán khác như thọ, tâm và pháp.
Sư không dám đi sâu vào chi tiết pháp môn của các vị thiền sư vì mỗi vị đều có kinh nghiệm riêng.
Ngài Mahāsi Sayadaw dạy Tứ niệm xứ nhưng hướng dẫn thiền sinh theo dõi kỹ lưỡng và quán chặt chẽ các oai nghi của thân.
Các Ngài Ledi Sayadaw, U Ba Khin và hiện nay, thầy của Sư là S. N. Goenka dạy về thọ quán niệm xứ.
Các Ngài luôn luôn hướng dẫn rằng khi cảm giác sinh lên, hành giả phải theo dõi với ý niệm vô thường cho rõ thì khổ cũng ở đó và vô ngã cũng ở đó.
Ngài Shwe Oo Min và đệ tử kế tục là Ashin Tejaniya dạy về tâm quán niệm xứ.
Đây cũng là Tứ niệm xứ nhưng đối tượng đầu tiên là tâm.
Sau khi thuần thục trong pháp quán tâm rồi, thiền sinh có thể chuyển qua quán đối tượng của tâm, còn gọi là pháp quán niệm xứ.
Khi hành giả biết thấy chỉ là thấy suông, nghe chỉ là nghe suông; khi biết trong tâm có tâm tham: “Ô, tâm tham đến!” hoặc khi sân hận sinh lên: “Ô, sân, sân, sân”, đó là hành giả đang quán tâm và quán pháp.
Tóm lại, nếu chúng ta thấy rõ một uẩn như sắc uẩn hoặc thọ uẩn thì các uẩn khác cũng giống nhau, không khác.
Khi thiền sinh thấy rõ một uẩn và không còn thắc mắc gì nữa thì đối với các uẩn còn lại cũng thế.
Vị ấy sẽ không còn thắc mắc, hiểu lầm và hoài nghi về bất cứ điều gì trong Giáo Pháp này.