Hỏi:
Lễ lạy là một lễ nghi phổ biến trong đời sống. Xin NS Giác Ngộ cho biết các hình thức vái lạy ở đời thường cùng trong Phật giáo và tên gọi bằng chữ Hán của các hình thức đó.
Đáp:
Lạy là hình thức biểu thị sự cung kính của một người đối với bậc trưởng thượng, còn vái là của hai người đồng vai vế chào nhau.
Việt Nam ta và người Hoa, việc vái lạy trong đạo cũng như ngoài đời hầu như khá giống nhau.
Trước hết xin nói về vái lạy trong đời thường.
Vái và lạy đều là lễ nghi từ thời cổ đại, nhưng giữa hai hình thức có sự khác nhau. Căn cứ theo quy định của lễ tục thời cổ đại thì vái chỉ cần cung tay chào chứ không cần quỳ. Tuy nhiên, vái cũng phân biệt thành ấp trơn (còn gọi là ấp nhượng) và trường ấp, tức vái dài.
Ấp ngày nay còn gọi là tác ấp, là nghi tiết giữa chủ và khách gặp nhau thời cổ. Căn cứ thiên Thu Quan và Tư Nghi của sách Chu Lễ ghi chép lại thì vái nhường tùy theo tôn ti mà phân biệt thành ba loại gọi là tam ấp.
Thứ nhất là Thổ ấp, chuyên dùng cho những người khác họ và không có quan hệ thông gia. Khi hành lễ, cung tay hơi chếch xuống phía dưới.
Thứ hai là Thời ấp, chuyên dùng cho những người tuy khác họ nhưng có nghĩa thông gia. Khi hành lễ, cung tay về phía trước ở tầm trung bình.
Thứ ba là Thiên ấp, dùng cho chủ khách cùng một họ. Khi hành lễ, cung tay hơi chếch lên trên.
Sách Công Dương truyện, thiên Hy công nhị niên chép: “Nam công ấp nhi tấn chi”. Điều này được nhà văn tự học nổi tiếng Đoàn Ngọc giải thích trong sách Thuyết văn giải tự: “Phàm cung thủ về phía trước gọi là vái (ấp)”.
Vái dài tức trường ấp, so với lạy (bái) thì ít kính trọng hơn, dùng trong trường hợp gặp người trưởng thượng hoặc dùng chung khi mọi người gặp nhau. Khi hành lễ hơi cúi người xuống, hai bàn tay cung lại rồi đưa từ trên xuống.
Trường ấp cũng là một lễ tiết giản đơn. Thiên Cao Đế kỷ trong Hán thư có ghi: “Lịch Sanh bất bái, trường ấp”, nghĩa là: Lịch Sanh không lạy, chỉ vái dài.
Thiên Chu Bột truyện trong Hán thư cũng ghi: “Chí trung quân dinh, tướng quân tịnh phu ấp viết: Giới trụ chi sĩ bất bái, thỉnh dĩ quân lễ kiến”, nghĩa là: Đến trung dinh, tướng quân chỉ vái mà nói: Chiến sĩ đang mang giáp trụ không tiện lạy, xin lấy phép quân đội lễ kiến.
Qua đó có thể thấy vái và lạy hoàn toàn không giống nhau.
Thế thì lạy, tức bái là gì?
Sách Thuyết văn giải tự giải: “Quỳ xuống tức là lạy vậy”.
Quỳ là hình thức không thể thiếu của cổ nhân khi hành lễ để biểu thị sự cung kính. Lễ tục cổ đại quy định rất nghiêm, trong các tình huống khác nhau thì tư thế cúi đầu và số lần sát đất cũng khác nhau. Vì vậy tên gọi và loại hình lễ bái ngày xưa rất phong phú.
Theo sách Chu Lễ, ở thiên Xuân Quan và Đại Chúc có ghi rõ các hình thức như: khể thủ, không thủ, kỳ bái, bao bái… gồm tất cả là cửu bái.
Khể thủ và không thủ là sau khi quỳ rồi đầu không chạm sát đất, hai tay cung lại đặt trước ngực. Kiểu này còn gọi là bái thủ (chắp tay lạy).
Kỳ thủ là quỳ lạy mọp đầu một lần.
Bao bái biểu thị sự cung kính, tiến hành hai lượt lễ không thủ, còn gọi là tái bái.
Riêng cửu bái là lễ nghi long trọng dùng khi lạy quân vương hoặc thần linh.
Ngoài ra còn có nhiều kiểu lạy khác như bát bái.
Bát bái là lễ dành cho con cháu khi ra mắt bậc trưởng thượng, lạy tám lạy. Đời sau, những người khác họ kết làm anh em gọi là bát bái chi giao.
Tam bái là lạy ba lần.
Khi chủ nhân tiếp đãi đông khách, không thể lạy từng người thì dùng tam bái lễ coi như chào toàn thể, ngày nay có thể hiểu là tổng chào. Khách chỉ cần đáp lại một lạy.
Thật ra vái lạy còn nhiều kiểu phức tạp khác, nhưng suy cho cùng, cổ đại gọi chung hành vi quỳ xuống, cúi đầu biểu thị cung kính là lạy.
Riêng trong nghi lễ Phật giáo có một số hình thức như sau:
Khi gặp người trưởng thượng thì nghi thức thông thường là xoa thủ, còn gọi là hiệp chưởng, tức chắp hai bàn tay lại, mười ngón khép nhau để trước ngực, cúi đầu chào và niệm “Mô Phật” hoặc “A Di Đà Phật”.
Trong lễ nghi Trung Hoa, nếu một tay đang cầm vật thì chỉ cần đặt tay còn lại trước ngực rồi cúi đầu chào.
Trang trọng hơn là quỳ hai gối, chắp tay ngang trán, cúi mọp xuống gọi là quỵ bái hay lễ bái.
Nếu quỳ dài, rướn thân xuống đất như cách quỳ lạy của người Hồi giáo thì gọi là Hồ quỵ.
Trang trọng hơn cả là cách lạy chân Phật khi Đức Thế Tôn còn tại thế, gọi là Đầu diện tiếp túc quy mạng, tức quỳ lạy để trán chạm bàn chân Phật xin quy mạng.
Giờ xin nói chi tiết hơn về lễ bái trong Phật giáo.
Đối với Phật giáo, lễ bái là hành vi biểu thị lòng kính ngưỡng đối với chư Phật, Bồ Tát, các bậc tôn túc, tháp Phật, tháp Tổ…
Nguyên xưa ở Ấn Độ có chín phép vái lạy gồm:
Đây là chín phép từ đơn giản đến trang trọng.
Về quỳ cũng có nhiều cách nhưng phổ biến như sau:
a) Hổ quỵ
Đặt gối phải chạm đất, chống gối trái lên. Đây là lối quỳ chủ yếu dành cho Tỳ-kheo.
b) Trường quỵ
Quỳ hai gối chạm đất, đầu các ngón chân cũng chạm đất, chủ yếu dành cho Tỳ-kheo ni.
c) Hồ quỳ
Là quỳ theo cách của người Hồ (chỉ chung người Ấn Độ và vùng Tây Vực).
Cách này khác Ngũ thể đầu địa ở chỗ chân phải trải dài, đầu và hai tay chạm đất cách xa hai gối.
Ngũ thể đầu địa là cách lễ bái biểu đạt lòng kính cao nhất.
Theo cách này, trước hết đứng thẳng, chắp tay trước ngực, cúi đầu, sau đó quỳ gối phải rồi đến gối trái, tiếp theo đặt khuỷu tay xuống đất, mở hai bàn tay hướng lên và quán tưởng như đang tiếp nhận chân của đối tượng mình lễ bái.
Do đó gọi là: ngũ thể đầu địa, ngũ luân đầu địa hoặc cử thân đầu địa.
Cũng vì dùng phần cao quý nhất của thân là đầu trán tiếp xúc với phần thấp nhất của đối tượng là bàn chân nên còn gọi là: tiếp túc tác lễ, đầu diện lễ túc, đảnh lễ song túc, tiếp túc quy mạng đảnh lễ, khể thủ lễ túc hoặc gọi gọn là đảnh lễ, lễ túc.
Nhân đây cũng xin nói thêm một số thuật ngữ liên quan đến lễ bái.
Phàm trải tọa cụ ra rồi lễ bái gọi là triển bái.
Nếu trải hoàn toàn tọa cụ ra rồi lạy ba lạy gọi là đại triển tam bái.
Nếu lạy chín lạy gọi là đại triển cửu bái.
Nếu không trải tọa cụ mà gấp lại rồi đặt trán lên đó để lạy thì gọi là xúc lễ.
Về số lần lạy, ở Ấn Độ chỉ cần lạy một lần nhưng ở Việt Nam và Trung Quốc thường lạy ba lạy, chín lạy, mười tám lạy, thậm chí đến một trăm lạy.
Ngoài ra còn có từ hòa nam, phiên âm từ Sanskrit Vandana, nghĩa là lễ pháp dùng để biểu đạt kính ý đối với bậc tôn túc, cũng gọi là bà nam, bàn ra sàng, dịch nghĩa là lễ, quy lễ.
Cuối cùng, khi vì một lý do nào đó không thể trực tiếp đến lễ bái bậc tôn túc mà phải nhờ người khác lễ thay thì trước hết phải vọng không mà lễ bái, gọi là truyền bái. Cách lạy này còn gọi là đại lễ (lạy thay).
Lý Việt Dũng - Trình bày : Nhị Tường - quangduc.com
pham ngoc tan
Thưa các thầy, hôm nay con lại vào trang của các thầy để đọc bài viết của các thầy để biết lối sơ khai mà tu tập. Xong sau khi đọc con vẫn rất mong muốn các thầy viết thêm một bài có dạng, trình tự nghi lễ một số việc cụ thể như: Cúng kỵ, cúng tổ họ, cúng động thổ cất nóc, cúng long mạch, cúng mộ phần...tóm lại là các nghi thế gian thường làm. Mong các thầy hoan hỷ.
Thích Trả lời 10/4/2016 7:52:55 AM