Dưới đây là cẩm nang thực hành 10 điều lành hằng ngày, từ các nghi thức lễ Phật, thọ giới, sám hối cho đến trau dồi chánh niệm, giúp bạn đọc dễ dàng áp dụng để tìm lại sự định tĩnh và gieo trồng phước báu cho chính mình cùng người thân.

Lễ Phật
Lễ ba lạy, tri ân Tam Bảo
1. Arahaṃ sammāsambuddho Bhagavā, Buddhaṃ Bhagavantaṃ abhivādemi. Nhất tâm đảnh lễ Đức Thế Tôn bậc A la hán, Chánh đẳng chánh giác, Ngài là thiên nhân từ phụ, bi trí vẹn toàn. (1 lạy)
2. Svākkhāto Bhagavatā dhammo, dhammaṃ namassāmi. Nhất tâm lễ bái Giáo pháp do Đức Thế Tôn khéo thuyết giảng, đạo chuyển mê khai ngộ, thiết thực hiện tiền, vượt thời gian. (1 lạy)
3. Supaṭipanno Bhagavato sāvakasaṅgho, saṅghaṃ namāmi. Nhất tâm đảnh lễ chư Thánh hiền tăng đệ tử của Đức Thế Tôn, các Ngài là bậc hoằng truyền chánh pháp, xứng đáng cho chúng sanh lễ bái cúng dường. (1 lạy)
4. Namo tassa bhagavato arahato sammāsambuddhassa. (3 lần) Con đem hết lòng thành kính làm lễ Đức Bhagavā đó, Ngài là bậc Arahaṃ cao thượng, được chứng quả Chánh Biến Tri do Ngài tự ngộ không thầy chỉ dạy. (3 lần)
Thọ Tam Quy
Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi. Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật.
Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi. Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp.
Saṅgham saraṇaṃ gacchāmi. Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng.
Dutiyampi Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi. Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật lần thứ nhì.
Dutiyampi Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi. Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp lần thứ nhì.
Dutiyampi Saṅgham saraṇaṃ gacchāmi. Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng lần thứ nhì.
Tatiyampi Buddhaṃ saraṇaṃ gacchāmi. Con đem hết lòng thành kính xin quy y Phật lần thứ ba.
Tatiyampi Dhammaṃ saraṇaṃ gacchāmi. Con đem hết lòng thành kính xin quy y Pháp lần thứ ba.
Tatiyampi Saṅgham saraṇaṃ gacchāmi. Con đem hết lòng thành kính xin quy y Tăng lần thứ ba.
Con xin thành kính quy y Tam Bảo (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng) từ hôm nay cho đến trọn đời, Con xin thành kính quy y Tam Bảo (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng) từ hôm nay cho đến ngày chấm dứt sinh tử luân hồi.
Thọ trì ngũ giới
1. Pāṇātipātā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự sát sanh.
2. Adinnādānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự trộm cắp.
3. Kāmesumicchācārā veramaṇī sikkhā-padaṃ samādiyāmi. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự tà hạnh trong các dục.
4. Musāvādā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự nói dối.
5. Surāmerayamajjappamādaṭṭhānā veramaṇī sikkhāpadaṃ samādiyāmi. Con xin vâng giữ điều học là cố ý tránh xa sự dễ duôi uống rượu và các chất say.
Thực hành 10 điều lành
(1) Thân có ba việc làm lành: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.
(2) Khẩu có bốn việc làm lành: không nói dối, không nói hai lưỡi, không nói hung ác, không nói lời phù phiếm.
(3) Ý có ba việc làm lành: không tham lam, không sân hận, không tà kiến.
Thực hành 10 phước nghiệp sự
1. Bố thí (Dānamagga): bố thí xả tài.
2. Trì giới (Sīlamaya): giữ giới, thọ trì những giới cấm.
3. Tu tiến (Bhāvanāmaya): tu tập thiền định, chỉ và quán.
4. Cung kính (Apacāyanamaya): kính lễ bậc trưởng thượng.
5. Phục vụ (Veyyāvaccamaya): làm lợi ích cho người khác với công sức của mình.
6. Hồi hướng (Pattidānamaya): hướng nguyện công đức đã làm, để tạo điều kiện cho người khác sanh tâm thiện.
7. Tùy hỷ (Pattānumodanāmaya): vui thích theo công đức của người khác đã làm.
8. Thính pháp (Dhammassavanamaya): nghe pháp của Đức Phật thuyết, hay các đệ tử của Ngài thuyết, thậm chí là nghe những bậc thiện trí dạy bảo.
9. Thuyết pháp (Dhammadesanāmaya): nói pháp chân chánh cho người khác nghe, thậm chí chỉ là bàn luận Phật pháp, hoặc nói những lời hay lẽ phải.
10. Cải chánh kiến thức (Diṭṭhujukamma): trau dồi kiến thức, làm cho tri kiến được ngay thẳng, chánh kiến.
Bố thí, hồi hướng và tùy hỷ tạo nên phước vật; trì giới, cung kính và phục vụ tạo nên phước đức; tu tiến, thính pháp và thuyết pháp tạo nên phước trí; riêng điều cải chánh kiến thức là pháp hỗ trợ chín pháp kia và tạo được ba loại phước.
(D.A. III.999; Comp. 146 - Cư sĩ Giới Pháp và Tỳ-kheo Giác Giới biên soạn)
Sám hối thường xuyên
Sám hối Tam Bảo
Sám hối Phật Bảo
Con xin hết lòng thành kính cúi đầu làm lễ vi trần dưới chân Ðức Phật, là Ðấng Chí Tôn Chí Thánh. Các tội lỗi mà con đã vô ý phạm đến Phật Bảo, cúi xin Phật Bảo xá tội lỗi ấy cho con. (lạy)
Sám hối Pháp Bảo
Con xin hết lòng thành kính, cúi đầu làm lễ hai hạng Pháp Bảo là Pháp học và Pháp hành. Các tội lỗi mà con đã vô ý phạm đến Pháp Bảo, cúi xin Pháp Bảo xá tội lỗi ấy cho con. (lạy)
Sám hối Tăng Bảo
Con xin hết lòng thành kính, cúi đầu làm lễ hai bậc Tăng Bảo là Phàm Tăng và Thánh Tăng. Các tội lỗi mà con đã vô ý phạm đến Tăng Bảo, cúi xin Tăng Bảo xá tội lỗi ấy cho con. (lạy)
Sám hối Tam Bảo, Cha Mẹ, Thầy tổ như sau:
Okāsa! Okāsa! Okāsa! Kāyakammā vācīkammā manokammā sabbadosa
Vì mong muốn tránh khỏi Tất cả những lỗi lầm, Do thân nghiệp hành động, Do khẩu nghiệp nói năng, Do ý nghiệp suy nghĩ, Đã phạm đến Tam Bảo: Đức Phật Bảo cao thượng, Đức Pháp Bảo cao thượng, Đức Tăng Bảo cao thượng, Đến cha mẹ, thầy tổ…
Buddharatana, Dhammaratana, Saṅgharatana,
Con thành kính đảnh lễ, Ngôi Tam Bảo cao thượng, Cùng cha mẹ thầy tổ, Lần thứ nhì, thứ ba. Xin năm bậc ân đức, Cao thượng không gì bằng, Nhận biết sự sám hối, Những lỗi lầm của con.
Do thành tâm sám hối, Với đức tin trong sạch, Thiện tâm hợp trí tuệ, Cầu mong con tránh khỏi: (1) Sanh trong bốn cõi ác, (2) Tránh gặp ba nạn tai, (3) Tám trường hợp bất lợi, (4) Năm kẻ thù phá hoại, (5) Bốn rủi ro bất hạnh, (6) Năm mất mát kiếp người Trong tất cả mọi thời, Mọi kiếp sống luân hồi.
Khi đã tránh khỏi rồi, Mong con sớm chứng ngộ: Chân lý Tứ Thánh Đế, Chứng đắc Tứ Thánh Đạo, Tứ Thánh Quả, Niết Bàn, Diệt đoạn tuyệt tham ái, Giải thoát khổ tử sinh, Luân hồi trong tam giới.
(Kinh Nhật tụng chùa Phúc Minh)
Thiền tha thứ
Khi hành Thiền Tha Thứ, ta chắp hai tay và đọc: Vì lầm lạc và không minh mẫn nên tôi đã có hành động, lời nói và ý nghĩ sai lầm làm thiệt hại và gây ra đau khổ cho người khác. Xin tất cả hãy mở rộng lòng từ bi và trí tuệ tha thứ cho tôi.
Tôi thành thật tha thứ cho tất cả những ai đã có hành động, lời nói và ý nghĩ sai lầm làm thiệt hại và gây ra đau khổ cho tôi.
Tôi thành thật tha thứ cho chính tôi và nguyện từ nay về sau làm lành, lánh dữ, giữ tâm trong sạch.
Chúng ta nên đọc các câu trên từ năm đến mười lần trước khi hành Thiền Từ Bi hay Niệm Tâm Từ.
(Trích trong Ðại Niệm Xứ - Hòa thượng Sīlānanda, Tỳ-kheo Khánh Hỷ dịch Việt, Hoa Kỳ, 1999)
Hay chí tâm sám hối mọi tội lỗi:
Con xưa đã tạo bao ác nghiệp, Đều bởi vô thủy tham, sân, si, Từ thân miệng ý mà sanh ra, Tất cả con nay xin sám hối. (3 lần)
Thực hành 4 đề mục hộ thân
1. Niệm Ân đức Phật Bảo (Buddhānussati)
Quán tưởng, tưởng niệm đến ân đức của Đức Phật: Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự trượng phu, Thiên nhân sư, Phật, Thế tôn. Công năng: Sinh niềm tin, lòng hân hoan, hộ thân khỏi sợ hãi, tà ma, vọng tưởng.
2. Quán Bất Tịnh hoặc Mỹ (Asubha Bhāvanā)
Quán thân này là vô thường, bất tịnh, bất mỹ, gồm 32 thể trược: Hai mươi phần thuộc địa đại (yếu tố đất) sẽ được phân biệt theo bốn nhóm năm: (1) 1. Tóc, 2. Lông, 3. Móng, 4. Răng, 5. Da (2) 6. Thịt, 7. Gân, 8. Xương, 9. Tủy, 10. Thận (3) 11. Tim, 12. Gan, 13. Màng ruột, 14. Bao tử, 15. Phổi (4) 16. Ruột, 17. Trực tràng, 18. Vật thực chưa tiêu hóa, 19. Phân, 20. Óc
Mười hai phần thuộc thủy đại sẽ được phân biệt theo hai nhóm sau: (1) 1. Mật, 2. Đàm, 3. Mủ, 4. Máu, 5. Mồ hôi, 6. Mỡ (2) 7. Nước mắt, 8. Mỡ nước, 9. Nước miếng, 10. Nước mũi, 11. Hoạt dịch (nước khớp xương), 12. Nước tiểu
Hoặc quán tử thi ở các giai đoạn hoại diệt, hay quán bất tịnh của thức ăn. Công năng: Đoạn trừ tham dục, giảm bớt si mê đối với thân sắc.
3. Tu tập Tâm Từ (Mettā Bhāvanā)
Cầu mong cho tôi không oan trái với mọi chúng sinh. Cầu mong cho tôi thoát khỏi khổ thân. Cầu mong cho tôi thoát khỏi khổ tâm. Cầu mong cho tôi thân tâm được an lạc. Sau đó, tương tự hướng đến đối tượng và chúng sanh mình muốn rải từ tâm. Công năng: Diệt trừ sân hận, oán thù; hộ thân khỏi những tai họa do ác ý, thù nghịch.
4. Niệm Sự Chết (Maraṇānussati)
Tôi sẽ chết, không thể nào tránh khỏi. Tôi sẽ chết bất cứ lúc nào, không thể biết trước được. Tôi sẽ bỏ lại tất cả khi chết, ngoại trừ nghiệp của tôi.
Công năng: Giúp tinh tấn tu tập, đoạn trừ phóng dật, sống trọn vẹn từng ngày.
Đức Phật dạy: Niệm chết nếu được tu tập, được làm cho sung mãn, sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử.
Hãy tu tập niệm chết như sau: Mong rằng cho đến khi nào ta còn ăn một miếng đồ ăn, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy. Mong rằng cho đến khi nào sau khi thở vào, ta thở ra hay sau khi thở ra, ta thở vào, cho đến khi ấy, ta tác ý đến lời dạy của Thế Tôn, ta đã làm nhiều như vậy. Hãy sống không phóng dật! Ta sẽ tu tập một cách sắc sảo niệm chết để đoạn diệt các lậu hoặc. (AN 6.19)
Các nhân duyên đem đến cái chết cho ta rất nhiều: (1) Con rắn có thể cắn ta, con bò cạp có thể cắn ta, hay con rết có thể cắn ta. Do vậy, ta có thể mệnh chung. Như vậy sẽ trở ngại cho ta. (2) Ta có thể vấp ngã và té xuống. (3) Cơm ta ăn có thể làm ta mắc bệnh khi ăn, hay (4) mật có thể khuấy động ta, (5) đàm có thể khuấy động ta. (6) Các cơn gió sắc như kiếm có thể khuấy động ta. Và như vậy có thể làm ta mệnh chung. Như vậy sẽ là chướng ngại cho ta.
Ta không có những pháp ác bất thiện chưa được đoạn tận, nếu ta lỡ mệnh chung ngày hôm nay, chúng có thể là chướng ngại cho ta.
Này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo ấy cần phải sống hoan hỷ, hân hoan, ngày đêm cần phải học tập trong các thiện pháp.
Khi ngày vừa tàn và đêm bắt đầu, hãy suy tư: Ta có thể chết trong đêm nay vì nhiều lý do. Do vậy, ta phải nỗ lực đoạn tận các pháp bất thiện, và hoan hỷ học tập trong các pháp thiện.
Khi đêm vừa tàn và ngày bắt đầu, hãy suy tư: Ta có thể chết trong ngày hôm nay vì nhiều lý do. Do vậy, ta phải nỗ lực đoạn tận các pháp bất thiện, và hoan hỷ học tập trong các pháp thiện.
Niệm chết nếu được tu tập, được làm cho sung mãn như vậy, sẽ có quả lớn, có lợi ích lớn, nhập vào bất tử, cứu cánh là bất tử. (AN 6.20)
Thực hành sống chánh niệm tỉnh giác
Thận trọng và tác ý trong mọi việc từ thân, khẩu, ý cho thiện lành.
Quán tưởng vô thường, khổ, vô ngã
Hằng ngày, hằng đêm khi nào nhớ đến hãy quán vô thường, khổ, vô ngã của mọi vật, mọi hiện tượng, mọi hiện hữu.
Thực hành biết ơn và tri ơn
Biết ơn sự sống hôm nay, Giữ tâm chánh niệm, lời hay việc hiền. Tri ân cha mẹ, thầy hiền, Tam Bảo dẫn lối, kết duyên thiện lành.
Biết ơn cả kẻ bất lành, Cho ta học nhẫn, luyện thành tâm trong. Tri ân vạn vật cõi hồng, Nguyện sống tỉnh thức, gieo trồng từ bi.
Thực hành thập độ (trong khả năng)
Mười Ba-la-mật (Pāramī)
1. Dāna (Bố thí): Thực hành cho đi và giúp đỡ người khác, không chỉ về vật chất mà còn về tinh thần, lời nói và pháp.
2. Sīla (Trì giới): Giữ gìn đạo đức, tuân thủ giới luật để thanh lọc thân, khẩu, ý.
3. Nekkhamma (Xuất gia): Từ bỏ cuộc sống tại gia cư sĩ để tập trung vào con đường giới, định, tuệ.
4. Paññā (Trí tuệ): Phát triển trí tuệ để hiểu sâu sắc về bản chất của mọi vật và thoát khỏi khổ đau.
5. Viriya (Tinh tấn): Nỗ lực không ngừng nghỉ, kiên trì trên con đường tu tập và phát triển bản thân.
6. Khanti (Kham nhẫn): Chịu đựng mọi khó khăn, thử thách và phiền não mà không sân giận.
7. Sacca (Chân thật): Giữ gìn ý nghĩ, lời nói và hành động chân thành, ngay thẳng.
8. Adhiṭṭhāna (Quyết định): Quyết tâm thực hiện mục tiêu, không dao động trước mọi trở ngại.
9. Mettā (Tâm từ): Yêu thương tất cả chúng sinh, mong muốn mọi loài được an vui và hạnh phúc.
10. Upekkhā (Tâm xả): Giữ tâm quân bình, không thiên vị, không phân biệt đối xử trước mọi hoàn cảnh.
Minh Tuệ sưu tầm