Bài giảng không nêu lên các khái niệm sâu sắc về giáo lý và các khía cạnh triết học hay tâm lý học, thế nhưng các hình ảnh ẩn dụ khiến chúng ta không khỏi phải suy nghĩ và liên tưởng đến sự sinh hoạt tập thể của con người trong thế giới.

Hình minh họa
Valāhaka, tựa của bài giảng, là tiếng Pali, có nghĩa là các ‘đám mây’ nhưng cũng có nghĩa là ‘các đám mây có thể đổ mưa’. Theo một tư liệu xưa của nước Ấn vào thế kỷ thứ V thì chữ valāhaka cũng có nghĩa là các nghi thức cầu mưa trong dân gian.
Các bản dịch tiếng Anh về bài giảng này dịch chữ valāhaka theo ý nghĩa thứ hai như vừa nêu lên, có nghĩa là các đám mây có thể đổ xuống các cơn mưa (rain cloud), hoặc dịch là các đám mây sấm sét (thunderhead). Có một bản dịch sang tiếng Pháp về bài giảng này, và trong bản dịch này thì chữ valāhaka được dịch là các đám mây giông tố (nuage orageux).
Do vậy chúng ta có thể dịch chữ valāhaka sang tiếng Việt là các đám ‘mây đen’ hoặc là ‘các đám mây giông tố’ dựa theo bản dịch tiếng Pháp. Về phần nội dung thì bản chuyển ngữ tiếng Việt dưới đây được dựa vào hai bản dịch tiếng Anh của Thanissaro bhikkhu và Bhikkhu Sujato, và một bản dịch tiếng Pháp của Rémy.
Ngoài ra trước đây cũng đã có hai bản dịch tiếng Việt về bài giảng này, và cả hai bản dịch này sẽ được đưa vào phần phụ lục dưới đây hầu giúp độc giả tìm hiểu đầy đủ và tường tận hơn về bài giảng này của Đức Phật. Bài giảng này như sau:
Bài giảng về các đám mây giông tố
Tôi từng được nghe như vầy:
Lúc bấy giờ Thế Tôn (tức là Đức Phật) đang ngụ tại khu rừng thưa Jeta (Kỳ Viên), gần kinh thành Sāvatthī (Xá Vệ), trong tịnh xá của vị Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Thế Tôn gọi các vị tỳ-kheo (bhikkhu / các người tu hành khất thực, đệ tử của Đức Phật) và nói với họ: «Này các tỳ-kheo».
Các vị tỳ-kheo đáp lại: «Vâng, thưa Thế Tôn».
Thế Tôn nói tiếp: «Này các tỳ-kheo, có bốn thứ mây. Vậy, bốn thứ mây ấy là những thứ như thế nào?»
«Có bốn thứ mây giông tố. Bốn thứ mây giông tố ấy là như thế nào?
1- Có một thứ mây giông tố nổ vang sấm sét, nhưng không rót xuống một hạt mưa nào; 2- có một thứ mây giông tố rót xuống các cơn mưa, nhưng không nổ vang sấm sét; 3- có một thứ mây giông tố không sấm sét cũng chẳng đổ mưa; 4- có một thứ mây giông g tố vừa nổ vang sấm sét, nhưng cũng vừa rót xuống các cơn mưa.
«Cũng tương tự như vậy, trong thế giới này có bốn thể loại người chẳng khác gì như những đám mây giông tố. Vậy, bốn thể loại người ấy là những người như thế nào? 1- Có một thể loại người nổ vang sấm sét, nhưng chẳng rót xuống một hạt mưa nào; 2- có một thể loại người đổ mưa nhưng không nổ vang sấm sét; 3- có một thể loại người không nổ vang sấm sét, cũng chẳng đổ mưa; 4- có một thể loại người vừa nổ vang sấm sét, nhưng cũng vừa rót xuống các cơn mưa.
1- «Vậy, này các tỳ-kheo, thể loại người nổ vang sấm sét, nhưng không rót xuống một hạt mưa nào là thể loại người như thế nào? Đấy là trường hợp của một người thấu triệt được Dhamma (Đạo Pháp / Giáo lý / Giáo Huấn của Đức Phật): [biết] đối thoại [về Dhamma], [biết tường thuật về Dhamma] bằng các câu văn xuôi hòa lẫn với những vần thi phú, [biết] thuyết giảng một cách trôi chảy, [biết cách] trích dẫn, [biết] thuật lại các câu chuyện về sự sinh [trong quá khứ], [biết tường thuật về] các sự kiện lạ lùng, [biết trả lời] trong các buổi hỏi-đáp.
Thế nhưng, người ấy [chỉ là một kẻ huênh hoang], không trông thấy được những gì đang xảy ra trong hiện tại này: «Đây là khổ đau». Người ấy không trông thấy được những gì đang xảy ra trong hiện tại này: «Đây là cội nguồn mang lại khổ đau». Người ấy không trông thấy được những gì đang xảy ra trong hiện tại này: «Đây là sự chấm dứt của khổ đau».
Người ấy không trông thấy được những gì đang xảy ra trong hiện tại này: «Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ đau». Ta bảo với các tỳ kheo rằng, thể loại người ấy chẳng khác gì với một đám mây giông tố, nổ vang sấm sét, nhưng không rót xuống một hạt mưa nào.
(Họ là những người thông thạo giáo lý, trông thấy được bốn sự thật trong thế giới này, họ đứng ra giảng dạy về bốn sự thật đó cho kẻ khác, thật hùng hồn tương tự như sấm sét nổ vang. Thế nhưng thật ra thì họ chỉ là những kẻ ba hoa, khoác lác, to tiếng khoe khoang, tương tự như một đám mây giông tố nổ vang sấm sét, nhưng không rót xuống được một hạt mưa thương yêu nào, một giọt nước từ bi nào.
Họ trông thấy bốn sự thực trong thế giới: «Đây là khổ đau», «Đây là cội nguồn mang lại khổ đau», «Đây là sự chấm dứt của khổ đau», «Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ đau», họ hét lên thật to các sự thật ấy, nhưng không nghĩ là mình phải biến chúng trở thành các cơn mưa thương yêu rót vào thế giới)
2- «Vậy thể loại người rót xuống các cơn mưa nhưng không nổ vang sấm sét là thể loại người như thế nào? Này các tỳ-kheo, đấy là trường hợp của một người không thấu triệt được Dhamma (Giáo huấn của Đức Phật): [không giải thích được] các bài giảng huấn, […], [không trả lời được các thắc mắc nêu lên trong] các buổi hỏi-đáp. Thế nhưng, người ấy trông thấy được những gì trong hiện tại này: «Đây là khổ đau».
Người ấy trông thấy được những gì đang xảy ra trong hiện tại này: «Đây là cội nguồn mang lại khổ đau». Người ấy trông thấy được những gì đang xảy ra trong hiện tại này: «Đây là sự chấm dứt của khổ đau». Người ấy trông thấy được những gì đang xảy ra trong hiện tại này: «Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ đau».
Này các tỳ-kheo, ta bảo với các tỳ-kheo rằng, thể loại người ấy chẳng khác gì với một đám mây giông tố, rót xuống các cơn mưa [trong yên lặng], nhưng không nổ vang sấm sét.
(Họ là những con người đơn sơ, khiêm tốn, không lý thuyết cầu kỳ, chẳng hiểu được bốn sự thực trong thế giới này là gì. Thế nhưng họ lại có cả một tấm lòng chân thật, biết rót xuống, lẳng lặng và câm nín, những hạt mưa yêu thương và những giọt nước từ bi từ bên trong lòng họ).
3- «Này các tỳ-kheo, vậy thể loại người không nổ vang sấm sét, nhưng cũng không rót xuống một hạt mưa nào là thể loại người như thế nào? Đấy là trường hợp của một người không thấu triệt được Dhamma: [không giải thích được] các bài giảng huấn , […], [không trả lời được các thắc mắc trong] các buổi hỏi-đáp. Người ấy không trông thấy được những gì đang xảy ra trong hiện tại này: «Đây là khổ đau», […], «Đây là cội nguồn của khổ đau», […], «Đây là sự chấm dứt của khổ đau», […], «Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ đau». Họ là thể loại người không nổ vang sấm sét, nhưng cũng không rót xuống một hạt mưa nào. Này các tỳ-kheo, ta bảo bảo với các tỳ-kheo rằng, thể loại người ấy chẳng khác gì với một đám mây giông tố, không nổ vang sấm sét, và cũng chẳng rót xuống một hạt mưa nào.
(Họ là những con người bình dị, chịu đựng, không ý thức được vị trí, thân phận và cả trách nhiệm của mình trong thế giới, họ chỉ đơn giản là những đám mây đen vần vũ, không sấm cũng chẳng mưa. Chẳng những không trông thấy được bốn sự thực trong thế giới này mà họ cũng chẳng rót xuống được trong thế giới này một giọt nước thương yêu hay từ bi nào cả).
4- «Vậy, này các tỳ-kheo, thể loại người vừa nổ vang sấm sét, nhưng cũng vừa rót xuống các cơn mưa, là thể loại người như thế nào? Đấy là trường hợp của một người thấu triệt được Dhamma: [giải thích được] các bài giảng huấn, […], [trả lời được các thắc mắc trong] các buổi hỏi đáp.
Người ấy trông thấy được những gì đang xảy ra trong hiện tại này: «Đây là khổ đau». […], «Đây là cội nguồn của khổ đau», […], «Đây là sự chấm dứt của khổ đau», […], «Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt của khổ đau». Họ là thể loại người nổ vang sấm sét, nhưng cũng vừa rót xuống các cơn mưa. Này các tỳ-kheo, ta bảo với các tỳ-kheo rằng, thể loại người ấy cũng chẳng khác gì với một đám mây giông tố, vừa nổ vang sấm sét, nhưng cũng vừa rót xuống các cơn mưa.
được bốn sự thực trong thế giới và biến sự trông thấy ấy của mình trở thành sấm sét để đánh thức kẻ khác, mang lại sự hiểu biết cho kẻ khác, thế nhưng đồng thời thì họ cũng biết rõ xuống cho kẻ khác và vì kẻ khác, những giọt nước mắt ấm áp của yêu thương) .
«Này các tỳ-kheo, trong thế giới này có bốn thể loại người như thế»
Vài lời ghi chú
Đức Phật không trực tiếp phê phán bất cứ ai, cũng không trực tiếp khuyên bảo chúng ta phải có một thái độ hành xử như thế nào trong thế giới. Ngài chỉ so sánh chúng ta với những đám mây trên bầu trời. Ngài dành cho mỗi người trong chúng ta quyền tự do nhìn vào chính mình để tự đánh giá mình, xem mình thuộc vào thể loại của những đám mây nào.
Cách nay hai-mươi-lăm thế kỷ trong châu thổ sông Hằng có một vị tu hành ôm bình bát bước đi dưới những đám mây đen đầy sấm sét, thế nhưng cũng có những lúc hai vai ướt đẫm những giọt mưa sa. Ngày nay cũng vậy, trên dải đất quê hương và trên khắp mặt địa cầu, vẫn có những đám mây đen vần vũ.
1- Có những đám mây đen nổ vang sấm sét, nhưng không rót xuống một hạt mưa nào.
2- Có những đám mây đen không một tiếng sấm, thế nhưng trong âm thầm và yên lặng, vẫn cứ rót xuống các cơn mưa.
3- Có những đám mây đen không sấm sét, cũng chẳng mưa sa, những đám mây lửng lơ và vô vọng, tan biến đi trong không gian mù mịt.
4- Có những đám mây lóe lên các tia sét xé rách bầu trời, nổ lên các tiếng sấm làm cho con người run sợ, thế nhưng vẫn cứ rót xuống và rót xuống các cơn mưa yêu thương. Vậy chúng ta hãy chắp hai tay, ngước lên bầu trời để chọn cho mình một ước mơ.
Ít nhất thì chúng ta cũng không ước mơ, trên dải đất quê hương và trên khắp mặt địa cầu, có những áng mây đen rót xuống những giọt máu và nước mắt, mà chỉ có những áng mây trắng nhẹ bay rót xuống những niềm hy vọng một địa cầu hiền hòa và nhiều thương yêu hơn.
Đến đây chúng ta hãy trở lại với khung cảnh của quê hương cùng với những gì gần gũi hơn với chúng ta. Chúng ta có ít nhất hai bản dịch của bài giảng này của Đức Phật sang tiếng Việt.
Thế nhưng thật bất ngờ, cả hai bản tiếng Việt đều dịch chữ Valāhaka, tựa bài giảng, là ‘Mây mưa’. Chữ này dễ gây ra hiểu lầm, bởi vì trong tiếng Việt chữ ‘mây mưa’ là một từ ghép, nói lên sự trao đổi tính dục giữa nam và nữ, gợi lên một cách thi vị thú vui xác thịt. Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du có hai câu thơ như sau:
Mây mưa đánh đổ đá vàng,
Quá chiều nên đã chán chường yến anh.
Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều cũng có một câu có chữ mây mưa mang cùng một ý nghĩa như thế:
Bóng gương lấp ló trong mành,
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa.
Dưới đây xin trích dẫn nguyên văn hai bản dịch sang tiếng Việt nói đến trên đây, hầu độc giả có thể tham khảo và tìm hiểu thêm về bài giảng này của Đức Phật:
Phụ lục I (Bản dịch của TT Thích Minh Châu trong Đại Tạng Kinh)
TĂNG CHI BỘ - CHƯƠNG BỐN PHÁP
PHẨM MÂY MƯA
(II) (102) Mây Mưa (2)
1. – Này các Tỷ-kheo, có bốn loại mây mưa này. Thế nào là bốn? Có sấm, không có mưa; có mưa, không có sấm; không có sấm, không có mưa; có sấm và có mưa. Này các Tỷ-kheo, có bốn loại mây mưa này.
2. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người được ví dụ như các loại mây mưa này, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn? Hạng người có sấm, không có mưa; hạng người có mưa, không có sấm; hạng người không có sấm, không có mưa; hạng người có sấm và có mưa.
3. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có sấm, không có mưa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người thuộc lòng Pháp, Khế kinh, Ứng tụng, Ký thuyết, Kệ tụng, Không hỏi tự nói, Như thị thuyết, Bổn sanh, Vị tằng hữu pháp, Quảng thuyết. Vị ấy không như thật quán tri: “Ðây là Khổ”, …”Ðây là Khổ tập”, … “Ðây là Khổ diệt”, … không như thật quán tri: “Ðây là con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có sấm không có mưa. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây có sấm, không có mưa ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.
4. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hạng người có mưa, không có sấm?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không có học thuộc lòng Pháp, như Khế kinh, ứng tụng, … Quảng thuyết. Vị ấy như thật quán tri: “Ðây là Khổ”, …”Ðây là Khổ tập”, … “Ðây là Khổ diệt”, … như thật quán tri: “Ðây là con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có mưa, không có sấm. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây chỉ có mưa, không có sấm ấy. Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.
5. Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người không có sấm và không có mưa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người không học thuộc lòng Pháp như Khế kinh… Quảng thuyết. Vị ấy không như thật quán tri: “Ðây là Khổ”, …”Ðây là Khổ tập”, … “Ðây là Khổ diệt”,… không như thật quán tri: “Ðây là con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người không có sấm, không có mưa. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây không có sấm, không có mưa, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, hạng người này giống như ví dụ ấy.
6. Và này các Tỷ kheo, thế nào là hạng người có sấm và có mưa?
Ở đây, này các Tỷ-kheo, có hạng người học thuộc lòng Pháp như Khế kinh… Quảng thuyết. Người ấy như thật quán tri: “Ðây là Khổ”, …”Ðây là Khổ tập”, … “Ðây là Khổ diệt”… như thật quán tri: “Ðây là con Ðường đưa đến Khổ diệt”. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là hạng người có sấm và có mưa. Ví như, này các Tỷ-kheo, loại mây có sấm và có mưa ấy, Ta nói rằng, này các Tỷ-kheo, người này giống như ví dụ ấy.
Này các Tỷ-kheo, có bốn hạng người giống như các loại mây này có mặt, hiện hữu ở đời.
Phu lục II
(Bản dịch tóm lược và bình giảng của HT Thích Thanh Từ)
(Trích "Nhặt lá bồ đề", Tập 2)
Tăng Chi Bộ, Kinh 4.102
Mây Mưa
Có những người chỉ thích đọc tụng, học tập kinh điển cả ngày mà không dụng công hành trì để thực chứng đạo pháp, cũng như thể có sấm sét mà lại không có mưa, không đạt được lợi ích nào cả...
Trong Tăng Chi Bộ Kinh (AN 4.102), Phật có một thí dụ (tóm tắt):
Ví như trong hư không bỗng có đám mây, có sấm nhưng không mưa.
Cũng trên hư không có mây, không sấm có mưa.
Lại có khi hiện có mây, có sấm có mưa.
Có khi hiện không mây, không sấm không mưa.
Phật hợp pháp:
-- Hiện có mây có sấm không mưa, là dụ cho người nói được không làm được.
-- Hiện có mây không sấm có mưa, dụ cho người không nói được mà làm được.
-- Hiện có mây có sấm có mưa, dụ cho người nói được làm được.
-- Hiện không mây không sấm không mưa, dụ cho người không nói được cũng không làm được.
Trong hàng Sa Môn cũng có bốn:
Bình giảng:
Bài kinh này Phật nêu lên bốn hạng người trong giới xuất gia của Ngài để chúng ta xét lại coi mình thuộc hạng nào.
Nếu thuộc hạng người thứ nhất, thì chỉ có học suông vô bổ, như nói thức ăn mà bụng vẫn đói.
Hạng người thứ hai tuy không thuộc giáo lý nhưng gắng thực hành theo lời Phật dạy, mặc dù không quán triệt được giáo lý nhưng về mặc tự tu, tự độ họ vẫn có phần.
Hạng người thứ ba là hạng người ưu việt nhất, họ thông thuộc giáo lý lại thực hành theo lời Phật dạy, người này đủ điều kiện tự độ và độ tha, tự giác giác tha.
Hạng người rốt sau là hạng người vô phước nhất, đã không thông hiểu kinh điển lại không thực hành. Họ như chiếc xuồng thủng đáy, đẩy xuống nước liền chìm, người này không dự được một chút phần trong Phật pháp.
Vậy chúng ta hãy học theo hạng người thứ ba vừa thông suốt kinh điển, vừa thực hành chơn thật, như thế mới xứng đáng bậc phước điền của Nhân Thiên.
Valāhaka Sutta AN 4.102
Hoang Phong (chuyển ngữ)
Bures-Sur-Yvette, 16.01.26