Người Phật Tử
  • Tin tức
    • Miền Bắc
    • Miền Trung
    • Miền Nam
    • Quốc tế
    • Vesak
    • Xã hội - Tâm linh
    • Thông báo
  • Tu học
    • Tuổi trẻ - Nhật ký
    • Thiền tông
    • Tịnh độ
    • Mật tông
    • Tìm hiểu - Vấn đáp
    • Luận đàm - Giảng kinh
  • Phật pháp
    • Giáo dục
    • Khoa học
    • Đời sống
    • Nhân vật
  • Nghi lễ
    • Nghi lễ tổng hợp
  • Thư viện
    • Phật giáo Việt Nam
    • Bài giảng - Kinh
    • Phim-Nhạc Phật
    • Thơ -Truyện- Sách
  • Văn hóa
    • Phật sử-Tưởng niệm
    • Ngày truyền thống PG
    • Tác phẩm - Nghệ thuật - Đồ hoạ
    • Giáo dục - Nhân vật - Cộng đồng
    • Văn học - Tùy bút
    • Ý kiến - Trao đổi - Dư luận
    • Xuân
  • Hoằng pháp
    • Giới thiệu kinh - sách
    • Hoằng pháp
  • Tự viện
    • Miền bắc
    • Miền trung
    • Miền nam
    • Quốc tế
  • Ẩm thực
    • Lời Phật dạy
    • Tin tức - Ẩm thực chay
    • Thực phẩm - Thức uống
  • Sức khỏe
  • Từ thiện
    • Tin tức
    • Gương điển hình
    • Cần giúp đỡ
  • Giới thiệu
    • Giới thiệu
    • Bồ Tát & Chư Tăng
    • Người Phật Tử
  • Ấn tống - Cúng dường
  • Video
  • Pháp âm

Nên ẩn tu, hay nên vào chợ?

Tác giả Nguyên Giác
05:39 | 02/05/2026 0 bình luận
Thích Facebook
Twitter Linkedin Whatsapp Pinterest Email
nguoiphattu.com Nhìn lại cuộc đời Đức Phật, chúng ta sẽ thấy có lúc Đức Phật lặng lẽ, đơn độc, sống cô tịch, tự lui vào núi độc cư trong một mùa hạ. Ngược lại, có những lúc Đức Phật vào chợ, thọ nhận cúng dường nơi kinh thành, thọ nhận các tự viện được dâng cúng, ra thuyết pháp giữa triều đình cho vị vua này, hay viên quan kia để ngăn chận chiến tranh, nói về luật nhân quả, giải thích về công đức khi giữ giới, cảnh giác về hậu quả đời sau khi phạm giới, về nhiều vấn đề khác.

Chúng ta thỉnh thoảng lại gặp một số cuộc thảo luận, tưởng chừng như rất mới, nhưng thực ra chỉ là các đề tài rất xa xưa. Có một số vị tăng, ni ưa thích vào nơi góc rừng, ven núi để sống lặng lẽ; chư tổ ngày xưa cũng rất nhiều vị làm như thế, và Đức Phật cũng từng khuyên dạy như thế. Mặt khác, có nhiều vị tăng, ni chọn thái độ vào đời, xây chùa, sống giữa phố chợ để tìm cơ duyên thuyết pháp cho chúng sinh; chư tổ ngày xưa cũng có nhiều vị từng làm như thế, và Đức Phật cũng từng khuyên dạy như thế. Hai lựa chọn không trái nghịch nhau, nếu tứ chúng tăng, ni và cư sĩ đều tu trì giới, định, tuệ.

 

nen-an-tu-hay-nen-vao-cho_nguoiphattu_nguyengiac_.jpg

Hình minh họa

 

Một số vị có sức khỏe còn tu theo các hạnh khó làm hơn, thí dụ, hạnh đầu đà, như không nằm mà chỉ ngủ ngồi, như hạnh đi bộ đường dài mà không mang giày dép hay mang dù. Thế rồi, bỗng nhiên, có một ý kiến rằng các nhà sư giữ nhiệm vụ trụ trì các chùa là còn bám chấp vào tài sản, sẽ không thể giác ngộ, sẽ không giải thoát nổi. Thực ra, đó là một ý kiến sai lầm; vì giải thoát là nơi tâm, không có chuyện người tu bị cản trở bởi các bức tường xi-măng vây quanh và mái ngói trên đầu.

Nơi một phân cực sai lầm ngược lại, một số người nói rằng hạnh tu ẩn cư là xa lìa chúng sanh, thiếu tâm từ bi. Cả hai thái cực phê phán đều chệch hướng, vì không phải ai cũng có sức khỏe, khả năng và cơ duyên như nhau. Không nên đưa ra hình ảnh đối nghịch giữa hạnh vào núi với hạnh vào đời, giữa hạnh ở nơi vắng lặng với hạnh ở nơi xôn xao phố chợ. Ngay cả khi ngôi chùa nằm giữa các đường hẻm đầy tiếng nhạc bolero, người ta chỉ có thể nói rằng tiếng đàn hát có âm lượng lớn hơn tiếng tụng kinh, nhưng không ai (trừ Đức Phật) có thể  nói rằng tâm của các vị sư chỉ nghe bất đắc dĩ như thế mà vương bụi.

Nhìn lại cuộc đời Đức Phật, chúng ta sẽ thấy có lúc Đức Phật lặng lẽ, đơn độc, sống cô tịch, tự lui vào núi độc cư trong một mùa hạ. Ngược lại, có những lúc Đức Phật vào chợ, thọ nhận cúng dường nơi kinh thành, thọ nhận các tự viện được dâng cúng, ra thuyết pháp giữa triều đình cho vị vua này, hay viên quan kia để ngăn chận chiến tranh, nói về luật nhân quả, giải thích về công đức khi giữ giới, cảnh giác về hậu quả đời sau khi phạm giới, về nhiều vấn đề khác, cũng như chỉ ra con đường giải thoát. Nghĩa là, Đức Phật sống đủ cả hai hạnh: hạnh vào núi và hạnh vào đời. Hiển nhiên là tùy duyên. Đức Phật đúng là ngàn tay, ngàn mắt.

Phần lớn trong kinh, Đức Phật thường khuyến tấn hạnh ẩn cư để tu trì, bởi vì nếu tâm còn chưa an, thì làm sao mà giúp an cho người khác được. Trong Kinh Tập có Kinh Snp 1.3 Sutta, một bài kinh thời kỳ đầu, khi Đức Phật nói Kinh hầu hết là thơ, có hình ảnh dễ nhớ nhất là con tê giác một sừng, ưa đơn độc, lặng lẽ vào rừng, tránh xa đám đông, với những câu như:

Như con nai hoang tự do giữa rừng sâu,

muốn gặm cỏ ở đâu tùy thích,

người trí tuệ đang tìm cầu giải thoát cũng sẽ

sống đơn độc như tê giác một sừng.

Thực tế, không phải ai vào núi cô tịch là sẽ giải thoát. Thêm nữa, tăng ni là phước điền cho chúng sinh, tại sao lại biến mất vào nơi núi vắng, rừng sâu. Đức Phật cũng từng khuyên rằng tăng, ni hãy định cư gần phố chợ. Trong Tứ Phần Luật, Phẩm Phòng Xá (Sayanāsana Khandhaka: Dg Kd 19), Đức Phật dạy, theo bản dịch của hai Thầy Thích Đỗng Minh, Thích Đức Thắng có kể chuyện Vua Bình Sa bạch Phật: «Bạch Đại đức, con xin dâng cúng Ca-lan-đà Trúc viên này lên đức Phật và bốn phương Tăng. Xin Thế Tôn và bốn phương Tăng dũ lòng thương vì con mà thâu nhận.» Nghe vậy, Đức Phật đáp bằng bài kệ:

Cúng vườn và cây trái,

Cầu đò đưa rước người.

Đường dài thí giếng nước,

Và phòng nhà để ở.

Những người cúng như vậy,

Ngày đêm phước càng thêm.

Người trì giới vui pháp,

Sẽ được sanh đường lành. (1)

Nghĩa là, Đức Phật khuyến tấn chư tăng ni hãy định cư, hãy sống gần xóm làng, hãy tạo cơ hội cho cư sĩ cúng dường phòng xá. Tại sao hơn hai thiên niên kỷ sau lại có ai có ý kiến nói rằng các vị trụ trì sẽ không thể giải thoát?

Vào đời, hãy tới với người đời, hãy nói Pháp cho chúng sinh nghe... Đức Phật cũng đã yêu cầu 60 vị A la hán đầu tiên hãy vào nơi phố chợ xôn xao để hoằng pháp như thế, và đích thân Ngài cũng chọn đi một phương (tới Uruvelà) để thuyết pháp. Trong Kinh SN 4.5, bản dịch của Thầy Minh Châu, Thế Tôn đã nói như sau:

“Này các Tỷ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, các Ông cũng được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỷ-kheo, hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa, có văn. Hãy tuyên thuyết Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Có các chúng sanh sanh ra ít nhiễm bụi đời, nếu không được nghe pháp sẽ đi đến hoại diệt. Họ sẽ trở thành những vị thâm hiểu Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ đi đến Uruvelà, thị trấn Senà để thuyết pháp.”(2)

Cũng nên ghi nhận rằng hai người Phật tử đầu tiên của đất nước Việt Nam – Chử Đồng Tử và vợ là Công chúa Tiên Dung - có vẻ như là những người Phật Giáo Dấn Thân, theo cách nhìn hiện nay. Câu chuyện người Phật tử Việt Nam đầu tiên tóm tắt như sau.

Dưới triều vua Hùng Vương thứ 18, Chử Đồng Tử sống cùng cha trong cảnh nghèo khó sau khi ngôi nhà của họ bị hỏa hoạn thiêu rụi. Khi cha qua đời, Chử Đồng Tử đã quên mình, dùng chiếc khố duy nhất của hai cha con để lo hậu sự cho cha, rồi một mình đương đầu với những gian khổ trong cuộc sống. Tiên Dung – con gái nhà vua – vốn ưa thích sự tĩnh mịch; một ngày nọ, nàng tình cờ phát hiện ra Chử Đồng Tử núp dưới cát khi nàng đang tắm. Cảm mến trước phẩm cách của chàng, nàng đã xin được kết duyên cùng chàng. Không hài lòng trước việc này, nhà vua đã cấm nàng trở về cung điện; buộc lòng, đôi vợ chồng trẻ phải lập nên chợ Hà Thám và gây dựng nên một cơ nghiệp buôn bán phát đạt. Sau đó, Chử Đồng Tử theo khách buôn đi khắp ngược xuôi. Một hôm qua ngọn núi giữa biển tên Quỳnh Viên sơn, (nay là núi Nam Giới thuộc Thạch Hà, Hà Tĩnh), Chử Đồng Tử trèo lên am và gặp một tăng sĩ tên Phật Quang (được các học giả suy đoán là từ Ấn Độ tới). Chử Đồng Tử bèn giao tiền cho khách buôn đi mua hàng, còn mình thì ở lại học đạo và được truyền thụ những bảo vật mang phép thuật.

Về nhà, Chử Đồng Tử truyền pháp yếu lại cho vợ. Tiên Dung giác ngộ bèn bỏ việc buôn bán, cùng chồng chu du tìm thầy học đạo. Một hôm tối trời, đã mệt mà không có hàng quán ven đường, hai vợ chồng dừng lại cắm gậy úp nón lên trên cùng nghỉ. Bỗng nửa đêm, chỗ đó nổi dậy thành quách, cung vàng điện ngọc sung túc, người hầu lính tráng, văn võ bá quan lẫn tiên đồng ngọc nữ đều sẵn sàng để hầu hạ. Sáng hôm sau, dân chúng quanh vùng kinh ngạc bèn dâng hương hoa quả ngọt đến xin làm bầy tôi. Từ đấy chỗ đó phồn thịnh, sung túc như một nước riêng. Tuy nhiên, nhà vua lại coi đây là hành động mưu phản và đã phái quân đội đến trấn áp. Thay vì chống lại phụ vương, Tiên Dung vẫn giữ thái độ ôn hòa; thế nhưng, vào lúc nửa đêm, một cơn bão lớn đã cuốn bổng tòa thành của họ bay lên trời cao.

Đó là hình ảnh theo thứ tự: học Phật, về giữa đời sống để cùng người dân xây dựng thành quách trù phú, không ưa binh lửa, khi thấy phải ra đi thì buông hết để ra đi. Đời người Phật tử như Chử Đồng Tử và Tiên Dung hiển nhiên là một gương mẫu cho hạnh tu của cư sĩ. Như thế, truyền thống Phật Giáo Việt Nam có phải là Phật Giáo Dấn Thân, nếu chúng ta nói theo ngôn phong của thời hiện nay?

Các học giả Tây Phương thường nhìn Phật Giáo Dấn Thân (Engaged Buddhism) như là một khái niệm chỉ mới hình thành trong thập niên 1960s. Thực tế hạnh vào đời đã nằm sâu trong lời Đức Phật dạy từ rất xa xưa, và đã nằm trong cội nguồn Phật Giáo Việt Nam. Lịch sử cho biết, vị Thiền sư Việt Nam đầu tiên là ngài Cao tăng Khương Tăng Hội (người Việt gốc Ấn, sinh tại Giao Châu) có công truyền bá đạo Phật và được xem là người đặt nền móng cho Phật giáo Việt Nam, từng truyền đạo cho Ngô Quyền. Hiển nhiên, đó là hình ảnh một ngài Khương Tăng Hội xông xáo vào đời, chứ không phải là một vị sư ngồi ẩn cư nơi rừng vắng hay chỉ lang thang khất thực giữa chợ.

Trong khi đó, Quốc sư đầu tiên là Đại sư Khuông Việt (933-1011), người được xem là vị Tăng thống/Quốc sư đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Chưa thấy học giả nào thắc mắc rằng vì sao ngài Khuông Việt không chịu vào góc núi hay tới ven rừng mà ngồi.

Tương tự, rất nhiều vua quan đời nhà Trần  vừa là Thiền sư, vừa cầm binh đánh trận... Nếu không có các ngài, lịch sử nước Việt hẳn là có các lối đi rất khác. Tuy nhiên, thời của các ngài, chưa có khái niệm Phật Giáo Dấn Thân, hiểu theo định nghĩa từ Wikipedia tiếng Anh, trích theo mục từ Engaged Buddhism, nơi đây chúng ta dịch là:

“Phật giáo Dấn thân (Engaged Buddhism)—còn được gọi là Phật giáo dấn thân xã hội (socially engaged Buddhism)—là một phong trào xã hội Phật giáo xuất hiện tại châu Á vào thế kỷ 20. Phong trào này quy tụ những người Phật tử mong muốn vận dụng các khuôn thước đạo đức Phật giáo, những tuệ giác sở đắc được từ việc thực hành thiền định, cùng các giáo lý nhà Phật vào việc giải quyết những vấn đề đương đại liên quan đến khổ đau và bất công trong các lĩnh vực xã hội, chính trị, môi trường và kinh tế.

Hình thái Phật giáo dấn thân hiện đại đã khởi nguồn tại Việt Nam vào thập niên 1950s, dựa trên những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh. Phong trào này sau đó được phổ biến rộng rãi nhờ công của B. R. Ambedkar—một học giả luật, chính trị gia kiêm nhà cải cách xã hội người Ấn Độ—người đã khơi dậy phong trào Phật giáo trong cộng đồng Dalit vào thập niên 1950s. Kể từ đó, phong trào này đã lan tỏa sang khu vực tiểu lục địa Ấn Độ và các nước phương Tây.

Trong suốt thập niên 1960s, các thuật ngữ "Phật giáo dấn thân" và "Phật giáo dấn thân xã hội" đã được các mạng lưới Phật tử (vốn có sự liên kết lỏng lẻo) tại cả châu Á lẫn phương Tây tiếp nhận nhằm mô tả việc họ vận dụng các giá trị và chuẩn mực đạo đức Phật giáo vào các hoạt động xã hội và chính trị tích cực. Các hoạt động này bao gồm một loạt các hành động xã hội và chính trị bất bạo động, chẳng hạn như kiến ​​tạo hòa bình, thúc đẩy nhân quyền, bảo vệ môi trường, phát triển nông thôn, ngăn chặn bạo lực sắc tộc, phản đối chiến tranh và ủng hộ quyền phụ nữ. Cùng với đà toàn cầu hóa và những bước tiến vượt bậc của công nghệ, các tổ chức và nỗ lực thuộc phong trào Phật giáo dấn thân đã và đang lan tỏa rộng khắp trên toàn cầu...” (3)

Chúng ta phải nghi ngờ về mức độ chính xác của bài viết trên Wikipedia, bởi vì có những người đi trước Thầy Nhất Hạnh trong sự nghiệp đưa Phật Giáo vào giữa cuộc đời (chỉ kể trong thế kỷ 20), thí dụ như ngài Tâm Minh Lê Đình Thám (1897-1969), và ngài Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha (1902-1954) là hai cột trụ Bồ Tát của thế kỷ vừa qua.

Tuy nhiên, dù là tăng, ni hay cư sĩ, chúng ta cần phải cân nhắc khi chọn nơi rừng vắng, hay chọn nơi phố chợ. Không phải chỗ nào chúng ta cũng có thể kham nhẫn để tự độ và độ tha. Trong Kinh AN 9.6, Đức Phật dạy về cách chọn nơi thích hợp, theo bản dịch của Thầy Minh Châu, trích:

“Làng, thị trấn, này chư Hiền, cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến và không cần được tìm đến đã được nói đến như vậy. Do duyên gì được nói đến? Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: “Nếu ta tìm đến làng, thị trấn này, các pháp bất thiện tăng trưởng, các pháp thiện đoạn giảm; làng và thị trấn như vậy không nên được tìm đến”. Ở đây, sau khi biết được về làng, thị trấn như sau: “Nếu ta tìm đến làng, thị trấn, các pháp bất thiện đoạn giảm, các pháp thiện tăng trưởng; làng, thị trấn như vậy cần được tìm đến”. Này chư Hiền, làng, thị trấn cần phải được hiểu biết theo hai phương diện: cần được tìm đến hay không cần được tìm đến, được nói đến như vậy, do duyên này được nói đến.” (4)

Đức Phật dạy kỹ càng như thế, nghĩa là không nên xem nhẹ bất kỳ hạnh tu nào. Lựa chọn hạnh ẩn tu, hay hạnh trụ trì tự viện nơi phố chợ đều có thể thích hợp, nếu các pháp thiện tăng trưởng. Riêng phần người cư sĩ, chúng ta không nên riêng quý người tu nơi hạnh này mà xem nhẹ người tu nơi hạnh kia.   Và Đức Phật dạy rõ ràng như thế, cúng dường cho người ẩn tu nơi rừng vắng, cho người giữ hạnh đầu đà ưa du hành, hay cho các vị trụ trì các tự viện nơi phố chợ đều có những công đức lớn vô cùng.

Tất cả các hạnh tu nêu trên đều là những truyền thống được giữ gìn trong tất cả các khuynh hướng Phật giáo toàn cầu – dù là Nam Tông, Bắc Tông hay Kim Cang Thừa (Phật giáo Tây Tạng). Đức Phật đã cho chúng ta một bữa tiệc rất đa dạng, và mỗi người chúng ta không thể nào đi hết trọn một vòng bàn tiệc.

Hãy biết ơn vì đã gặp Phật pháp trong kiếp này. Hãy trân quý đại cơ duyên này bằng cách tu học trong từng khoảnh khắc còn sống trong cõi này. Hãy cúng dường trong mọi cách có thể cho Tam Bảo. Và hãy biết ơn tất cả những vị đang tu và đang hoằng pháp trong cách riêng của họ, dù là các vị đang ẩn tu nơi cô tịch, hay đang vào giữa chợ để gánh vác Phật sự.

Nguyên Giác - Thư viện Hoa Sen

GHI CHÚ:

(1) Tứ phần luật: https://suttacentral.net/lzh-dg-kd19/vi/dong-thang 

(2) Kinh SN 4.5: https://suttacentral.net/sn4.5/vi/minh_chau

(3) Wikipedia, Engaged Buddhism: https://en.wikipedia.org/wiki/Engaged_Buddhism

(4) Kinh AN 9.6: https://suttacentral.net/an9.6/vi/minh_chau

 

 

 

nên ẩn tu hay nên vào chợ thiền sư khương tăng hội thiền sư khuông việt chử đồng tử tiên dung hạnh đầu đà tu ở đâu có nên ẩn tu không tu giữa phố chợ tu hành như thế nào người xuất gia tỳ kheo Người Phật tử

Viết bình luận

Lưu ý : Các ý kiến viết bằng ngoại ngữ, tiếng Việt không dấu hoặc có tính chất quảng cáo sẽ không được đăng.
Cám ơn sự đóng góp và quan tâm của quý vị.

TIN LIÊN QUAN

Mối quan hệ thầy trò theo tinh thần Chánh pháp

Mối quan hệ thầy trò theo tinh thần Chánh pháp

Sự lừa dối trong tôn giáo là sự lừa dối đưa tới sự đau khổ khốc liệt nhất

Sự lừa dối trong tôn giáo là sự lừa dối đưa tới sự đau khổ khốc liệt nhất

Trách nhiệm xã hội của người cư sĩ trong thời đại mới

Trách nhiệm xã hội của người cư sĩ trong thời đại mới

Buông nhẹ giữa vô thường

Buông nhẹ giữa vô thường

Xá lợi quý nhất của Đức Phật là gì?

Xá lợi quý nhất của Đức Phật là gì?

Bảo vệ Chánh Pháp không sân hận – phước báu lớn lao của người con Phật

Bảo vệ Chánh Pháp không sân hận – phước báu lớn lao của người con Phật

Những quan điểm làm nghề kinh doanh trong Đạo Phật*

Những quan điểm làm nghề kinh doanh trong Đạo Phật*

Tam Tạng Kinh – Từ Nguyên thủy đến Đại thừa

Tam Tạng Kinh – Từ Nguyên thủy đến Đại thừa

Trí tuệ nhân tạo có Phật tánh không?

Trí tuệ nhân tạo có Phật tánh không?

Vì sao Gia đình Phật tử không phát triển ra miền Bắc Việt Nam sau năm 1975?

Vì sao Gia đình Phật tử không phát triển ra miền Bắc Việt Nam sau năm 1975?

Người Hy Lạp cổ đại đã tiếp cận và truyền bá đạo Phật như thế nào?

Người Hy Lạp cổ đại đã tiếp cận và truyền bá đạo Phật như thế nào?

Lược khảo tư liệu Chánh pháp Nhãn Tạng Thiền phái Lâm Tế tại Khánh Hòa

Lược khảo tư liệu Chánh pháp Nhãn Tạng Thiền phái Lâm Tế tại Khánh Hòa

Bài viết xem nhiều

Đêm xuất gia

Đêm xuất gia

Bốn hạng người hoảng loạn trước cái chết theo giáo lý Phật giáo

Bốn hạng người hoảng loạn trước cái chết theo giáo lý Phật giáo

Góc nhìn về tham sân si và thái độ thiền trong Phật giáo

Góc nhìn về tham sân si và thái độ thiền trong Phật giáo

Sự lừa dối trong tôn giáo là sự lừa dối đưa tới sự đau khổ khốc liệt nhất

Sự lừa dối trong tôn giáo là sự lừa dối đưa tới sự đau khổ khốc liệt nhất

Xá lợi quý nhất của Đức Phật là gì?

Xá lợi quý nhất của Đức Phật là gì?

Loạn cùng phép lạ AI

Loạn cùng phép lạ AI

Khi nhân quả bị biến dạng và trở thành công cụ 'dọa'

Khi nhân quả bị biến dạng và trở thành công cụ 'dọa'

Ý nghĩa cốt lõi của năm giới và sự bình an của bản thân

Ý nghĩa cốt lõi của năm giới và sự bình an của bản thân

  • Tin tức
  • Miền Bắc
  • Miền Trung
  • Miền Nam
  • Quốc tế
  • Vesak
  • Xã hội - Tâm linh
  • Thông báo
  • Tu học
  • Tuổi trẻ - Nhật ký
  • Thiền tông
  • Tịnh độ
  • Mật tông
  • Tìm hiểu - Vấn đáp
  • Luận đàm - Giảng kinh
  • Phật pháp
  • Sự kiện - Vấn đề
  • Giáo dục
  • Khoa học
  • Đời sống
  • Nhân vật
  • Nghi lễ
  • Nghi lễ tổng hợp
  • Thư viện
  • Phật giáo Việt Nam
  • Bài giảng - Kinh
  • Phim-Nhạc Phật
  • Thơ -Truyện- Sách
  • Văn hóa
  • Phật sử-Tưởng niệm
  • Ngày truyền thống PG
  • Tác phẩm - Nghệ thuật - Đồ hoạ
  • Giáo dục - Nhân vật - Cộng đồng
  • Văn học - Tùy bút
  • Ý kiến - Trao đổi - Dư luận
  • Xuân
  • Hoằng pháp
  • Giới thiệu kinh - sách
  • Hoằng pháp
  • Tự viện
  • Miền bắc
  • Miền trung
  • Miền nam
  • Quốc tế
  • Ẩm thực
  • Lời Phật dạy
  • Tin tức - Ẩm thực chay
  • Thực phẩm - Thức uống
  • Từ thiện
  • Tin tức
  • Gương điển hình
  • Cần giúp đỡ
  • Trang chủ
  • Giới thiệu
  • Facbook
  • Youtube
  • Twitter
  • Copyright NGUOIPHATTU.VN
Thời gian truy vấn : 0.1562367 s