Các Phật tử, dù Nam Tông hay Bắc Tông, đều biết ngũ giới, tam quy. Đó là hai chuyện gần như bắt

buộc phải biết nếu là Phật tử. Có điều, theo nhận xét của tôi, không mấy người hiểu tới nơi tới chốn ngũ giới. Có người nghĩ là giữ giới cho có phước, có người nghĩ giữ năm giới cho bớt tội lỗi, có người kết hợp cả hai, vừa bớt tội vừa thêm phước.
Thật ra còn khía cạnh thứ ba rất là quan trọng, theo nhận xét của tôi, có lẽ không nhiều Phật tử quan tâm đến khía cạnh thứ ba đó, là: nếu mình có được những thiện pháp như tín, tấn, niệm, định, tuệ; nói rộng thêm là kham nhẫn, hành xả, từ bi; nói dài dòng là 25 Tịnh hảo; nếu có được những thiện pháp đó trong lòng mình thì chuyện giữ năm giới là chuyện rất tự nhiên. Giống như có trồng hoa thì thấy đẹp, thấy thơm.
Năm giới chỉ là một phần nhỏ xíu được toát ra từ một con người có hàm dưỡng. Không thể tách rời năm giới và tâm tư người Phật tử được. Ví dụ như người có văn hóa, có giáo dục là người cư xử, ăn nói phải phép. Ăn nói phải phép, cư xử phải phép chỉ là một phần toát ra từ một con người có giáo dục; ngoài hai chuyện đó thì còn bao nhiêu tính cách tốt đẹp khác nữa ở người có giáo dục.
Năm giới cũng vậy, chỉ là một phần nhỏ xíu ở con người có hàm dưỡng. Ví dụ, không sát sanh không phải chỉ là vì sợ tội, mà vì thương chúng sinh khác. Ai cũng sợ chết, không lý nào mình đi lấy mạng chúng sinh khác. Hơn nữa, một người có từ bi, hiểu đạo thì họ không thể tìm ra được lý do nào để giết người khác, dù giết để ăn, để tiêu khiển hay là trò thể thao. Chỉ riêng giới sát sanh thôi cũng đã thấy rõ ràng: đó là một phần nhỏ được toát ra từ một tâm hồn hiểu chuyện, có hàm dưỡng.
Và một điều nữa: vạn vật trong vũ trụ này hiện hữu và vận hành trên mặt phẳng của những nguyên tắc, trật tự. Nhìn vào, nếu không suy tư, không biết Phật pháp, mình nghĩ rằng mọi thứ có thể là sự ngẫu nhiên và thích làm gì thì làm. Mọi sự tuy thấy xô bồ, nhưng thật ra chúng đang tồn tại trong trật tự. Một khi mình làm điều gì mang tính tiêu cực (sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, đâm thọc, uống rượu…) thì mình đã can thiệp vào trật tự vốn có của vạn vật.
Thí dụ, như con vật đó đang sống, nó đang đi theo trật tự do nghiệp của nó và nghiệp của những chúng sinh khác; sự có mặt của nó trong bối cảnh thiên nhiên đó là một phần đóng góp. Nếu như mình cho chim ở hoặc cho chim ăn thì mình cũng can thiệp, nhưng theo hướng tích cực. Khi mình sát sanh là mình can thiệp một cách tiêu cực vào dòng chảy của vạn hữu.
Chúng ta sống ở đời có hai cách can thiệp: tiêu cực và tích cực. Một người Phật tử thấy điều này thì không thể nào hành động tầm bậy được. Một người giữ được năm giới thì họ đã có đóng góp rất lớn cho thế giới.
Nếu như một buổi chiều vắng, một đêm khuya, mình có mặt trên con đường làng, nơi ven đồi, một bìa rừng mà yên tâm, thanh thản bước đi an toàn, không sợ hãi thì quá tốt. Đàng này, chính sự có mặt của những con người xấu khiến cho những nơi này không còn an toàn nữa. Rõ ràng, chúng ta đã mất đi một phần của thế giới.
Nói như vậy có nghĩa là khi anh là một người tốt, chẳng những bản thân anh tốt mà còn ảnh hưởng đến cả thế giới nữa. Khi mỗi cá nhân không có tật cướp giật, cưỡng bức người có tiền, cưỡng bức phụ nữ, người già, thì xã hội thanh bình, an toàn hơn; những con đường làng ven đồi, ven rừng sẽ đẹp biết chừng nào.
Khi mình sống bất thiện thì bản thân mình là một thùng rác, mà thùng rác này còn có sự lan tỏa ra xung quanh. Ai đi du lịch thì biết, có những quốc gia người ta khuyến cáo có những đoạn đường không an toàn, vì ở đó có sự hiện diện của những con người không có năm giới. Vì vậy, khi anh có năm giới thì anh không có thù hận, không gieo rắc sự sợ hãi cho người khác.
Đức Phật dạy có ba sự bố thí: tài thí (chia sẻ tài sản), pháp thí (chia sẻ Phật pháp) và vô úy thí. Vô úy thí là sống như thế nào để đem lại sự yên tâm, không sợ hãi cho người khác. Khi sát sanh là mình đang can thiệp một cách thô bạo vào dòng chảy trật tự vốn có của thế giới.
Người ta đang có đực cái, trống mái, có cha có mẹ, có anh có em, đùng một cái bị giết chết. Nếu con chim mẹ bị giết thì những chim con sống với ai, trong đêm tối mùa đông ai sưởi ấm cho những con chim nhỏ này? Can thiệp một cách thô bạo vào chúng sinh khác là đang can thiệp vào dòng chảy của thế giới. Vì vậy, người có năm giới là người sống hòa bình và sống có đóng góp.
(Bài giảng kinh Năm sợ hãi hận thù – S.ii, 68)
Thiện pháp giống như loài hoa quý, không chăm sóc thì chết sạch. Ác pháp như cỏ dại, dù có mong manh nhưng có thể tự phát triển ngon lành.
Thiện pháp cần đến bốn nhân tố mới có được: bối cảnh, thầy bạn, lắng nghe, hành trì.
1. Bối cảnh (patirupadesavasa): trú xứ thích hợp. Có những bối cảnh rất khó có cơ hội thiện tâm, như ở Trung Quốc, con nít mới vừa thôi bú đã thuộc lòng câu: “Thành thật thiệt thà thường thua thiệt, lọc lừa lươn lẹo lại lên lương.”
2. Thầy bạn (sappurisasamvasa): sống gần người lành. Thầy bạn là người hơn mình là thầy, ngang mình là bạn. Thầy bạn rất là quan trọng.
3. Thính pháp (dhammassavana): lắng nghe.
4. Hành trì (dhammanudhammapatipatti).
Đó là bốn điều kiện để có được thiện pháp. Cái ác thì dễ hơn nhiều, vì nhìn đâu cũng thấy người ác, điều kiện làm ác, sống ác, nói ác, nghĩ ác. Đời sống của mình là khổ; kiểu sống của phàm phu là tạo khổ, đầu tư nỗi khổ niềm đau. Đầu tư bằng cách thả rông sáu căn cho tiếp xúc thoải mái với sáu trần. Từ đó có sáu ái, tứ thủ, nghiệp hữu và tái sinh. Đó là vòng tròn Duyên khởi.
(Bài giảng kinh Khổ – S.ii, 71 và Thế Giới – S.ii, 73)
Thật ra, toàn bộ Phật pháp chỉ nằm trong bài kinh này, nói vậy cũng không sai, bởi cốt lõi của đời sống chỉ là sự hoạt động của sáu căn. Người không biết đạo, không hành đạo thì để mặc sáu căn làm việc với tâm bất thiện. Người biết đạo, hiểu đạo, hành đạo và chứng đạo thì không để phiền não xuất hiện qua sáu căn.
Dù là giáo hoàng, kỹ nữ, tổng thống, ăn mày, thầy chùa hay linh mục, hễ sống ở đời này thì đời sống của họ chỉ là sự hoạt động của sáu căn. Người không biết đạo thì để sáu căn chạy theo cái mình thích và chối bỏ cái mình ghét, sợ; cứ như vậy mà trầm luân sinh tử. Còn người biết đạo thì khi sáu căn làm việc, họ làm việc với chánh niệm và trí tuệ.
Chánh niệm là biết rõ cái gì đang xảy ra; trí tuệ là hiểu rõ bản chất của những thứ đang xảy ra. Ví dụ, tôi đang đi, tôi biết rõ tôi đang đi (đó là niệm); tôi biết rõ danh sắc đang tương tác lẫn nhau (đó là trí).
Sáng hôm qua, tôi giống như giác ngộ vậy. Tôi đặt tên là “instant noodle satori”. Satori tiếng Nhật là giác ngộ, chỉ cho hoát nhiên đại ngộ. Tôi đi nấu nước pha gói mì, tôi ăn mà nhận ra một chân lý rất là cao siêu: có nhiều người theo đạo mà làm biếng học, cho nên họ chỉ ăn “mì gói” của tăng ni ban cho họ.
Mì gói nghĩa là người ta nêm nếm sẵn; dù thích hay không thích vẫn phải dùng mì đó, mùi đó, gia vị đó, vì bột nêm người ta làm sẵn. Muốn ăn mùi vị theo ý mình thì phải tự nấu, phải mua thức ăn ngoài chợ, tự pha chế nêm nếm. Còn nếu làm biếng quá sức thì chỉ có một cách là nấu mì gói: có liền, không nhọc công, nhưng cái bậy của nó là độc, và phải chấp nhận mùi vị của người ta làm sẵn cho mình.
Và cái này là kinh nghiệm bằng vàng; quý vị trả vàng ký cho tôi để mua lấy câu nói này:
“Đời sống là ngắn ngủi, ngắn đến mức dễ sợ. Muốn thấy đời sống lâu dài hơn một chút, chỉ có cách sống thiện; vì thiện khó sống, nên khi sống khổ sẽ thấy nó lâu.”
Không tin thì hành thiền đi, để đồng hồ 15–20 phút sẽ thấy lâu vô cùng. Thử hành thiền, học thuộc một đoạn Pāḷi, hay quét chùa, rửa chén, chùi cầu, hốt rác… thì sẽ thấy lâu.
(Bài giảng kinh Ñātika – S.ii, 84)
Bài giảng ngày 4/12/2014, Phẩm Gia Chủ, Tương Ưng Nhân Duyên, Tương Ưng Bộ Kinh
TK Giác Nguyên giảng – Nhị Tường ghi chép
*Tựa đề do Người Phật tử đặt