;
Quyển II
Sự quán thấy của Đức Phật về sự vận hành của thế giới (Bài 8)

2 Một nền giáo huấn sai lầm có thể gây trở ngại cho việc tu tập
Có một vấn đề hệ trọng hơn nhiều so với các vấn đề đã được nêu lên cho đến đây: đấy là sự kiện paticcasamuppāda ngày nay bị giảng dạy sai lầm so với Kinh điển nòng cốt bằng tiếng Pali, là những lời giảng của Đức Phật xuất hiện trong các bài thuyết giảng nguyên thủy. Kinh điển Pali nêu lên một thứ, giáo huấn ngày nay lại nêu lên một thứ khác.
Sự khác biệt là theo kinh điển Pali thì nguyên lý tương liên là một chuỗi liên kết gồm mười-một ‘sự kiện’ hay ‘điều kiện’ [cần thiết] tạo ra một vòng quay trọn vẹn của chiếc bánh xe, trong khi đó thì ngày nay người ta lại giảng rằng mười-một sự kiện trải rộng trong ba kiếp sống: kiếp sống quá khứ, kiếp sống hiện tại và kiếp sống tương lai. Thế nhưng, theo cách hiểu đó (nguyên lý tương liên trải rộng trong ba kiếp sống), thì không thể nào mang nguyên lý tương liên ấy ra để mà thực hành (tu tập, ứng dụng) [trong thời điểm hiện tại] được.
Theo các văn bản nguyên thủy (kinh điển bằng tiếng Pali) thì mười-một điều kiện [cần thiết] cùng nối kết với nhau tạo ra chuỗi diễn tiến của nguyên lý tương liên, mỗi khi có một sự ô nhiễm (một tác ý, một xúc cảm, một sự diễn đạt hay hình dung nào đó) dấy lên trong tâm thức chúng ta. Đấy là lý do cho thấy điều đó (nguyên lý tương liên) không bắt buộc là phải bao trùm toàn bộ cả ba kiếp sống, hoặc kể cả trong một kiếp sống, trong một tháng hay một ngày cũng vậy.
Một chu kỳ trọn vẹn của nguyên lý tương liên cùng tất cả mọi thứ khổ đau mà nó kéo theo với nó có thể xảy ra trong một chớp mắt. Nếu hiểu không đúng chủ thuyết tương liên, thì chẳng lợi ích gì, mà chỉ là cách bày ra những cuộc tranh luận tầm phào mà thôi.
Thế nhưng khi chủ thuyết đó được hiểu một cách đúng đắn, đúng theo Kinh điển nòng cốt bằng tiếng Pali, thì nó sẽ trở nên vô cùng hữu ích, bởi vì nó trực tiếp liên hệ đến những gì xảy ra tức khắc trong cuộc sống thường nhật của chúng ta. Chính vì lý do đó nên tôi mong rằng quý vị hãy chú tâm theo dõi những điều tiếp theo dưới đây:
Điều trước tiên là cần phải hiểu thật đúng đắn về mười-một khoen của chuỗi nối kết, hay các giai đoạn nối kết nhau trên dòng nguyên nhân và hậu quả. Các nguyên nhân ấy như sau:
(1) Với sự u mê (vô minh) như là (với tư cách là) điều kiện [cần thiết], thì các sự tạo tác tâm thần phát sinh;
(2) Với các sự tạo tác tâm thần như là điểu kiện [cần thiết], thì tri thức giác cảm phát sinh;
(3) Với tri thức giác cảm như là điều kiện [cần thiết], thì các hiện tượng tâm thần và vật lý phát sinh;
(4) Với các hiện tượng tâm thần và vật lý như là điều kiện [cần thiết], thì sáu cơ sở giác cảm phát sinh;
(5) Với sáu cơ sở giác cảm như là điều kiện [cần thiết, thì các cảm giác của ngũ giác và trong tâm thần phát sinh;
(6) Với sự cảm nhận giác cảm và tâm thần như là điều kiện [cần thiết], thì sự cảm nhận (sự nhận biết) phát sinh;
(7) Với sự cảm nhận như là điều kiện [cần thiết], thì sự thèm khát thích thú phát sinh;
(8) Với sự thèm khát thích thú như là điều kiện [cần thiết], thì sự bám víu phát sinh;
(9) Với sự bám víu như là điều kiện [cần thiết], thì quá trình hình thành phát sinh;
(10) Với quá trình hình thành như là điều kiện [cần thiết], thì sự sinh phát sinh;
(11) Với sự sinh như là điều kiện [cần thiết], thì sự già nua, cái chết, cùng các sự lo buồn, ta thán, đớn đau, khổ nhọc và bất hạnh phát sinh.
Đấy là cách sinh ra cái khối khổ đau (sự hiện hữu của một cá thể).
Quý vị hãy đếm các thứ ấy để tự mình nhận thấy sự lôi cuốn của mười-một điều kiện [cần thiết] hay mười-một sự kiện diễn tiến trong nguyên lý tương liên. Khi mười-một điều kiện [cần thiết] hội đủ thì sẽ tạo ra một chu kỳ trọn vẹn của paticcasamuppāda.
Quý vị sẽ nhận thấy mười-một giai đoạn nối kết với nhau, không có một sự tách biệt hay phân tách nào giữa các giai đoạn [diễn tiến] ấy, điều đó có nghĩa là không cần phải quy định hai điều kiện [cần thiết] đầu tiên thuộc vào kiếp sống quá khứ, tám điều kiện [cần thiết] tiếp theo thuộc vào kiếp sống hiện tại, và phần cuối cuối cùng (tức là điều kiện cần thiết thứ mười-một) của chuỗi níu kéo thuộc vào kiếp sống tương lai, theo như cách hiểu theo đó một chu kỳ tương liên trải rộng ra trong ba kiếp sống.
Nếu cách giải thích ấy (chu kỳ tương liên gồm ba kiếp sống) là đúng, thì chúng ta nào có thể làm được gì? Chúng ta nào biết được là phải làm như thế nào để thoát ra khỏi chu kỳ [tương liên] đó? Phải làm như thế nào để cắt đứt chuỗi níu kéo của khổ đau, khi mà nguyên nhân thuộc vào một kiếp sống, trong khi đó hậu quả thì lại thuộc vào một kiếp sống khác? Ngày nay, chúng ta không rút tỉa được một chút lợi ích nào cả, chẳng qua là vì chủ thuyết đó được hiểu và được giảng dạy một cách sai lầm khi cho rằng một chu kỳ [tương liên] bao trùm cả ba kiếp sống.
Nếu quý vị nghiên cứu các văn bản (các bài giảng) trong Kinh điển nòng cốt bằng tiếng Pali, thì tất quý vị sẽ nhận thấy không đúng là như thế (một chu kỳ tương liên không trải rộng xuyên qua ba kiếp sống). Chờ đợi trải qua ba kiếp sống để hoàn tất một chu kỳ tương liên [hầu có thể mang lại cho mình kết quả tu tập] là một chuyện vô ích: trong một khoảnh khắc duy nhất cũng có thể diễn ra toàn bộ bánh xe paticcasamuppāda.
Hoặc cũng có thể hoàn tất được hai hay ba giai đoạn [của chiếc bánh xe], nhưng tuyệt nhiên không cần phải chờ đợi hoàn tất trọn vẹn cả ba kiếp sống (thí dụ: làm một điều thiện thì hậu quả sẽ xảy ra tức khắc trong hiện tại này, không cần phải chờ đợi đến kiếp sống sau thì hậu quả của hành động ấy mới xảy ra. Bởi vì sự chờ đợi đó sẽ tức khắc tương tác với các điều kiện cần thiết khác trong hiện tại để trở thành các nguyên nhân khác, mang lại các kết quả có thể là khác hơn với những gì mà chúng ta mong chờ sẽ xảy đến với mình trong tương lai, trong một kiếp sống sau chẳng hạn).
3 Sự xuất hiện của chuỗi liên kết trong nguyên lý tương liên
Thí dụ thứ nhất
Đến đây tôi xin nêu lên một vài thí dụ rút tỉa từ cuộc sống thường nhật để nêu lên với quý vị về sự phát sinh của quá trình nguyên lý tương liên. Chẳng hạn trường hợp một đứa bé gái khóc òa lên vì con búp bê của nó bị gãy. Quý vị hãy hình dung ra cảnh huống đó, tôi sẽ dựa vào đấy để giải thích với quý vị thế nào là sự phát sinh của nguyên lý tương liên.
Một đứa bé gái khóc òa vì con búp bê của nó bị gãy. Lúc mà đứa bé nhận thấy con búp bê của nó bị gãy, thì có một sự tiếp xúc xảy ra giữa mắt và đối tượng của thị giác, và trong trường hợp này thì đối tượng là [hình tướng và màu sắc của] con búp bê trong điều kiện (tình trạng) bị gãy. Đồng thời trong khoảnh khắc đó cũng phát sinh ra tri thức thị giác, và tri thức này nhận biết được là con búp bê bị gãy.
Tất nhiên là đứa bé không có một ý niệm nào về Dhamma / Đạo Pháp: tâm thức nó bị tràn ngập bởi u mê (vô minh). Sự u mê đó làm phát sinh ra các thể dạng tâm thần mang một chủ đích nào đó, các năng lực nơi các thể dạng tâm thần đó, đến lượt chúng, đưa đến một ý nghĩ hay một tư duy nào đó, và ý nghĩ hay tư duy này thì gọi là tri thức giác cảm. Tri thức giác cảm trong trường hợp trên đây là sự kiện ‘trông thấy con búp bê bị gãy và hiểu được là con búp bê bị gãy’, và tri thức giác cảm trong trường hợp này là tri thức thị giác, bởi vì tri thức đó lệ thuộc vào mắt, do mắt trông thấy con búp bê bị gãy.
Hãy lưu ý là vào thời điểm đó, đứa bé đang trong tình trạng u mê, tức là thiếu chú tâm, bởi vì nó không có một sự hiểu biết nào về Dhamma / Đạo Pháp. Sự thiếu chú tâm đó khơi động một động lực thúc đẩy làm phát sinh ra tri thức giác cảm, và tri thức này xem hình tướng (con búp bê bị gãy) như là một cái gì đó mang lại khổ đau (trên đây là dòng diễn tiến của một chu kỳ paticcasamuppāda, bắt đầu từ sự trông thấy một con búp bê bị gãy và cuối cùng là sự khổ đau cho một đứa bé gái, giữa nguyên nhân đầu tiên và hậu quả cuối cùng là cả một chu kỳ diễn tiến).
Sự gặp gỡ giữa ba thành phần cùng một lúc – mắt, hình tướng (trong trường hợp này là con búp bê) và tri thức giác cảm giữa vai trò hiểu biết – thì được gọi là sự ‘tiếp xúc’. Đấy là cách mà sự tiếp xúc thị giác phát sinh nơi đứa bé. Sau đó, nếu muốn đi sâu hơn và chi tiết hơn, thì chúng ta sẽ nhận thấy sự tiếp xúc đó đánh thức các hiện tượng tâm thần và vật lý: khiến các thành phần thân thể và tâm thần của đứa bé, với tư cách là các điều kiện cần thiết, thức dậy để gánh chịu khổ đau.
Xin quý vị lưu ý, trên phương diện tổng quát, thân thể và tâm thần chúng ta không hề có xu hướng ngả về phía khổ đau. Phải có một cái gì đó, chẳng hạn như sự u mê (vô minh) tạo điều kiện cần thiết biến nó nhạy cảm với khổ đau. Chính vì thế nên có thể bảo rằng trong trường hợp đó (khi sự tiếp xúc xảy ra), và cũng đúng vào giai đoạn đó thì các hiện tượng tâm thần và vật lý mới thức dậy (các hiện tượng tâm thần của đứa bé là buồn khổ, các hiện tượng vật lý là miệng mếu máo và nước mắt ràn rụa). Điều đó có nghĩa là sự u mê tạo điều kiện cần thiết làm phát sinh tri thức giác cảm, và tri thức giác cảm kích động sự biến đổi của các hiện tượng tâm thần và vật lý, biến chúng trở thành nhạy cảm với khổ đau.
Vào lúc đó, bên trong các hiện tượng tâm thần và vật lý trên đây, cũng thấy có sự tham gia của sáu cơ sở giác cảm và chúng cũng sẵn sàng cảm nhận khổ đau. Chúng không còn giữ được sự yên lặng như những lúc bình thường nữa, trái lại còn làm gia tăng thêm sự tiếp xúc khiến nó sẵn sàng tạo ra khổ đau.
Tiếp theo là sự thức dậy của vedanā hay là giác cảm (chữ vedanā trong tiếng Pali có nghĩa là cảm giác, sự cảm nhận / feeling), giác cảm đó có thể mang tính cách thích thú hay bất an (khổ sở, khó chịu, bất toại nguyện).
Giác cảm – trong trường hợp trên đây là một sự bất an (khổ sở) – kéo theo với nó sự ‘thèm khát’, tức là sự mong muốn (cố tình, cố ý) cứ để mình bị cuốn trôi theo chiều hướng của sự cảm nhận. Và đấy cũng là sự tham gia của sự bám víu nhằm bám chặt vào ý nghĩ cho rằng cảm tính bất toại nguyện đó là ‘của tôi’ (thuộc vào ‘tôi’).
Tiếp theo đó là sự hiển hiện của khái niệm về ‘tôi’ (là ‘tôi’, là chính ‘tôi’), và khái niệm này cũng được nhận diện như là một quá trình của sự hình thành. Khi quá trình hình thành đạt đến cấp bậc tác động cao nhất của nó, thì nó sẽ tạo ra một cái gì đó mà người ta gọi là ‘sự sinh’. Và chính vào lúc đó thì đứa bé gái cảm thấy khổ đau khi nó trông thấy con búp bê bị gãy và khóc oà lên.
Tổng thể ấy (các sự kiện tiếp nối ấy, chu kỳ ấy) gọi là sự ‘bất hạnh’ hay ‘tuyệt vọng’ (con búp bê bị gãy, đứa bé khóc, thế nhưng đấy là cả một chu kỳ diễn tiến của nguyên lý tương liên: mắt trông thấy…, sự tiếp xúc xảy ra…, tác động của sáu cơ sở giác cảm…, sự lôi cuốn của các giác cảm…, sự bám víu…, sự hiển hiện của ‘cái tôi’…, quá trình tạo tác…, đưa đến ‘sự sinh’ của đứa bé gái, kèm với các sự ‘khổ đau’ trong sự sống của chính nó. Trên đây là một thí dụ nhỏ và cụ thể về nguyên lý tương liên trong diễn tiến trong hiện tại bên trong sự hiện hữu của một đứa bé. Sự diễn tiến đó của nguyên lý tương liên không nhất thiết là phải trải qua cả ba kiếp sống).
Chúng ta hãy tiếp tục trở lại với ‘sự sinh’, trong tiếng Pali sự sinh gọi là jāti: chữ này mang nhiều ý nghĩa, [với ý nghĩa mở rộng thì] chữ này ngoài sự sinh còn gồm trong đó cả sự già nua và cái chết. Nếu không có sự u mê thì người ta sẽ không nghĩ rằng con búp bê bị gãy, chết hoặc bất cứ chuyện gì khác xảy ra với nó, và cũng chẳng có sự khổ đau nào cả.
Thế nhưng trong trường hợp này thì rõ ràng là đứa bé đang khổ đau thật khủng khiếp, tất cả là vì vào một lúc nào đó đã xảy ra sự bám víu vào cái tôi: con búp bê ấy là của tôi. Khi con búp bê bị gãy, và vì [tác động của] sự u mê, hành động đó (sự kiện con búp bê bị gãy) được xem là không đúng, khiến đứa bé khóc òa lên.
Tiếng khóc của nó là triệu chứng cho thấy sự khổ đau đạt đến điểm tột cùng của nó: và đấy cũng là giai đoạn cuối cùng của quá trình tương liên (và cũng có nghĩa là giai đoạn tạo ra một sự sinh mới kèm theo các sự khổ đau của nó).
Sau đây là một điểm mà hầu hết mọi người không đủ sức hiểu: đấy là khía cạnh kín đáo của một thứ gì đó mà người ta gọi là ngôn ngữ của sự thực tối thượng hay ngôn ngữ của nguyên lý tương liên. Hầu hết mọi người không tin rằng chúng ta sinh ra liên tục, không những đối với các hiện tượng tâm thần và vật lý, mà cả đối với các cơ sở giác cảm, tất cả đều không ngừng tái sinh, trong suốt cuộc sống của chúng ta.
Họ không hình dung được là thể dạng bình thường của chúng ta – có nghĩa là khi mình không làm gì cả, vì không có sự kích động nào xảy ra – là một thể dạng tương đương với sự không sinh. Mỗi khi có một sự kiện tự nhiên nào đó [xảy ra] làm chuyển động sự diễn tiến của quy luật nguyên-nhân và hậu-quả, thì chúng ta có thể bảo rằng đấy là một ‘sự sinh’ (mỗi sự chuyển động trên dòng hiện hữu của mình đưa đến một cái gì khác hơn đều được xem là một sự sinh, trái lại thể dạng bình thường – có nghĩa là không có bất cứ một sự chuyển động nào hay xao động nào xảy ra – thì được xem là ‘thể dạng không sinh’).
Chúng ta hãy nêu lên trường hợp về mắt của mình. Chúng ta nghĩ rằng mắt mình có sẵn là như thế. Thế nhưng theo Dhamma / Đạo Pháp, thì mắt chưa hề được sinh ra khi mắt chưa tiếp xúc với một hình tướng. Chỉ khi nào mắt hoàn tất được chức năng của nó bằng cách trông thấy hình tướng, thì khi đó người ta mới có thể bảo rằng chúng được sinh ra, hình tướng được sinh ra và tri thức thị giác được sinh ra. Sự kết hợp của cả ba thứ ấy góp phần đánh thức sự ‘tiếp xúc’. Sự tiếp xúc làm phát sinh ra giác cảm, tiếp theo đó là sự thèm khát thích thú và tất cả những gì còn lại, cho đến khi nào chu kỳ [tương liên] hoàn toàn kết thúc.
Quý vị hãy hình dung xa hơn về trường hợp của đứa bé trên đây. Một lúc sau đó thì đứa bé đi ngủ, lúc đó nó có thể lại nghĩ đến con búp bê của nó bị gãy, và nó lại khóc. Vào lúc đó thì tri thức thị giác không còn dự phần [vào sự diễn tiến của paticcasamuppāda] nữa mà là tri thức tâm thần (mắt nó không trực tiếp trông thấy con búp bê bị gãy, mà chỉ là một sự nhớ lại của tri thức).
Khi đứa bé nghĩ đến con búp bê bị gãy, thì ý nghĩ trở thành đối tượng của sự cảm nhận, đối tượng đó tiếp xúc với tri thức, sự tiếp xúc đó đánh thức tri thức tâm thần (chức năng nhận thức của tâm thần). [Vì thế] đứa bé lại nghĩ đến con búp bê bị gãy. Điều đó làm phát sinh ra các hiện tượng tâm thần và vật lý, các hiện tượng này tạo các điều kiện [cần thiết] đánh thức các cơ sở giác cảm, và các cơ sở giác cảm cảm nhận khổ đau.
Các cơ sở giác cảm đánh thức sự tiếp xúc, sự tiếp xúc đánh thức khổ đau. Đấy là cách phát sinh của các giác cảm, tiếp theo đó là sự thèm khát thích thú (mong cầu được thỏa mãn), [đưa đến] sự bám víu và sau cùng là khổ đau.
Khi [dòng diễn tiến của nguyên lý tương liên] đạt đến giai đoạn đó thì đứa bé lại khóc, dù con búp bê bị gãy đã nhiều ngày hay nhiều tuần. Các ý nghĩ ấy tuần tự liên kết với nhau, hết ý nghĩ này đến ý nghĩ khác, các ý nghĩ [tương liên, tương kết và tương tạo] ấy gọi là paticcasamuppāda, và trên nguyên tắc thì chúng luôn hiện hữu nơi mỗi con người chúng ta.
Thí dụ thứ hai
Đến đây, chúng ta hãy hình dung trường hợp một cậu học sinh trẻ thi trượt Tú tài. Cậu ta có thể ngất xỉu hoặc khóc suốt đêm. Vậy chuyện gì xảy ra?
Cậu học sinh này đi đến nơi niêm yết kết quả, khi đến nơi thì không trông thấy tên mình trong danh sách những người thi đỗ – hoặc trông thấy tên mình trong danh sách những người thi trượt. Anh ta hiểu được kết quả niêm yết qua trung gian của mắt mình. Các tờ niêm yết đó hàm chứa một ý nghĩa, nhưng không phải chỉ đơn giản là hình tướng (không phải chỉ là các tờ giấy).
Các danh sách là các hình tướng mang đầy ý nghĩa [trong đó], các ý nghĩa ấy mang lại cho cậu học sinh các thông tin mà mình mong muốn được biết. Khi mắt của cậu học sinh tiếp xúc với các tờ danh sách thì tạo ra cho cậu một tri thức thị giác (một sự nhận thức hay nhận biết bằng mắt), tri thức thị giác tạo ra các hiện tượng tâm thần và vật lý. Nói một cách khác thì thân xác và tâm thần của cậu học sinh trước đây đang ở trong trạng thái bình thường vụt biến đổi khác đi. Chúng bất thần bị kích động. Và trong lúc này thì chúng đang bị thúc đẩy làm cho các cơ sở giác cảm thức dậy, và [đồng thời] tạo ra sự tiếp xúc, mang tiềm năng đưa đến khổ đau.
Các cơ sở giác cảm, trong các điều kiện bình thường, không hề mang bản tính khổ đau, mà chỉ khi nào kết hợp với sự u mê (vô minh), thì khi đó sự vận hành của chúng mới mang tiềm năng làm bùng lên khổ đau. Bắt đầu trước hết là sự tiếp xúc, sau đó là giác cảm, và cứ tiếp tục như thế cho đến lúc xảy ra sự bám víu vào khái niệm về ‘tôi’ (chính là ‘tôi’): «Tôi thi trượt !».
Cậu học sinh ngất xỉu, đúng vào lúc tầm nhìn của mình chạm vào (tiếp xúc với) danh sách [niêm yết]. Trong khoảng thời gian thật ngắn đó, diễn ra toàn bộ mười-một điều kiện [cần thiết] nêu lên trong nguyên lý tương liên. Cậu học sinh trong lúc này đang có một ‘cái tôi’ ngất xỉu; ‘cái tôi’ đó cảm nhận một sự khổ đau thật to lớn khiến cậu phải sống với tất cả mọi niềm bất hạnh. Dù là nhiều giờ hoặc hai hay ba ngày sau đó, cậu học sinh cũng vẫn có thể ngất xỉu, duy nhất chỉ vì nghĩ đến sự kiện mình thi trượt.
Các triệu chứng tương tự như trước đây (các giai đoạn làm phát sinh ra khổ đau) lại hiển hiện trở lại, và đấy cũng là sự phát lộ của nguyên lý tương liên, thế nhưng lần này thì nguyên lý đó mở ra từ cửa ngõ tâm thức hay tri thức tâm thần (lần đầu là nhờ vào mắt tức là cửa ngõ thị giác, lần này là nhờ vào sự nhớ lại, tức là cửa ngõ tâm thần hay là cơ quan giác cảm thứ sáu). Khi tri thức đó thức dậy thì nó sẽ lôi kéo theo với nó các hiện tượng tâm thần và vật lý theo chiều hướng làm bùng lên khổ đau, và sau đó thì hiện ra các cảm nhận trực tiếp hướng thẳng vào khổ đau.
Và sau hết, thêm một lần nữa, lại sinh ra ‘cái tôi’: «Tôi thi trượt» (‘tôi’ là người thi trượt, người thi trượt là ‘chính tôi’, ý niệm về ‘cái tôi’ lại hiện lên với cậu học sinh. ‘Cái tôi’ đó đeo đuổi và gắn liền với tâm thức của cậu học sinh, khiến chúng ta có thể nghĩ rằng đấy là một ‘chủ thể’, một ‘con người’ hay một cái ‘linh hồn’ nào đó, thế nhưng đấy chỉ là kết quả tạo ra bởi các chu kỳ diễn tiến của nguyên lý tương liên đang chuyển động trong tâm thức, không có ‘cái tôi’ nào cả, không có ‘con người’ nào cả, không có ‘lình hồn’ nào cả, duy nhất ‘chỉ vì cái này có nên cái kia có).
Thí dụ thứ ba
Lần này, chúng ta hình dung trường hợp một cô thiếu nữ trẻ bất chợt trông thấy vị hôn phu của mình đi ngoài đường, cặp tay với một người phụ nữ khác. Cô thiếu nữ điên tiết lên. Trong một khoảnh khắc sau đó cô nổi trận xung thiên, khiến người ta có thể nghĩ rằng cô ta đang rơi xuống mười tầng địa ngục ! Mọi chuyện cũng chỉ vì cô ta trông thấy vị hôn phu của mình cùng đi với một người đàn bà khác.
Sau đây là những gì đã xảy ra: mắt của cô thiếu nữ trẻ nhận thấy hình tướng của một người đàn bà cặp tay vị hôn phu của mình. Ngay sau đó thì tri thức thị giác thức dậy. Trước thời điểm đó thì thể loại tri thức này chưa hiện hữu, chỉ là một [thể loại]tri thức không xử dụng, không mang một chức năng nào cả. Người ta cũng có thể bảo rằng không hề có một tri thức thị giác.
Thế nhưng đang trong lúc này thì tri thức đó thức dậy, kết hợp với hình tướng và mắt, [đấy là cách mà tri thức thị giác] tạo ra một sự tiếp xúc [giữa mắt và hình tướng]. Trong khoảnh khắc trước đó thì chưa có sự tiếp xúc, đang trong lúc này thì có một sự tiếp xúc [giữa ba thành phần]: mắt, đối tượng của mắt – tức là hình tướng – và tri thức thị giác, cả ba thứ cùng kết hợp với nhau để tạo ra sự tiếp xúc (xin nhắc lại tri thức thị giác là chức năng hay khả năng tâm thần giúp nhận biết hình tướng, màu sắc, sự chuyển động, v.v.).
Sự tiếp xúc phát sinh đưa đến sự sinh của giác cảm, sự thèm muốn, v.v. Nếu nhìn sâu hơn vào chi tiết thì chúng ta sẽ nhận thấy mỗi khi tri thức giác cảm thức dậy, thì nó sẽ tạo ra các hiện tượng tâm thần và vật lý với các điều kiện (các nguyên nhân, các điều kiện khác hơn) khác hơn; các hiện tượng này lại tiếp tục làm phát sinh ra các cơ sở giác cảm mang tiềm năng cảm nhận khổ đau; tiếp theo đó là các cảm giác khổ đau hiển hiện cùng với sự tuyệt vọng (một cách vắn tắt: một cô thiếu nữ trông thấy vị hôn phu của mình cặp tay một người đàn bà khác, sự trông thấy đó làm phát sinh ra một chu kỳ của nguyên lý tương liên diễn tiến bên trong tâm thức mình, tạo ra cho mình các sự cảm nhận khổ đau trên toàn thân thể và tâm thần của mình).
Sau đó là sự phát sinh của khái niệm về ‘tôi’: «Tôi, tôi, tôi điên tiết lên ! Tôi tức đến chết đi được vì chuyện này !» Tất cả các thứ ấy đều phát sinh từ sự tiếp xúc của mắt (sự tiếp xúc của mắt cũng đủ tạo ra một chuỗi dài níu kéo trong tâm thức của cô thiếu nữ, tạo ra các tác động trong tâm thần và cả trên thân thể. Chuỗi níu kéo đó kết thúc bằng sự hình thành của ‘cái tôi’, phản ảnh ‘sự sinh’ hay sự ‘hiện hữu’ của mình trong thế giới khổ đau này).
Đấy là sự tham gia của jāti, tức là sự sinh (jāti là tiếng Pali có nghĩa là ‘sự sinh’, sự ‘tạo tác’ hay ‘hình hành’ / birth, arising. Chui ra từ bụng mẹ chỉ là một hiện tượng vật lý. Kể cả trường hợp một con tinh trùng chui vào một noãn cầu cũng là một hiện tượng vật lý. Tác động của nguyên lý tương liên rộng lớn hơn, chi phối và bao trùm tất cả mọi hiện tượng, từ vật lý đến phi vật chất, từ các giác cảm trên thân thể đến các sự chuyển động trong tâm thần). Đấy là [sự sinh của] một ‘cái tôi’ (ego) mang xu hướng cảm nhận khổ đau, một cái ‘tôi’ thức dậy để cảm nhận sự bất toại nguyện, sẵn sàng gánh chịu khổ đau.
Nói một cách ngắn gọn hơn, thì chúng ta có thể bảo rằng đấy là một ‘cái tôi’ (ego) thiết tha mong cầu được hiện hữu (vượt lên trên cảnh huống đang khổ đau) đến độ phải nhờ vào chính sự cảm nhận khổ đau (càng cảm thấy khổ đau để càng cảm thấy là mình hiện hữu) ! Vì thế sự xuất hiện của ‘cái tôi’ ấy là khổ đau, là lo buồn và mất mát. Và đấy là toàn bộ mười-một điều kiện [cần thiết] (mười-một yếu tố hay nguyên nhân) của [chu kỳ] paticcasamuppāda đang diễn tiến trong tâm thức của cô thiếu nữ.
Thí dụ cá biệt trên đây là sự phát sinh của paticcasamuppāda thuộc lãnh vực thị giác (xin nhắc lại: chúng ta có đến sáu cơ sở giác cảm, tạo ra sáu lãnh vực khổ đau. Các thứ khổ đau đó rất đa dạng và phức tạo, liên tục hiển hiện trên dòng diễn tiến của paticcasamuppāda).
Đến đây chúng ta hãy hình dung cô thiếu nữ trên đây bị một cô bạn gái đánh lừa bằng một câu nói đùa nói đùa rằng là mình trông thấy người thanh niên ấy (vị hôn phu của cô gái) cùng sánh đôi với một người phụ nữ khác, thế nhưng trên thực tế thì không đúng (chỉ là chuyện trêu chọc). Lần này thì sự tiếp xúc không phải là do trung gian của thị giác mà là thích giác: âm thanh trong lời nói của người bạn gái lọt vào tai của cô thiếu nữ, khiến làm thức dậy tri thức thính giác, và tri thức này cùng đi kèm với sự u mê.
Vì thiếu cảnh giác (thiếu sự chú tâm) nên tri thức thính giác đánh thức sáu cơ sở giác cảm, điều đó có nghĩa là thân thể và cả tâm thức của cô thiếu nữ bất thần bị kích động, đánh thức các cơ sở giác cảm, và các cơ sở này vận hành theo chiều hướng mang lại khổ đau, tương tự như trường hợp trên đây (đối với thị giác). Sau khi sáu cơ sở giác cảm đã bị đánh thức, thì sự tiếp xúc cũng trở thành trọn vẹn, kết quả đưa đến là sự hiển hiện của các sự cảm nhận (các giác cảm, các sự nhận biết), tất cả tùy thuộc vào bối cảnh [đang xảy ra]; nói một cách khác, và đối với trường hợp này, thì đấy là sự bất an (sự tức giận, sự bất toại nguyện của cô thiếu nữ).
Một sư ‘thèm khát’ [được hiện hữu] thật kinh hoàng thức dậy, sự ‘thèm khát’ đó đưa đến sự bám víu; và sau đó là sự bùng lên của quá trình hình thành (sự sinh), với tất cả sự rạng rỡ của nó, làm phát sinh ra ý niệm về ‘cái tôi’ / về ‘tôi’ / ‘chính là tôi’, Và đấy cũng là sự sinh ra ‘tôi’ / ‘con người của tôi’, một nhân tố tạo ra khổ đau, nhọc nhằn và ta thán (đấy là sự sinh đích thật, đúng nghĩa của nó, trong khi đó thì sự kiện ‘chui ra từ bụng mẹ’ chỉ là một hiện tượng vật lý).
Chúng ta hãy nhìn vào thí dụ trên đây qua một góc nhìn khác. Cô thiếu nữ trên đây lúc đầu không tin lắm vào sự thành thực của người bạn gái của mình. Chúng ta cứ cho rằng cô thiếu nữ chưa hề được nghe người nào khác nói với mình về chuyện này, cũng chưa hề trông thấy tận mắt về chuyện này, thế nhưng từ bên trong tâm thức mình, cô thiếu nữ này cũng bắt đầu tự hỏi người thanh niên hôn phối của mình phải chăng đã cùng sánh đôi với một người phụ nữ khác.
Cô ta tự nêu lên với mình sự thắc mắc đó, và đấy cũng lại là một quá trình tương liên khác đang khởi động trong tâm thức của cô thiếu nữ (lần này thì qua cửa ngõ của tri thức tâm thần): tức là một đối tượng của tâm thần tiếp xúc với tâm thức, đánh thức tri thức tâm thần, và tri thức tâm thần tạo ra điều kiện [cần thiết] làm phát sinh ra các hiện tượng tâm thần và vật lý. Trước thời điểm đó thì thân thể và cả tâm thần của cô thiếu nữ vẫn còn bất động (ở trong thể dạng nghỉ ngơi và bình thường), không tạo ra các điều kiện [cần thiết] đưa đến khổ đau, thế nhưng trong lúc này thì vụt biến đổi và trở thành các hiện tượng vật lý và tâm thần, tạo điều kiện cần thiết đánh thức các cơ sở giác cảm mang khả năng cảm nhận khổ đau.
Các cơ sở giác cảm đó, đến lượt chúng, lại tạo điều kiện [cần thiết] đánh thức sự tiếp xúc theo chiều hướng khổ đau. Sự tiếp xúc đó tạo điều kiện [cần thiết] đưa đến sự cảm nhận, và sự cảm nhận đó đánh thức khổ đau. Tiếp theo dòng diễn tiến đó hiện lên sự thèm khát [đạt được] sự thích thú và sự cố tình bám víu.
Và đấy cũng là cách khiến cô thiếu nữ phải gánh chịu mọi sự đớn đau gây ra bởi mọi sự đày đọa, tương tự như trong các trường hợp trên đây, ngoại trừ một sự khác biệt duy nhất là lần này thì quá trình tương liên được sinh ra từ tri thức tâm thần (người thiếu nữ ‘tự hỏi’ biết đâu vị hôn phu của mình cũng có thể đã sánh đôi với một người phụ nữ khác, và đó cũng là điểm khởi đầu của một chu kỳ tương liên).
Cô thiến nữ trên đây, trong cả ba trường hợp, đều gánh chịu các sự đớn đau tạo ra bởi nguyên lý tương liên: trước hết sự khơi động khổ đau tạo ra bởi tri thức thị giác khi trông thấy các hình tướng bằng chính mắt mình, sau đó là bởi tri thức thính giác khi nghe thấy người bạn gái của mình thuật lại một điều bịa đặt, và sau hết là bởi tri thức tâm thần mà lúc khởi đầu chỉ đơn giản là một sự ngờ vực. Điều đó cho thấy nguyên lý tương liên có thể thức dậy bắt đầu từ bất cứ một cơ sở giác cảm nào, và dù trong trường hợp nào thì cũng đều đưa đến khổ đau.
Tôi xin lưu ý quý vị [trước hết] là chu kỳ đầy đủ của nguyên lý tương liên luôn đưa đến khổ đau (đều đưa đến sự hình thành và bám víu vào ‘cái tôi’, và đối với ‘cái tôi’, thì từ bản chất của nó, cái tôi’ là cả một sự khổ đau mênh mông), và sau đó là chuỗi níu kéo của mười-một điều kiện [cần thiết] (trong quá trình tương liên) có thể diễn tiến trong một khoảnh khắc thời gian cực ngắn (nhà sư Buddhasa lưu ý chúng ta về hai đặc tính quan trọng của nguyên lý tương liên: đặc tính thứ nhất là nguyên lý tương liên luôn đưa đến khổ đau, đặc tính thứ hai là chu kỳ tương liên có thể xảy ra trong chớp nhoáng. Khổ đau có thể hiện lên với mình nhanh như một tia chớp, phản ảnh sự sinh và cái chết liên tục xảy ra với chúng ta trong hiện tại này).
Sau đây là một thí dụ khác [về một phụ nữ còn trẻ và bà mẹ chồng]. Khi người phụ nữ trẻ trông thấy gương mặt của bà mẹ chồng thì cảm thấy lúng túng và xao động. Trong khoảnh khắc chớp nhoáng đó cũng đủ để nguyên lý tương liên khởi động toàn thể mười-một điều kiện [cần thiết] của nó.
Người phụ nữ trẻ nhận thấy hình tướng qua trung gian của mắt, sự nhận thấy đó đưa đến thể loại tri thức thị giác, và tri thức này, đến lượt nó, lại tạo ra điều kiện [cần thiết] đưa đến sự biến đổi các hiện tượng tâm thần và vật lý, chúng sẵn sàng đón nhận các cơ sở giác cảm ngả theo chiều hướng cảm nhận khổ đau, và đấy cũng là những gì tạo ra điều kiện [cần thiết] là sự tiếp xúc, và sự tiếp xúc là những gì sẵn sàng mang lại khổ đau.
Vì vậy, giác cảm thức dậy [từ sự tiếp xúc đó] là sự bất an. Sự ‘thèm khát’ phát sinh là một hình thức xao động, bởi vì người phụ nữ không thích gương mặt người mẹ chồng của mình. Tiếp theo là sự bám víu [vào sự thoải mái] xảy ra, và đấy (sự bám víu ấy) cũng là quá trình hình thành và sự sinh, đưa đến khái niệm về ‘tôi’: ‘tôi’ ghét gương mặt của bà mẹ chồng, [thế nhưng] cuối cùng [thì đấy là những gì] khiến ‘tôi’ [hay ‘cái tôi’ ấy của ‘tôi’] cảm nhận khổ đau.
Thí dụ thứ tư
Đối với thí dụ sau cùng này, tôi không có ý nêu lên một trường hợp cá biệt hay cá nhân nào cả, mà chỉ nêu lên con người nói chung, trong trường hợp khi họ đang thưởng thức một món ăn ngon nào đó. Trong những lúc như thế, hầu hết mọi người đều đánh mất tất cả khả năng chú tâm của mình. Họ không còn [cảm thấy mình] trong hiện thực và cứ mặc cho sự u mê tha hồ khống chế họ. Chúng ta hãy bắt đầu bằng sự kiện sau đây: khi chúng ta thưởng thức một món ăn thích thú, thì vị ngon khiến chúng ta đánh mất sự chú tâm, và tức khắc thay vào sự chú tâm đó là sự u mê.
Các tư duy của người sống với thể dạng cảm nhận [thích thú] đó phản ảnh sự khởi động trọn vẹn của chu kỳ paticcasamuppāda, tương tự như trong các thí dụ trên đây. Khi vòm miệng và các đối tượng của nó, trong trường hợp này là vị thơm ngon của thức ăn, tạo ra sự tiếp xúc giữa hai thứ với nhau (vòm miệng và thức ăn), thì tri thức vị giác thức dậy làm biến đổi các hiện tượng vật lý và tâm thần bình thường, trở thành các hiện tượng vật lý và tâm thần mang tiềm năng cảm nhận khổ đau.
Sau đó là sự thức dậy của các cơ sở giác cảm tạo ra một sự tiếp xúc và một sự cảm nhận, và sự cảm nhận này, tùy theo trường hợp, có thể là thích thú hay bất toại nguyện. Nếu mùi vị cảm nhận mang tính cách thích thú, thì bất cứ một người bình dị nào cũng đều cho rằng sự cảm nhận đó mang tính cách thích thú. Thế nhưng ngay từ lúc bắt đầu bám víu vào mùi vị thích thú đó, thì sự thèm khát thức dậy biến đổi sự cảm nhận đó, khiến nó mang tiềm năng tạo ra khổ đau, tất cả là vì xu hướng [chung] của [tất cả] chúng ta là mong muốn được kéo dài thêm bất cứ một sự cảm nhận mang tính cách thích thú nào.
Sự cảm nhận [thích thú] đó đánh thức sự thèm khát, những người bám víu vào sự thèm khát đó bắt đầu lo lắng (sẽ không còn làm thỏa mãn được sự thèm khát của mình). Đấy là cách mà một hương vị thơm ngon, một sự cảm nhận thú vị, trở thành một hình thức biểu lộ của khổ đau. «Thật tuyệt vời ! Tôi vô cùng hả dạ !Tôi cảm thấy thật thỏa mãn !» Thế nhưng đấy chỉ là cách tâm thức hóa thành nô lệ cho sự thích thú, bởi vì đấy chỉ là cách mà tâm thức bị sự bám víu vào sự thích thú làm cho nó bốc cháy !»
Trên đây là một thể dạng kín đáo của nguyên lý tương liên, nêu lên sự tinh tế và sâu sắc của nguyên lý này. Nếu hỏi quan điểm của một người bình dị [về miếng ăn ngon] thì họ sẽ cho biết là mình cảm thấy thích thú, thế nhưng theo nguyên lý tương liên thì sự thích thú sẽ kéo theo với nó sự bất-toại-nguyện [phát sinh từ sự bám víu]. Thật vậy, khi một người nào đó nghĩ rằng ‘đấy là sự thích thú’, thì cũng đủ để quá trình tương liên diễn tiến một cách trọn vẹn.
Sự kiện trên đây cũng có thể đưa đẩy xa hơn như thế. Nếu một người nào đó nghĩ rằng «Thức ăn quả là tuyệt hảo, ngày mai tôi sẽ đánh cắp để ăn thêm», thì đúng vào lúc đó người ấy được sinh ra với tư cách là một tên trộm. Một người nào đó nghĩ đến việc ăn cắp một cái gì đó hoặc làm hiện lên trong tâm trí mình các ý nghĩ của một tên trộm, thì trong khi đó người ấy đang trở thành một tên trộm (đó là tác động của nguyên lý tương liên).
Vì vậy, một người nào đó đánh cắp hoa quả trong một nông trại, sau khi tha hồ thưởng thức thì quyết định ngày mai mình quay lại để tiếp tục đánh cắp. Ý nghĩ mình là một người ăn cắp hay đang trở thành một người ăn cắp, thì ý nghĩa đó cũng tương đương với sự thức dậy của một ‘bhāva’, có nghĩa là một thể dạng của sự ‘hình thành’ (chữ bhāva trong tiếng Pali có nghĩa là sự trở thành hay sự hiện hữu / becoming, existence).
Cũng vậy, một người nào đó ăn thịt thì dự tính ngày mai mình sẽ đi săn để tiếp tục thưởng thức, và đấy là cách mà người ấy vừa được sinh ra với tư cách là một tên thợ săn. Đối với một người chỉ biết đắm mình trong sự thích thú tuyệt vời hiện lên nơi vòm miệng thì sẽ sinh ra trong cõi vương quốc của hương vị tuyệt trần (trong khi ăn thì cảm thấy mình đang sống trong cõi của các mùi vị tuyệt vời).
Thế nhưng, nếu thức ăn tuyệt vời đến độ khiến người ấy ngấu nghiến với một tốc độ thật nhanh, thì người ấy đang sinh ra trong cõi quỷ đói, và người ấy là một trong số các chúng sinh luôn trong cảnh huống đói khát, và dù có ngấu nghiến nhanh đến đâu đi nữa thì chúng sinh ấy cũng không sao làm thỏa mãn được sự đói khát mênh mông của chính mình.
Nhìn vào những gì trên đây thì tất quý vị sẽ nhận thấy trong khoảnh khắc thời gian nuốt vài miếng ăn ngon cũng đủ khiến cho các thể dạng của nguyên lý tương liên diễn tiến thật trọn vẹn. Vì thế, tôi xin quý vị hãy suy ngẫm thật cẩn thận về sự liên hệ giữa nguyên lý tương liên và chu kỳ hiển hiện của khổ đau.
Paticcasamuppāda là giáo huấn nói đến khổ đau qua tất cả các hình thức tỏa rộng của nó, và nguyên nhân thì rốt lại cũng chỉ là sự bám víu mà thôi. Đối với quy luật tương liên thì sự bám víu [là điều kiện] tiên quyết, không thể thiếu sót, khiến khổ đau thức dậy. Nếu không đúng là như thế, và khổ đau cứ xảy ra đi nữa, thì đấy không phải là khổ đau của paticcasamuppāda (do paticcasamuppāda tạo ra cho mình, mà là khổ đau của mình, do mình tự tạo ra cho mình, thế nhưng mình không nhận thấy nguyên nhân và các điều kiện cần thiết làm phát sinh ra nó, paticcasamuppāda chỉ là một quá trình diễn tiến mà thôi).
Bures-Sur-Yvette, 30.12.25
(còn tiếp)