
Hình minh họa
1. Lợi ích thứ nhất của thiền định (jhāna concentration) là hiện tại lạc trú (diṭṭhadhamma sukha vihāra), tức là thọ hưởng hạnh phúc của thiền ngay trong kiếp hiện tại. Điều này muốn nói đến các vị A-la-hán. Mặc dù các vị A-la-hán thuần quán (vipassanā) đương nhiên có các thiền siêu thế (lokuttāra jhāna), song họ vẫn muốn tu tập các thiền hiệp thế (lokiya jhāna) vì muốn thọ hưởng lạc trú của thiền này.
Bởi lẽ họ là các bậc A-la-hán, với các phiền não đã được loại trừ bằng đạo tuệ (điều này cũng có nghĩa là các triền cái của họ đã được đoạn trừ), nên việc tu tập thiền đối với họ rất dễ. Lý do khác nữa để giải thích tại sao họ lại thường phát triển thiền (định) là vì muốn chứng diệt (nirodhānisaṁsa – diệt thọ tưởng định), một định chứng đòi hỏi phải có sự tinh thông tám thiền chứng.
Phận sự của một vị tỳ khưu là: học kinh điển (pariyatti: pháp học), hành thiền minh sát (paṭipatti), và đắc bốn đạo, bốn quả (paṭivedha). Đó là những gì các vị A-la-hán đã làm, vì thế không còn việc gì phải làm nữa đối với họ. Họ hành thiền định không vì lý do gì khác hơn là để hưởng thiền lạc (jhānasukha) trong kiếp hiện tại này.
2. Lợi ích thứ hai của thiền định là lợi ích trong việc minh sát (vipassanānisaṁsa): thiền định là một hỗ trợ cho minh sát trí, vì với jhāna (bậc thiền), hành giả có thể thấy danh – sắc chân đế và các nhân của chúng một cách rõ ràng, đồng thời có thể phân biệt tính chất vô thường, khổ và vô ngã của chúng (dễ dàng hơn tâm bình thường).
Khi một hành giả đã hành minh sát thấu đáo, đặc biệt là lên đến Đạo tuệ (magga ñāṇa) và Quả tuệ (phala ñāṇa), hoặc Hành xả tuệ (saṅkhārupekkhā ñāṇa), thì các bậc thiền (jhāna) thường rất vững. Các bậc thiền này làm cho minh sát trí trở nên rõ ràng, trong sáng, mạnh mẽ và đầy năng lực hơn.
Minh sát trí mạnh mẽ và đầy năng lực ấy, ngược lại cũng bảo vệ cho jhāna khỏi rơi xuống (bậc thấp). Hơn nữa, khi hành giả hành minh sát trong một thời gian lâu dài, mệt mỏi có thể phát sinh. Lúc ấy hành giả nên nhập thiền một lúc cho tâm được nghỉ ngơi. Lấy lại sức khỏe xong, hành giả có thể chuyển sang minh sát trở lại.
Như vậy, mỗi lúc mệt mỏi xảy ra, hành giả lại có thể an nghỉ trong bậc thiền của mình. Thế nên, nhờ định mà minh sát được rõ ràng, trong sáng, mạnh mẽ, đầy năng lực và khéo bảo vệ. Đáp lại, minh sát hủy diệt các phiền não ngăn chặn tâm định và giữ cho nó vững chắc. Samatha (thiền chỉ) bảo vệ thiền quán và ngược lại là thế.
Vả lại, định của bát thiền không chỉ là một hỗ trợ cho việc phân biệt danh – sắc và các nhân của chúng thôi, mà vì tám thiền chứng ấy tự thân chúng còn là “danh”, và được kể vào việc phân biệt danh. Nếu một hành giả đã phân biệt được danh – sắc và các nhân của chúng (kể cả tám thiền chứng) là vô thường, khổ và vô ngã, lên đến Hành xả trí (saṅkhārupekkhā ñāṇa), về sau vị ấy có thể duy trì việc phân biệt của mình đối với các hành (danh pháp) của bậc thiền đó chỉ với một trong tám thiền chứng là đủ.
Đây là liên kết Chỉ – Quán với nhau (yuganaddha), giống như hai con bò cùng kéo một chiếc xe vậy. Đó là một sự hỗ trợ khác cho việc chứng Đạo, Quả và Niết-bàn.
3. Lợi ích thứ ba của thiền định là các năng lực thần thông (abhiññānisaṁsa): nếu một hành giả muốn làm chủ các thần thông hiệp thế như túc mạng thông (pubbenivāsānussati abhiññā), thiên nhãn thông (dibba-cakkhu), thiên nhĩ thông (dibba-sota), tha tâm thông (paracitta vijānana), biến hóa thông (iddhividha), bay trong hư không, đi dưới nước… hành giả phải tu tập mười kasiṇa và tám thiền chứng theo mười bốn cách.
4. Lợi ích thứ tư của thiền định là cái chúng ta gọi là “một sanh hữu đặc biệt” (bhavavisesāvahānisaṁsa). Đó là, nếu hành giả muốn tái sinh vào một cõi phạm thiên nào đó sau khi chết, hành giả phải tu tập định, như mười kasiṇa, niệm hơi thở, thiền tâm từ. Nhưng để được chắc chắn sinh vào cõi phạm thiên ấy thì thiền (jhāna) phải được duy trì cho đến giây phút chết.
5. Lợi ích thứ năm của thiền định là chứng diệt (nirodhānisaṁsa): sự chứng diệt (tận định) là sự diệt tạm thời của dòng tâm thức (citta), cùng với các tâm sở và sắc chất do tâm sinh (cittaja rūpa). “Tạm thời” có nghĩa là chỉ từ một cho tới bảy ngày, tùy thuộc vào quyết định trước của hành giả (adhiṭṭhāna).
Chỉ các vị bất lai (anāgāmi) và A-la-hán mới có thể chứng diệt. Đối với các vị A-la-hán, ngoài lúc ngủ và ngoài lúc tác ý đến các khái niệm, còn lại họ hầu như không ngừng thấy sự sinh – diệt của danh – sắc và các nhân của chúng, tình trạng này kéo dài suốt ngày đêm.
Đôi khi họ cảm thấy “chán” và chỉ muốn không phải thấy các hiện tượng hay “pháp diệt” (bhaṅga dhamma) ấy nữa. Nhưng vì thọ mạng chưa hết, nên để chấm dứt việc thấy các pháp diệt đó, họ nhập diệt tận định.
Khi một vị nhập diệt tận định, giả sử trong bảy ngày, thì trong thời gian ấy vị này không thấy các pháp diệt nữa, bởi vì tâm và các tâm sở đã dừng lại. Mặc dù các vị A-la-hán có thể trú trong Niết-bàn chứng (A-la-hán thánh quả định), song họ vẫn thích trú trong diệt tận định hơn, vì ở đó không còn tâm hành thuộc cảm thọ.
Muốn nhập diệt tận định, hành giả phải thiết lập sơ thiền, rồi tuần tự tu tập và phân tích các tầng thiền cho đến thiền vô sắc. Sau đó thực hiện các quyết định cần thiết về thời gian, hoàn cảnh và điều kiện, rồi mới nhập vào diệt tận định trong thời hạn đã định.
Trong thời gian chứng diệt, hành giả không thấy bất cứ điều gì, vì tất cả tâm và tâm sở đã dừng lại.
Thiền sư Pa-Auk Tawya Sayadaw (U Acinna)
Tỳ khưu Pháp Thông dịch