
Hình minh họa
Tâm Quán Niệm Xứ là hành trình dùng tâm nhìn tâm một cách tự nhiên. Mọi thứ do duyên mà đến, hành giả chỉ việc ngồi yên nhìn xem tâm mình giờ đang ra sao.
Cả tâm ghi nhận và cái tâm được ghi nhận cũng đều có mặt trên một dòng chảy sanh diệt.
Điều tối kỵ trong việc hành trì Tuệ Quán là hành giả luôn tu tập với một cái tâm thức chủ nhân, thích điều động, điều hành: mình phải thế này, mình không được thế kia.
Tinh hoa của Tuệ Quán là vạch rõ ý niệm ngã chấp qua bản chất vô ngã và vô thường của Danh Sắc.
Ở đây không có ai tu và ai không tu. Ở đây chỉ có thiện ác, buồn vui, chỉ có cái được ghi nhận và không được ghi nhận.
Chỉ sơ ý một chút, hành giả sẽ rất dễ dàng rơi vào tình huống dùng một cái tôi để thực hiện hành trình vô ngã.
Hành giả chỉ nên biết ở đây có niệm hay thất niệm, chứ không nên nặng lòng với nhận thức “tôi có chánh niệm, tôi bị thất niệm”.
Chúng ta sẽ dễ dàng tránh được tình trạng này khi sống trọn vẹn trong cảnh Chân Đế theo cách đã được nói ở trước:
Cái tâm được ghi nhận và cái tâm ghi nhận nó đều phải được ghi nhận.
Cái tâm tu tập, cái tâm muốn tu tập và cái tâm ghi nhận chúng cũng phải được ghi nhận.
Đó mới chính là hành trình tu tập. Ở đây không có ai sắp xếp cho ai tu tập, ban thưởng cho người tu tập, trách cứ người không tu tập.
Có thể nói Tâm Quán Niệm Xứ là con đường ngắn nhất mà cũng là rốt ráo nhất để ta thấy ra bản chất vô thường, vô ngã của cái gọi là chúng sinh.
Được gọi là một chúng sanh thì phải dựa vào sức sống của nó, nói rốt ráo là Danh và Sắc. Riêng Danh pháp mà nói thì nó sẽ không là gì hết nếu không có trạng thái biết cảnh.
Không bao giờ có một cái tâm mà không có cảnh để biết và chính sự biết cảnh này được gọi là đời sống của một cái tâm.
Như vậy, tu Tâm Quán là ta đang quan sát đời sống của chúng sanh qua những bản chất và hoạt động của nó.
Người không biết đạo và không hành đạo thì khi nói đến cái tâm, người ta sẽ gắn lên đó bao nhiêu là nhãn hiệu, khái niệm, ý tưởng để có thể hình dung nó như là một cái tôi, một tự ngã, một cái gì hay ho ghê gớm như kiến thức, hồi ức, tâm linh, kinh nghiệm...
Nhưng đối với hành giả Tâm Quán thì những tên gọi và khái niệm ấy chỉ là của giả.
Tâm thức trong cái nhìn của hành giả chỉ là sự biết cảnh, một cái biết luôn sanh diệt chớp nhoáng và đối tượng mà nó ghi nhận cũng không tồn tại quá một sát-na.
Như vậy, tu Tâm Quán là nhìn thẳng mà không cần đánh giá, biết nó chứ không tưởng tượng về nó.
Tốc độ sanh diệt của tâm thức không gì trên đời này có thể sánh kịp.
Nhưng tùy vào khả năng chánh niệm, định tâm và trí tuệ của mỗi người mà ta thấy nó mau lẹ đến mức nào. Như người tinh mắt và kẻ mắt kém đều có thể quan sát một dòng thác đang đổ mạnh, nhưng thị lực ở mỗi người đã cho phép họ nhìn thấy thác nước ấy ra sao.
Ngoại trừ chư Phật, không ai có thể hiểu biết tận cùng cảnh giới của Tâm pháp.
Các bậc thánh ngoài ra chỉ có một trình độ hiểu biết vừa đủ để tu tập nhằm chấm dứt phiền não, không ai có thể phân tích chia chẻ và đưa ra một biểu đồ cụ thể về tâm pháp như chư Phật.
Nếu chỉ hiểu đơn giản tâm là cái biết thì sự quan sát này chắc chắn rất nhàm chán và mơ hồ. Đức Phật đã chia chẻ tâm thức chúng sanh ra thành nhiều thứ loại, dựa trên nhiều khía cạnh, phương diện:
Tâm nào có mặt khiến người ta an lạc hoặc đau khổ.
Tâm nào có mặt khiến người ta làm ác hay làm lành.
Tâm nào là điều kiện để tạo ra khổ lạc.
Tâm nào là quả báo của thiện ác quá khứ.
Tất cả tâm thức đều là cái biết nhưng ở mỗi loại tâm có những đặc điểm mà thứ tâm khác không có được.
Tu Tâm Quán Niệm Xứ là hành trình nhận diện tâm pháp theo những gì vừa nói.
Như đã nói ở trước, khi tu tập bốn Niệm Xứ, tùy việc ta tập trung vào Niệm Xứ nào mà chú ý đặc biệt vào cái gì. Trong Tâm Quán Niệm Xứ, hành giả không chú ý gì ngoài ra tâm thức của chính mình. Có điều là trong mỗi giờ đồng hồ, hành giả không chỉ tu tập có riêng Tâm Quán Niệm Xứ.
Khi đang ngồi hay đang ăn thì hành giả Tâm Quán phải để ý quan sát tâm mình đang ra sao, nhưng khi đưa tay lấy đồ ăn hay rời bàn đứng dậy thì hành giả cũng có thể tu tập Thân Quán Niệm Xứ để biết rõ mình đang làm gì.
Người không tu Tâm Quán thì đến cả cái tâm đang diễn ra còn không nhận biết được, nhưng đối với hành giả Tâm Quán thì cả cái tâm hiện tại phải được ghi nhận, mà cả cái tâm ghi nhận nó ta cũng phải ghi nhận.
Thiện ác không thể cùng lúc có mặt. Nên khi hành giả dùng chánh niệm để ghi nhận sự có mặt của dòng tâm thức hiện tại thì bản thân chánh niệm đã là thiện pháp và đã thế chỗ cho phiền não.
Điều quan trọng phải nhớ là khi theo dõi để ghi nhận mỗi tình trạng tâm thức, hành giả không nên có thái độ theo đuổi hay đối kháng.
Thiện hay ác gì cũng chỉ là đối tượng để ta quan sát và điều thứ hai phải cố tránh là những khái niệm kiến thức. Chúng thuộc Tục Đế và là đối tượng của trí văn cùng trí tư.
Trong khi đó, Tâm Quán Niệm Xứ có đối tượng là tâm pháp Chân Đế:
Tâm tham chỉ là tâm tham, không gắn liền với bất cứ một khái niệm nào.
Tâm sân chỉ là tâm sân, không nên gắn nó với những ý niệm xung đột.
Tâm thiện chỉ là tâm thiện, ta không nên gắn liền nó với những khái niệm như trai tăng, dâng y hay phục vụ.
Ta buông hết mọi khái niệm Chế Định, Tục Đế để sống trọn vẹn trong đối tượng Chân Đế. Lâu ngày sẽ quen dần.
Đến lúc nào đó, hành giả nhìn đâu cũng thấy bản chất Chân Đế của Danh Sắc và chỉ khi nào thấy được tánh sanh diệt trong đối tượng Chân Đế thì ta mới không còn bận lòng với những hiện tượng Chế Định quanh mình.
Xưa nay ta thương ghét người này, vật nọ chỉ vì ta nhìn chúng qua khía cạnh Tục Đế.
Nhiều người cứ nghĩ rằng họ có thể hiểu rõ chính họ, nhưng thật ra đó chỉ là hiểu lầm.
Vì khi ta biết được chính xác từng thứ thiện ác đang có mặt thì ác pháp sẽ dần dần biến mất.
Cái mà họ nói là tự hiểu ấy chỉ dựa vào một ít kiến thức về tâm lý học, cơ thể học, sinh vật học hay triết học.
Những cái biết kiểu này hoàn toàn là Tục Đế và hầu như đối lập với lý tưởng giải thoát.
Khả năng nhận thức trong Tâm Quán Niệm Xứ rất đặc biệt: ta luôn nhận ra bản chất và hoạt động của tâm mình trên cái đã không còn nữa. Cái tâm được nhận diện đã là cái tâm thuộc về quá khứ.
Nhưng nhờ nhận ra sự thật này, hành giả sẽ từng bước sống an lạc hơn. An lạc không phải vì có được cái gì, mà nhờ buông được gánh nặng chấp thủ xưa giờ.
Công thức hay kỹ thuật của Tâm Quán Niệm Xứ nếu có thì chỉ đơn giản một câu này thôi:
Chỉ nhìn thẳng vào cái gì đang có mặt mà không chỉnh sửa, thay đổi, điều khiển, đặc biệt là đừng bao giờ có ý theo đuổi, kiếm tìm hoặc trốn chạy, đối kháng.
Bởi bản thân tâm thức của chúng ta đã luôn tự thay đổi với tốc độ nhanh nhất nên tất cả những nỗ lực vừa kể thật ra cũng chẳng làm được gì.
Cái quan trọng nhất ở đây chính là nhìn xem tự nó đang thay đổi ra sao, một cách thanh thản không trông chờ mong đợi, không đánh giá nhận xét.
Khi hiểu hạnh phúc và đau khổ, tức những gì ta thích và ghét thật ra chỉ tồn tại trong từng sát-na thì trên đời này không còn gì đáng để ta phải bận lòng nữa.
Khi có một âm thanh hay tiếng động nào đó lọt vào tai, hành giả Tâm Quán chỉ ghi nhận rằng “nhĩ thức đang có mặt”, tức tâm đang biết cảnh thinh, đừng chú ý tìm hiểu tiếng động đó là gì, từ đâu đến.
Nói vậy có nghĩa là đối tượng của Tâm Quán Niệm Xứ luôn là cảnh Chân Đế hiện tại, và do vậy tinh thần của Niệm Xứ này là sự tỉnh thức một cách vô tư với những gì đang xảy ra trước mắt.
Bất cứ một sự trông đợi nào, dầu là trông đợi cái gì tốt đẹp hơn hay mong cái gì khó chịu sớm biến mất, cũng đều là sự hướng vọng tương lai, rời xa cảnh hiện tại.
Hành giả Tuệ Quán đại kỵ niềm mong mỏi được tiến bộ. Cứ kiên trì một cách thanh thản với chánh niệm tại đây và bây giờ.
Quá khứ là cái đã không còn nữa và tương lai là cái chưa đến. Chỉ có sống hết mình với hiện tại thì ta mới hiểu được bản chất và hoạt động thật sự của chính mình và của thế giới.
Phiền não mạnh lắm, nó đã được huân tập từ vô lượng kiếp, nên muốn đối phó với nó ta phải cần đến một sức mạnh tương ứng. Sức mạnh ấy không đến từ đâu khác ngoài khả năng chánh niệm liên tục và già dặn.
Một người có sống bao lâu, có tu tập Tuệ Quán bao lâu cũng không quan trọng bằng chuyện ta có được chánh niệm hay không.
Thiền sư Khemavaṃsa Sayadaw